Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 8/2014

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Vatican II và giáo hội học của Joseph Ratzinger

§ Vũ Văn An

Ratzinger bị một số người coi như đại diện cho một nền thần học “hóa đá” trong khi nhiều người khác coi ngài như tiếng nói của phe nói sự thật và làm sự thật được biết đến trong cái toàn bộ sâu sắc của nó. Về giáo hội học của Ratzinger, linh mục Maximilian Heinrich Heim, trong cuốn Joseph Ratzinger: Life in the Church and Living Theology—Fundamentals of Ecclesiology with Reference to Lumen Gentium cho rằng: tiếp nối di sản Vatican II, nền giáo hội học này phản ảnh nền thần học hiện sinh. Bởi đối với ngài, thần học và sinh hoạt Giáo Hội đã được liên kết với nhau một cách ngoại thường, không còn thuộc lãnh vực chỉ có tính chủ quan nữa. Thực vậy, Ratzinger quan tâm tới một nền thần học không phát sinh từ hữu thể tư riêng, nhưng phát sinh từ một hiện hữu hoàn toàn hiến thân cho Giáo Hội. Nói cách khác, đó là một nền thần học “đứng ra bên ngoài” (ex-sistere), một nền thần học xuất hành nhờ đó, con người nhân bản ra khỏi chính mình và chỉ nhờ có thế họ mới tìm thấy chính mình, do đó, là một nền thần học biết tìm kiếm Thiên Chúa trong Giáo Hội và qua Giáo Hội như trung tâm tiền hữu của mình. Thành thử, nhiệm vụ của nền thần học này là “duy trì những gì là trần thế và nhân bản để chúng hoàn toàn trong sáng phản ánh thực tại thực sự nền tảng, tức thực tại thần linh, một thực tại đã tự cởi mở với chúng ta qua Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần.

Thomas Rausch SJ, tác giả cuốn Pope Benedict XVI: An Introduction to his Theological Vision, thì cho rằng nền giáo hội học của Ratzinger là một nền giáo hội học dựa vào Thánh Kinh, lấy Kitô học làm điểm tựa. Giáo Hội có nguồn gốc ở việc Chúa Giêsu tụ tập cộng đoàn của giao ước mới (Lc 22:20). Ngay từ đầu, Giáo Hội đã có một cơ cấu, chứ không phải là một đám đông ô hợp, một cơ cấu xoay quanh việc Chúa Giêsu chọn nhóm Mười Hai và Phêrô. Ratzinger nhấn mạnh rằng quyền tối thượng của Phêrô được mọi truyền thống Tân Ước nhìn nhận và ngay cả Rudolf Bultmann cũng thừa nhận rằng Phêrô được ủy nhiệm quyền lãnh đạo tối cao toàn thể Giáo Hội, dù ông cho rằng, quyền ấy chỉ thuộc một mình Phêrô mà thôi, chứ không thuộc truyền thừa Phêrô như Giáo Hội Công Giáo vốn hiểu và tin xưa nay.

Ở tại tâm điểm nền giáo hội học Ratzinger, ta thấy 2 chủ đề quan trọng sau đây. Thứ nhất, từ nền tảng, Giáo Hội có tính thánh thể. Dựa vào mô tả của Thánh Phaolô trong 1Cor 10:16-17 về việc trở thành một nhiệm thể duy nhất của Chúa Kitô nhờ chung chia thân xác Người trong Phép Thánh Thể, Ratzinger biện luận rằng Giáo Hội được thiết lập trên Phép Thánh Thể: “Giáo Hội chính là việc cử hành Phép Thánh Thể: Phép Thánh Thể là Giáo Hội; chúng không đứng cạnh nhau; mà chỉ là một và là một mà thôi”. Đối với Ratzinger, chung chia Phép Thánh Thể là phá bỏ bức tường chia rẽ của chủ quan tính, bằng cách tụ hội ta trong một hiệp thông sâu xa với Chúa Kitô và với nhau.

Từ giáo hội học thánh thể này, ta có chủ đề thứ hai, rất quan trọng với Ratzinger: Giáo Hội như một hiệp thông. Việc phục hồi quan niệm cổ xưa này vào thời điểm giữa thế kỷ 20 đã giúp di chuyển nền giáo hội học chính thức của Công Giáo từ một căn bản pháp chế và định chế qua cái nền nhiều thần học hơn xây trên việc chung chia sự sống trong Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần. Hợp nhất nhờ lời và bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, Giáo Hội là một hiệp thông, một hợp nhất mọi người, nam cũng như nữ, với Thiên Chúa Ba Ngôi theo chiều dọc và với nhau theo chiều ngang, nhờ thế, thực sự trở nên một thân thể. Giáo Hội bắt nguồn không phải từ một câu lạc bộ hay một nhóm thân hữu, mà từ một ‘dân Chúa’ cùng phát sinh từ lời Chúa và nhất là phép Thánh Thể. Như thế, “tâm điểm của giáo hội học cổ xưa nhất chính là cộng đoàn thánh thể, Giáo Hội như một hiệp thông”.

Đối với Ratzinger, không thể hiểu Giáo Hội như một “liên minh các cộng đoàn”, càng không phải là các tuyên tín khác nhau như hiện nay. Đúng hơn, Giáo Hội nguyên thuỷ là một ecclesia in ecclesiis, một Giáo Hội duy nhất hiện hữu trong nhiều giáo hội địa phương: một thân thể duy nhất của Chúa, trọn vẹn trong mọi cộng đoàn, mỗi cộng đoàn hợp nhất với vị giám mục của mình; tất cả các vị giám mục này hiệp thông với nhau và với giám mục Rôma, biểu tượng cho một giáo hội duy nhất của Thiên Chúa giữa lòng thế gian.

Ngài cực lực phê phán các mưu toan nhằm rút gọn nền giáo hội học hiệp thông vào một thứ liên hiệp các giáo hội địa phương tự trị. Một giáo hội, nếu không sống trong một hiệp thông hữu hình và có tính bí tích với các Kitô hữu khác, hay không tìm cách hiệp thông với hiệp thông hoàn cầu của ecclesia catholica (giáo hội phổ quát), thì chỉ có thể là một cộng đồng Giáo Hội, chứ không phải là giáo hội đúng nghĩa. Do đó, ngài nhấn mạnh tới việc kế thừa tông đồ, hiểu như sự kế thừa chức giám mục lịch sử. Đây là một trong các nguyên tắc giáo hội học nền tảng của ngài, là yếu tính của công giáo tính và tông truyền tính của Giáo Hội. Ngài coi đó như vấn đề chủ chốt giữa người Công Giáo và người Thệ Phản, vì cho rằng Luthêrô đã rút gọn Phép Thánh Thể vào việc “đảm bảo với lương tâm bất an của cá nhân rằng tội lỗi của họ đã được tha thứ”, hậu quả là Phong Trào Cải Cách đã đánh mất ý thức về ngữ cảnh thánh thể vốn tạo lập Giáo Hội như một hiệp thông.

Cũng không thể tách biệt Giáo Hội ra khỏi Nước Thiên Chúa, như chủ trương của các nền thần học giải phóng hay đa nguyên. Tuyên bố Dominus Jesus năm 2000 của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, công bố lúc Đức HY Ratzinger làm chủ tịch, đã nhấn mạnh tới việc không thể tách biệt nước Thiên Chúa khỏi Chúa Kitô và Giáo Hội (số 8). Từ những ngày còn nghiên cứu Thánh Bonaventura, Ratzinger luôn luôn cực lực chống lại điều bị ngài coi như mưu toan “nội tại hóa” (immanentise) cánh chung, theo kiểu nói của Eric Vögelin. Điều này có nghĩa: biến cứu độ thành một điều gì đó bên trong lịch sử chứ không bên kia lịch sử, biến Giáo Hội thành Giáo Hội của kẻ nghèo, với một sứ mệnh chủ yếu có tính xã hội chứ không dựa vào sự trung gian có tính phẩm trật.

Ngày 15 tháng 9 năm 2001, do lời mời của Đức TGM Mario Milano, Đức HY Ratzinger đã tới Aversa, Ý, đọc một bài diễn văn tại Hội Nghị Mục Vụ của giáo phận nhằm đọc lại các văn kiện của Vatican II. Nhân dịp này, ngài đề cập tới Giáo Hội học của Vatican II theo cách hiểu của ngài.

I. Giáo hội, thân thể Chúa Kitô

Giáo Hội không phải là một định chế ở bên ngoài ta mà là một điều gì đó sống trong ta. Từ trước đến nay, ta vẫn coi Giáo Hội chủ yếu như một cơ cấu hay một tổ chức, bây giờ ta mới bắt đầu cảm nghiệm chính ta là Giáo Hội. Giáo Hội không phải là một tổ chức, mà là một sinh thể (organism) của Chúa Thánh Thần, một điều gì đó sinh động, liên hệ tới chính hữu thể thẳm sâu nhất của ta. Cảm thức này tìm được biểu thức diễn tả qua ý niệm “Nhiệm Thể Chúa Kitô”, một thuật ngữ mô tả được cảm nghiệm mới và đầy giải thoát về Giáo Hội.

Trước đây, tình thế không phải vậy. Trước Thế Chiến Nhất, thời của chủ nghĩa duy tự do, người ta coi Giáo Hội Công Giáo như một tổ chức hóa đá (fossilized), ương ngạnh chống đối bất cứ thành tựu hiện đại nào. Thần học chỉ biết tập chú vào vấn đề tối thượng quyền ngõ hầu làm cho Giáo Hội chủ yếu có khuôn mặt của một tổ chức trung ương tập quyền mà người ta có bổn phận phải bênh vực không khoan nhượng nhưng thực ra đó là khuôn mặt chỉ liên hệ đến bề ngoài. Bên trong, nó được cảm nghiệm như một sức hữu cơ lớn mạnh qua nhiều thế kỷ và vẫn còn tiếp tục lớn mạnh mãi. Qua Giáo Hội, mầu nhiệm nhập thể đang hết sức sống động: Chúa Kitô vẫn tiếp tục du hành qua thời gian. Đối với câu hỏi yếu tố gì ngay từ đầu đã hiện diện và nay vẫn còn tìm thấy trong Vatican II, câu trả lời nhất định là: định nghĩa Kitô học về Giáo Hội.

Quan niệm lầm lẫn xưa nay vốn cho rằng Chúa Kitô đã tạo lập ra phẩm trật và nhờ thế đã chăm sóc Giáo Hội một cách thích đáng cho đến ngày tận cùng của lịch sử. Đối nghịch với quan niệm ấy ta thấy sự kiện: Giáo Hội là Nhiệm Thể; Chúa Kitô và hành vi tạo lập của Người không bao giờ chấm dứt, nhưng luôn luôn mới. Trong Giáo Hội, Chúa Kitô không bao giờ chỉ thuộc quá khứ, Người luôn luôn và trên hết là hiện tại và tương lai. Giáo Hội là sự hiện diện của Chúa Kitô: Người đồng thời với chúng ta và chúng ta đồng thời với Người. Giáo Hội sống nhờ điều này, nhờ sự kiện này: Chúa Kitô hiện diện trong trái tim ta và chính ở trái tim ấy, Người đã tạo lập nên Giáo Hội của Người. Bởi thế, lời đầu tiên của Giáo Hội là Chúa Kitô, chứ không phải chính Giáo Hội. Giáo Hội sẽ lành mạnh bao lâu mọi chú ý của mình đều tập trung vào Người. Vatican II đã tài tình đặt quan niệm này vào đỉnh cao các thảo luận của mình; văn kiện nền tảng về Giáo Hội bắt đầu bằng các chữ: Lumen gentium cum sit Christus: “vì Chúa Kitô là Ánh Sáng Thế Gian… nên Giáo Hội là tấm gương phản chiếu vinh quang của Người; Giáo Hội phản chiếu ánh huy hoàng rực rỡ của Người”. Muốn hiểu Vatican II cho đúng đắn, ta phải luôn trở lại với câu mở đầu này…

Thứ đến, với khởi điểm trên, ta phải xác định cả đặc điểm bên trong lẫn bản chất cộng đoàn của Giáo Hội. Giáo Hội lớn lên từ bên trong và hướng ra bên ngoài, chứ không ngược lại. Trên hết, Giáo Hội là dấu chỉ sự hiệp thông thân mật nhất với Chúa Kitô. Giáo Hội được đào tạo trong đời sống cầu nguyện, trong các bí tích và trong các thái độ nền tảng của tin, cậy và mến. Bởi thế, có ai hỏi: tôi phải làm gì để trở thành Giáo Hội và lớn mạnh như Giáo Hội, thì câu trả lời hẳn phải là: bạn phải trở thành người sống đức tin, đức cậy và đức mến. Điều xây dựng nên Giáo Hội là cầu nguyện và sự hiệp thông các bí tích; trong chúng, lời cầu nguyện của Giáo Hội tới gặp gỡ ta.

Giáo Hội lớn lên từ bên trong: đấy là ý nghĩa của kiểu nói “Thân Thể Chúa Kitô”. Thuật ngữ này còn ngụ ý hơn thế nữa: Chúa Kitô đã tạo nên một thân thể cho chính Người. Nếu tôi muốn tìm ra Người và biến Người thành của tôi, thì chắc chắn tôi được kêu mời trở thành chi thể khiêm hạ, đầy đủ và trọn vẹn của Thân Thể Người, và nhờ trở thành một trong các chi thể của Người như thế, tôi trở thành một bộ phận của Người trong thế gian, và tôi sẽ như thế đời đời mãi mãi.

Bản chất cộng đồng của Giáo Hội nhất thiết bao gồm đặc điểm “chúng ta”. Giáo Hội không phải là một nơi nào đó tách biệt khỏi chúng ta, chính chúng ta lập thành Giáo Hội. Không ai có thể nói “tôi là Giáo Hội”, nhưng mỗi người chúng ta đều có thể và phải nói “chúng ta là Giáo Hội”. “Chúng ta” này không đại diện cho một nhóm cô lập, nhưng một nhóm hiện hữu trong toàn bộ cộng đồng của mọi chi thể Chúa Kitô, bất kể là sống hay đã qua đời. Bởi thế nhóm này được quyền nói: “chúng ta là Giáo Hội”. Trong “chúng tôi” rộng mở này, mọi biên giới xã hội và chính trị đều bị phá vỡ, kể cả biên giới giữa trời và đất cũng thế. Chúng ta là Giáo Hội. Điều này phát sinh ra việc đồng trách nhiệm và cả khả thể hợp tác có tính bản vị. Từ cái hiểu này, ta có quyền phê phán, nhưng trên hết phải là tự phê phán chính mình.

Sau cùng, ý niệm phát triển và do đó, ý niệm năng động tính lịch sử (historical dynamic) của Giáo Hội cũng thuộc chủ đề này. (Đó là) một cơ thể luôn đồng nhất với chính mình trong suốt dòng lịch sử nhờ biết không ngừng tự canh tân. Đối với vị hồng y vĩ đại Newman của nước Anh, ý niệm phát triển là cây cầu đích thực và thích đáng dẫn ngài trở về với Đạo Công Giáo. Tuy nhiên, ý niệm này là một trong khá nhiều ý niệm căn bản của Đạo Công Giáo chưa được thăm dò một cách thoả đáng. Chính Vatican II đã đưa ra những phát biểu long trọng đầu tiên về ý niệm này trong một văn kiện huấn quyền. Nhưng bất cứ ai chỉ muốn giải thích Thánh Kinh hay các Giáo Phụ theo nghĩa đen mà thôi, là giam hãm Chúa Kitô vào “ngày hôm qua”. Hậu quả hoặc là một đức tin hoàn toàn khô cằn, chẳng có gì để nói với thế giới ngày nay, hoặc là một ngạo mạn tiếm quyền lược bỏ 2,000 năm lịch sử, liệng những năm này vào sọt rác lầm lẫn, và tự vẽ ra một Kitô Giáo chẳng có gì liên hệ tới Thánh Kinh hay Chúa Kitô, một bày vẽ giả tạo, không một chút nhất quán nào. Việc đồng nhất chân thực đối với buổi khởi đầu trong Chúa Kitô chỉ có thể hiện hữu tại những nơi có sự liên tục sống động, một liên tục sống động nhằm khai triển buổi khởi đầu và duy trì buổi khởi đầu ấy bằng chính sự khai triển này.

Một giáo hội học Thánh Thể

Các suy niệm về Nhiệm Thể Chúa Kitô đánh dấu giai đoạn thứ nhất của việc Giáo Hội tự tái khám phá ra mình. Phát xuất từ Thánh Phaolô, ý niệm này đặt lên hàng đầu sự hiện diện của Chúa Kitô và năng động tính hết sức sinh động nơi Người và nơi ta. Các nghiên cứu sau đó đã dẫn tới một ý thức mới mẻ. Nhưng trên hết, nhà thần học vĩ đại người Pháp, Henri de Lubac, là người đầu tiên đã làm sáng tỏ điều này: từ khởi đầu, hạn từ “corpus mysticum” (nhiệm thể) đã có ý ám chỉ Phép Thánh Thể. Vì đối với Thánh Phaolô và các Giáo Phụ, ý niệm coi Giáo Hội như Nhiệm Thể Chúa Kitô là ý niệm gắn bó chặt chẽ với ý niệm Phép Thánh Thể, trong đó, Chúa Kitô hiện diện bằng thân xác và ban Mình Người cho chúng ta làm lương thực. Giáo Hội học Thánh Thể đã từ đó phát sinh ra.

Ngày nay, nền giáo hội học nói trên được hiểu theo mấy điểm nền tảng sau đây. Thứ nhất, có thể định nghĩa Bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu như biến cố đã lập ra Giáo Hội. Chúa Giêsu ban cho các môn đệ của Người nền Phụng vụ Sự Chết và Phục Sinh, nhưng đồng thời, Người cũng ban cho họ Lễ Hội Sự Sống. Trong Bữa Tiệc Ly, Người lặp lại giao ước Sinai, hay đúng hơn điều tại Sinai chỉ là dấu chỉ đơn giản hay loại hình đầu tiên thì nay đã trở thành một thực tại đầy đủ: đó là sự hiệp thông bằng máu và sự sống giữa Thiên Chúa và con người. Bữa Tiệc Ly rõ ràng đã dự ứng Thánh Giá và Phục Sinh và tiền giả thiết chúng, nếu không nó chỉ là một cử chỉ trống rỗng. Chính vì thế, các Giáo Phụ đã dùng một hình ảnh đẹp đẽ để nói rằng Giáo Hội được sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thủng của Chúa, từ đó, máu cùng nước tuôn chẩy. Khi nói: Bữa Tiệc Ly là khởi đầu của Giáo Hội, ta cũng muốn nói cùng một ý nghĩa ấy nhưng theo một cái nhìn khác. Công thức này có nghĩa: Phép Thánh Thể liên kết mọi người lại với nhau, không phải chỉ với nhau mà thôi, mà còn với Chúa Kitô nữa; bằng cách này, Phép ấy đã biến họ thành “Giáo Hội”. Đồng thời, công thức này cũng mô tả sự cấu thành ra Giáo Hội: Giáo Hội hiện hữu trong các cộng đoàn Thánh Thể. Thánh Lễ của Giáo Hội cấu thành ra (constitution) Giáo Hội, vì trong yếu tính, Giáo Hội chính là Thánh Lễ (missa = được sai đi), một phục vụ Thiên Chúa, và do đó, một phục vụ con người và một phục vụ để biến đổi thế giới.

Thánh Lễ là mô thức (form) của Giáo Hội, nghĩa là nhờ Thánh Lễ, Giáo Hội khai triển được toàn diện mối liên hệ khởi thủy vốn chưa bao giờ hiện hữu ở bất cứ nơi nào khác, mối liên hệ của đa phức (multiplicity) và hợp nhất. Trong mỗi cử hành Thánh Thể, Chúa đều thực sự hiện diện. Người đã sống lại và không còn chết nữa. Người không thể bị phân mảnh nữa. Người luôn tự hiến hoàn toàn và trọn vẹn. Chính vì thế, Công Đồng tuyên bố rằng: “Giáo Hội Chúa Kitô này thực sự hiện diện trong mọi cộng đoàn tín hữu địa phương hợp pháp. Những cộng đoàn này, vì hợp nhất với các chủ chăn, nên trong Tân Ước cũng được gọi là Giáo Hội. Thực vậy, trong phần đất mình, mỗi cộng đoàn là Dân Tộc Mới được Thiên Chúa kêu gọi trong Thánh Thần và trong sự viên mãn đầy tràn (xem 1Tx 1:5)… Chúa Kitô vẫn hiện diện trong các cộng đoàn, dù nhỏ bé nghèo hèn hay tản mác khắp nơi này và nhờ thần lực của Người, các cộng đoàn này được hợp quần thành Giáo Hội hiệp thành duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền” (Lumen Gentium, số 26). Điều này có nghĩa: giáo hội học về các giáo hội địa phương phát sinh theo qui củ giáo hội học Thánh Thể. Đây là nét đặc trưng của Vatican II nhằm trình bày nền tảng nội tại và bí tích của học lý hợp đoàn tính (collegiality) sẽ nói sau này.

Muốn hiểu cho đúng giáo huấn của Vatican II, ta cần lược qua thái độ của người Chính Thống và người Thệ Phản. Trong thần học Chính Thống, ý niệm giáo hội học Thánh Thể được các nhà thần học sống xa xứ của Nga đưa ra nhằm chống lại điều họ gọi là chủ nghĩa tập quyền của Rôma. Họ chủ trương rằng vì có được Chúa Kitô trọn vẹn, nên mọi cộng đoàn Thánh Thể, tự nó, đã là Giáo Hội rồi. Thành thử, sự hợp nhất bề ngoài với các cộng đoàn khác không phải là yếu cố cấu thành ra Giáo Hội. Và do đó, việc hợp nhất với Rôma không phải là yếu tố cấu thành của Giáo Hội. Dĩ nhiên, một hợp nhất như thế là điều lý tưởng vì nó nói lên tính viên mãn của Chúa Kitô đối với thế giới bên ngoài, nhưng nó không thuộc yếu tính vì đối với toàn bộ tính (totality) của Chúa Kitô, nó chẳng thêm được gì. Cái hiểu của người Thệ Phản cũng theo lối này. Luthêrô không thừa nhận Thần Trí Chúa Kitô trong Giáo Hội phổ quát; thậm chí, ông còn cho rằng Giáo Hội là một khí cụ phản Chúa Kitô. Ông cũng không coi các giáo hội Thệ Phản được nhà nước công nhận là giáo hội theo nghĩa thích đáng của từ ngữ. Vì chúng thực sự chỉ là các thực tế xã hội và chính trị cần thiết vì một số mục đích đặc thù nào đó và hoàn toàn lệ thuộc quyền lực chính trị, không hơn không kém. Theo ông, Giáo Hội hiện hữu nơi cộng đoàn. Chỉ có các cộng đoàn đang lắng nghe Lời Chúa ở một nơi chốn đặc thù mới là Giáo Hội. Ông thay thế hạn từ “Giáo Hội” bằng hạn từ “cộng đoàn” (Gemeinde). Giáo Hội trở thành một ý niệm tiêu cực.

Trở lại với bản văn của Vatican II, ta thấy một số sắc thái sau. Bản văn không nói “Giáo Hội hiện diện trọn vẹn trong từng cộng đoàn cử hành Thánh Thể”, nhưng đúng hơn: “Giáo Hội Chúa Kitô này thực sự hiện diện trong mọi cộng đoàn tín hữu địa phương hợp pháp. Những cộng đoàn này, vì hợp nhất với các chủ chăn, nên được gọi là Giáo Hội”. Ở đây, ta thấy có hai yếu tố rất quan trọng: Muốn là giáo hội, cộng đoàn phải “hợp pháp”; mà cộng đoàn chỉ hợp pháp khi “hợp nhất với các chủ chăn”. Điều này, trước nhất, có nghĩa: không ai tự mình lập thành một giáo hội. Một nhóm cũng không thể tụ họp nhau, đọc Tân Ước rồi tuyên bố: “Lúc này đây, chúng tôi là Giáo Hội vì Chúa hiện diện ở bất cứ chỗ nào có hai hay ba người tụ họp nhau nhân danh Người”. Yếu tố “tiếp nhận” thuộc về Giáo Hội một cách yếu tính, giống hệt như đức tin phát xuất từ “việc nghe”, chứ không là kết quả của một quyết định hay suy tư riêng của ta. Đức tin là một hội tụ với một điều gì đó mà tôi không thể tưởng tượng hay tự mình sản xuất ra được; đức tin phải tới để gặp gỡ tôi. Ta gọi sự gặp gỡ này là “bí tích”. Mô thức nền tảng của bí tích là được tiếp nhận chứ không phải tự thực hiện cho chính mình. Không ai có thể tự rửa tội cho mình. Không ai có thể tự phong chức cho mình. Không ai có thể tự tha thứ tội lỗi của mình. Sự thống hối hoàn hảo không thể chỉ là điều ở bên trong: tự yếu tính, nó đòi một hình thức gặp gỡ nào đó của bí tích. Cả điều này cũng là kết quả của cấu trúc gặp gỡ Chúa Kitô rất nền tảng của bí tích. Chính vì thế, việc tự rước lễ không phải chỉ là một vi phạm các điều khoản bên ngoài của Giáo Luật, mà còn là một hành vi tấn công đối với bản chất nội tại nhất của bí tích. Việc vị linh mục tự ban bí tích này, và chỉ bí tích này mà thôi, cho chính mình là một “mysterium tremendum” (mầu nhiệm đáng sợ): trong đó, ngài hành động “in persona Christi” (bằng con người Chúa Kitô); cùng một lúc, ngài vừa đại diện cho Chúa Kitô, vừa vẫn là người tội lỗi hoàn toàn sống nhờ tiếp nhận Hồng Phúc của Người.

Người ta không thể làm ra Giáo Hội mà chỉ tiếp nhận Giáo Hội mà thôi; họ chỉ tiếp nhận Giáo Hội tại nơi Giáo Hội vốn đã là Giáo Hội, nơi Giáo Hội thực sự hiện diện: tức cộng đoàn bí tích của Nhiệm Thể Chúa Kitô đang kinh qua dòng lịch sử. Ta sẽ dễ dàng hiểu được ý niệm khó hiểu này nếu ta chịu nói thêm điều này: “các cộng đoàn hợp lệ”. Chúa Kitô là ở khắp mọi nơi một cách trọn vẹn. Đây là tuyên bố quan trọng đầu tiên của Vatican II hòa hợp được với các anh em Chính Thống. Đồng thời, Chúa Kitô là một ở khắp mọi nơi, nên tôi chỉ có thể chiếm hữu một Chúa duy nhất trong sự hợp nhất mà chính Người là, trong sự hợp nhất của tất cả những ai vốn là Nhiệm Thể Người và những ai nhờ Thánh Thể phải mỗi ngày mỗi trở nên hợp nhất hơn. Bởi đó, sự hợp nhất hỗ tương của tất cả các cộng đoàn cử hành Thánh Thể không phải là một điều gì từ bên ngoài thêm vào cho giáo hội học Thánh Thể, mà đúng hơn là chính điều kiện bên trong của nó: Đấng Duy Nhất ở trong sự hợp nhất ở đây. Chính vì thế, Vatican II nhắc ta nhớ trách nhiệm thích đáng của các cộng đoàn, nhưng loại bỏ tính tự mãn (self-sufficiency). Công đồng khai triển một giáo hội học trong đó việc làm Kitô hữu, tức việc hiệp thông với tín hữu khắp nơi và mọi thời, không phải đơn thuần là một yếu tố bên ngoài của mô hình tổ chức, mà là một ơn thánh phát sinh từ bên trong nhưng đồng thời là dấu chỉ hữu hình của ơn thánh Chúa, Đấng chi có Người mới tạo được hợp nhất bằng cách phá bỏ muôn vàn biên giới không thể nào đếm được.

(Còn một kỳ)

Vũ Văn An

Đọc nhiều nhất Bản in 11.12.2012. 18:58