Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 8/2014

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Tông Huấn Verbum Domini - Phần 1A

§ Phaolô Phạm Xuân Khôi

TÔNG HUẤN HẬU THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC
VERBUM DOMINI
CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI
VỀ LỜI CHÚA TRONG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ HỘI THÁNH

* * *

LỜI CHÚA

“Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời,
Và Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa,
Và Ngôi Lời là Thiên Chúa…
Và Ngôi Lời đã trở thành nhục thể”

(Ga 1:11,14)

Phần 1 - A: THIÊN CHÚA ĐẤNG LÊN TIẾNG

***

Thiên Chúa trong đối thoại

6. Sự mới mẻ của Mặc Khải trong Thánh Kinh hệ tại ở sự kiện là chúng ta biết đến Thiên Chúa qua cuộc đối thoại mà Ngài muốn có với chúng ta.[14] Hiến Chế Tín Lý Dei Verbum đã bày tỏ điều này qua việc thừa nhận rằng Thiên Chúa vô hình "từ sự sung mãn của tình yêu Ngài, nói với con người như những bạn hữu của Ngài, và sống giữa họ, để mời gọi và đón nhận họ vào cùng sống với Ngài",[15] Tuy nhiên, chúng ta sẽ chưa nắm trọn được sứ điệp của Lời Mở Đầu Tin Mừng Thánh Gioan, nếu chúng ta ngừng lại ở sự kiện Thiên Chúa đi vào sự hiệp thông yêu thương với chúng ta. Thực ra, Lời Chúa, nhờ Người "mà muôn vật đã được tạo thành" (Ga 1:3) và là Đấng "đã trở thành nhục thể" (Ga 1:14), cũng là Ngôi Lời, Đấng có “từ nguyên thủy” (Ga 1:1). Nếu chúng ta nhận ra rằng đây là một ám chỉ về lúc khởi đầu của sách Sáng Thế Ký (x. St 1:1), chúng ta thấy mình phải đối diện với một sự khởi đầu có tính tuyệt đối, nói cho chúng ta biết về đời sống nội tại của Thiên Chúa. Lời Mở Đầu của Tin Mừng Thánh Gioan giúp chúng ta nhận ra rằng Ngôi Lời (Logos) thật sự vĩnh cửu, và chính là Thiên Chúa từ muôn đời. Thiên Chúa không bao giờ mà không có Ngôi Lời của Ngài. Ngôi Lời có trước việc tạo dựng. Do đó tại trung tâm của đời sống Thiên Chúa có sự hiệp thông, có món quà tuyệt đối. "Thiên Chúa là tình yêu" (1 Ga 4:16), như cùng một Tông Đồ này đã cho chúng ta biết ở những nơi khác, vì vậy biểu lộ "hình ảnh Thiên Chúa của Kitô giáo cũng như từ đó hình ảnh nhân loại và số phận của nó".[16] Thiên Chúa tự tỏ Mình ra cho chúng ta như một mầu nhiệm tình yêu vô biên mà trong đó Chúa Cha muôn đời thốt ra Lời của Ngài trong Chúa Thánh Thần. Vì thế, Ngôi Lời, Đấng ở cùng Thiên Chúa ngay từ ban đầu và là Thiên Chúa, mặc khải chính Thiên Chúa trong cuộc đối thoại về tình yêu giữa các ngôi Thiên Chúa, và mời gọi chúng ta dự phần vào tình yêu ấy. Được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, Đấng là tình yêu, như vậy chúng ta chỉ có thể hiểu được chính mình trong việc chấp nhận Lời Chúa và ngoan ngoãn làm theo tác động của Chúa Thánh Thần. Trong ánh sáng mặc khải của Lời Chúa, các bí ẩn về thân phận con người được sáng tỏ một cách dứt khoát.

Loại Suy Lời Chúa

7. Trong ánh sáng của những nhận xét này, phát sinh từ việc suy niệm về mầu nhiệm Kitô giáo được diễn tả trong Lời Mở Đầu của Tin Mừng Thánh Gioan, giờ đây chúng ta cần xét đến điều mà các Nghị Phụ đã khẳng định về những cách thế khác nhau mà chúng ta có thể dùng để diễn đạt “Lời Chúa”. Các ngài thật đúng khi nói đến Lời Chúa như một tấu khúc, một Lời duy nhất được diễn tả bằng nhiều cách: "một bài thánh ca đa âm".[17] Các Nghị Phụ đã vạch ra rằng ngôn ngữ loài người hoạt động một cách loại suy khi nói về Lời Chúa. Trên thực tế, cách diễn tả này, trong khi nói về việc tự truyền thông của Thiên Chúa, cũng mang một số ý nghĩa khác nhau cần phải được xem xét và nối kết với nhau một cách cẩn thận, từ cả quan điểm suy tư thần học lẫn thực hành mục vụ. Như Lời Mở Đầu của Tin Mừng Thánh Gioan cho chúng ta thấy rõ ràng, trước hết từ Logos nói về Ngôi Lời vĩnh cửu, Con Một, được sinh ra bởi Đức Chúa Cha trước muôn đời và đồng bản thể với Ngài: Ngôi Lời đã ở cùng Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Nhưng Thánh Gioan cho chúng ta biết rằng cũng chính Ngôi Lời này đã "trở thành nhục thể" (Ga 1:14), vì thế Đức Chúa Giêsu Kitô, được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria, thực sự là Ngôi Lời của Thiên Chúa đã trở nên đồng bản thể với chúng ta. Do đó, "Lời Chúa" ở đây nói về con người Đức Chúa Giêsu Kitô, Chúa Con muôn thủa của Chúa Cha, đã làm người.

Trong khi biến cố Đức Kitô là trung tâm của Mặc Khải của Thiên Chúa, chúng ta cũng cần phải ý thức rằng chính tạo vật, liber naturae (cuốn sách thiên nhiên), là một phần thiết yếu của bản hòa tấu có nhiều âm điệu này mà trong đó một Lời duy nhất được nói lên. Chúng ta cũng tuyên xưng đức tin của mình rằng Thiên Chúa đã nói Lời của Ngài trong lịch sử cứu độ, Ngài đã làm cho loài người nghe được tiếng nói của Ngài; nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần “Ngài đã dùng các tiên tri mà phán dạy”.[18] Như thế, Lời Chúa được phán ra trong suốt lịch sử cứu độ, và đầy đủ nhất trong mầu nhiệm nhập thể, cái chết, và việc sống lại của Con Thiên Chúa. Sau đó, Lời Chúa cũng chính là lời rao giảng của các Tông Đồ khi các ngài tuân theo mệnh lệnh của Chúa Giêsu Phục Sinh: “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo." (Mc 16:15). Như vậy, Lời Chúa được truyền lại trong Truyền Thống sống động của Hội Thánh. Sau cùng Lời Chúa, được Thiên Chúa chứng thực và linh hứng, là Thánh Kinh, Cựu Ước và Tân Ước. Tất cả các sách này giúp chúng ta hiểu rằng tại sao, trong Hội Thánh, dù chúng ta rất tôn kính các Sách Thánh, nhưng đức tin Kitô giáo lại không phải là một “tôn giáo của cuốn sách”: Kitô giáo là “tôn giáo của Lời Chúa”, không phải “của một lời bằng văn tự và lặng câm, nhưng của Lời nhập thể và sống động”,[19] Do đó Thánh Kinh phải được công bố, nghe, đọc, đón nhận và được cảm nghiệm như Lời Chúa, trong dòng Truyền Thống các Tông Đồ, mà từ đó Thánh Kinh không thể xa rời được.[20]

Như các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đã xác nhận, chúng ta thật sự đối diện với việc sử dụng phép loại suy để diễn tả “Lời Chúa”, và phải ý thức về điều này. Các tín hữu cần phải được giúp đỡ nhiều hơn để hiểu những ý nghĩa khác nhau của cách diễn tả ấy, và cả ý nghĩa nhất thể của nó. Theo quan điểm thần học cũng thế, cần phải nghiên cứu thêm về cách thức những ý nghĩa khác nhau của cách diễn tả này liên hệ với nhau, để sự thống nhất của kế hoạch của Thiên Chúa và, trong đó, tính trọng tâm của con người Đức Kitô, có thể chiếu tỏa ra một cách rõ ràng hơn. [21]

Chiều kích vũ trụ của Lời Chúa

8. Khi xét đến ý nghĩa căn bản của Lời Chúa như ám chỉ Ngôi Lời hằng hữu của Thiên Chúa làm người, Đấng Cứu Độ và Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại,[22] và lắng nghe Lời này, chúng ta được hướng dẫn bởi Mặc Khải trong Thánh Kinh để thấy rằng Lời Chúa là nền tảng của mọi thực tại. Lời Mở Đầu của Tin Mừng Thánh Gioan nói về Ngôi Lời của Thiên Chúa, rằng “Nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, và không có Người, thì không có gì được tạo thành.” (Ga 1:3); và trong Thư gửi tín hữu Côlôxê, Đức Kitô được gọi là, “trưởng tử của mọi tạo vật” (1:15), rằng “trong Người, muôn vật được tạo thành” (1:16). Tác giả của Thư gửi tín hữu Do Thái cũng nói tương tự rằng “Nhờ đức tin, chúng ta hiểu rằng thế gian đã được thành hình bởi Lời của Thiên Chúa; cho nên những gì ta nhìn thấy được tạo nên từ những vật vô hình” (11:3).

Đối với chúng ta, lời công bố này là một lời về tự do. Thánh Kinh cho chúng ta biết rằng mọi sự hiện hữu không xuầt hiện cách ngẫu nhiên nhưng do Thánh Ý Thiên Chúa và là một phần của kế hoạch của Ngài, mà tâm điểm của nó là lời mời gọi thông phần vào sự sống của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Tạo vật được sinh ra trong Ngôi Lời và mang dấu vết không thể xóa được của Lý Trí sáng tạo là điều xếp đặt và chỉ đạo nó. Với niềm tin chắc chắn đầy vui mừng Thánh Vịnh lên tiếng hát: “Lời của Chúa tạo ra các tầng trời, hơi thở Ngài làm thành muôn tinh tú” (Tv 33:6), và “Khi Ngài phán, thì chúng được dựng nên, khi Ngài ra lệnh, thì chúng được tạo thành” (Tv 33:9). Tất cả thực thể bày tỏ mầu nhiệm này: “Các tầng trời cao rao vinh quang Thiên Chúa, cả bầu trời tán tụng các việc của tay Ngài” (Tv 19:01). Như thế chính Thánh Thánh Kinh mời gọi chúng ta nhìn nhận Đấng Tạo Hóa qua việc chiêm ngắm các tạo vật của Ngài (x. Kn 13:05; Rom 1:19-20). Truyền thống tư tưởng Kitô giáo đã khai triển yếu tố chính yếu này về tấu khúc của Lời Chúa, thí dụ như khi Thánh Bônaventura, trong truyền thống vĩ đại của các Giáo Phụ Hy Lạp thấy tất cả mọi khả năng sáng tạo hiện diện trong Ngôi Lời, [23] ngài đã nói rằng “mỗi sinh vật đều là một lời của Thiên Chúa, vì nó công bố Thiên Chúa”.[24] Hiến Chế Tín Lý Dei Verbum đã tổng hợp những dữ kiện này khi nói rằng “Thiên Chúa, Đấng tạo thành và bảo tồn tất cả mọi sự bằng Lời Ngài (x. Ga 1:3), cung cấp liên tục bằng chứng về Mình trong những thực thể được tạo thành”.[25]

Việc tạo dựng loài người

9. Như thế, thực thể được sinh ra từ Ngôi Lời, như creatura Verbi [tạo vật của Ngôi Lời], và tất cả được mời gọi để phục vụ Ngôi Lời. Việc tạo dựng là môi trường mà trong đó toàn bộ lịch sử tình yêu giữa Thiên Chúa và tạo vật của Ngài phát triển; vì vậy việc cứu độ của con người là lý do cơ bản cho tất cả mọi sự. Nhìn ngắm vũ trụ theo quan điểm lịch sử cứu độ, chúng ta nhận ra địa vị duy nhất và phi thường mà con người chiếm hữu trong việc tạo dựng: “Thiên Chúa dựng nên con người theo hình ảnh của Ngài; Ngài dựng nên con người giống hình ảnh Thiên Chúa; Ngài dựng nên họ: người nam và người nữ” (St 1:27). Điều này giúp chúng ta nhìn nhận cách đầy đủ những món quà quý giá chúng ta lãnh nhận từ Đấng Tạo Hóa: giá trị của thân xác, món quà lý trí, tự do và lương tâm. Ở đây cũng thế, chúng ta khám phá những gì mà truyền thống triết học gọi là “luật tự nhiên”,[26] Thực ra, “mọi người có thức và trách nhiệm đều có kinh nghiệm về lời mời gọi từ nội tâm để làm điều lành”[27] và vì thế tránh điều dữ. Như Thánh Thomas Aquinô nói rằng, nguyên tắc này là nền tảng của tất cả các điều luật khác của luật tự nhiên.[28] Việc lắng nghe Lời Chúa dẫn chúng ta trước hết và trên hết đến giá trị cần thiết để sống theo Luật “được viết trong trái tim con người” này (x. Rom 2:15; 7:23).[29] Sau đó, Đức Chúa Giêsu Kitô đã ban cho loài người Luật mới, Luật Tin Mừng, là luật tiếp nối và làm tròn luật tự nhiên, giải phóng chúng ta khỏi luật của tội lỗi, mà một hậu quả của nó, như Thánh Phaolô nói: “Tôi muốn làm điều tốt, nhưng tôi không thể làm được” (Rom 7:18). Cũng tương tự, [Luật mới này] cho phép con người, nhờ ân sủng, được dự phần vào đời sống của Thiên Chúa và thắng vượt tính ích kỷ của mình.[30]

Chủ nghĩa hiện thực của Lời

10. Những ai biết Lời Chúa cũng biết đầy đủ ý nghĩa của mỗi tạo vật. Vì nếu tất cả mọi sự "tồn tại" trong Đấng có "trước mọi loài" (x. Col 1:17), như thế những ai xây dựng đời mình trên Lời Ngài là xây dựng một cách thật sự vững chắc và lâu dài. Lời Chúa làm cho chúng ta thay đổi quan niệm của mình về chủ nghĩa hiện thực: người hiện thực là người nhận thấy trong Lời Chúa nền tảng của tất cả mọi sự.[31] Chủ nghĩa hiện thực này đặc biệt cần thiết trong thời đại chúng ta, khi nhiều điều mà chúng ta đặt niềm tin vào để xây dựng cuộc đời của mình, những điều mà chúng ta đang bị cám dỗ để đặt hy vọng vào, bị chứng tỏ là phù du. Của cải, lạc thú và quyền hành sớm hay muộn cũng sẽ tỏ ra bất lực trong việc thỏa mãn những khao khát thầm kín nhất của lòng người. Trong việc xây dựng đời sống của mình, chúng ta cần những nền móng vững chắc, là điều sẽ tồn tại trong khi những điều mà loài ngưởi cho là chắc chắn sẽ bị xụp đổ. Quả thật, vì “Muôn lạy Chúa, lời Ngài bền vững đến muôn đời, trên cõi trời cao” và lòng thành tín của Chúa “tồn tại qua bao thế hệ” (Tv 119:89-90), ai xây dựng trên Lời này là xây dựng căn nhà cuộc đời mình trên đá (x. Mt 7:24). Chớ gì tâm hồn chúng ta có thể thưa cùng Chúa mỗi ngày: “Chúa là nơi con ẩn náu, là thuẫn đỡ, con vẫn trông cậy ở Lời Ngài” (Tv 119:114), và, như Thánh Phêrô, chúng ta có thể phó thác cho Chúa Giêsu trong những việc làm hàng ngày của mình: “Vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới” (Lc 5:5).

Kitô học của Lời

11. Từ cái nhìn thoáng qua đến toàn thể thực tại như tác phẩm của Thiên Chúa Ba Ngôi qua Lời Chúa, chúng ta có thể hiểu được câu văn của tác giả Thư gửi tín hữu Do Thái: “Nhiều phần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ, nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài” (1:1-2). Đẹp thay khi thấy toàn bộ Cựu Ước đã biểu lộ cho chúng ta như một lịch sử trong đó Thiên Chúa truyền thông Lời Ngài: quả thật, “nhờ giao ước với ông Abraham (x. St 15:18) và với dân Israel qua ông Môsê (x. Xh 24:8) Ngài đã dùng lời nói, việc làm mà mặc khải cho dân Ngài đã tuyển chọn để họ biết Ngài là Thiên Chúa duy nhất, hằng sống và chân thật, để Israel cảm nghiệm được đâu là đường lối Thiên Chúa đối xử với loài người, và để nhờ chính Ngài phán dạy qua miệng các ngôn sứ, dần dần họ thấu hiểu các đường lối ấy cách đầy đủ và rõ ràng hơn, để rồi đem phổ biến rộng rãi giữa các dân tộc” (x. Tv 21:28-29; 95:1-3; Is 2:1-4; Gr 3:17)”.[32]

Việc “hạ mình” này của Thiên Chúa được thực hiện cách trổi vượt trong việc nhập thể của Ngôi Lời. Lời vĩnh cửu, được diễn đạt trong việc tạo dựng và truyền thông trong lịch sử cứu độ, trong Đức Kitô làm người, "sinh bởi người nữ" (Gl 4:4). Ở đây, Lời tìm được cách diễn tả không chỉ trong đàm luận, các khái niệm hay quy luật. Ở đây chúng ta được đặt trước chính con người của Chúa Giêsu. Lịch sử duy nhất và độc đáo của Người rõ ràng là Lời mà Thiên Chúa nói với nhân loại. Như thế, chúng ta có thể thấy tại sao “làm Kitô hữu không phải là kết quả của một sự lựa chọn đạo đức hay một ý tưởng cao vời, nhưng là gặp gỡ một sự kiện, một con người, la điều mang đến cho đời sống một chân trời mới và một hướng đi dứt khoát”.[33] Việc không ngừng đổi mới cuộc gặp gỡ này và ý thức ấy đổ đầy tâm hồn các tín hữu sự kinh ngạc về sáng kiến của Thiên Chúa, mà con người, với lý trí và óc tưởng tượng của mình, không bao giờ có thể mơ ước. Chúng tôi đang nói về một sự mới lạ chưa từng thấy mà con người không thể tưởng tượng được: “Ngôi Lời đã trở thành nhục thể và ở giữa chúng ta” (Ga 1:14a). Những lời này không phải là lời nói bóng gió, chúng ám chỉ một kinh nghiệm sống! Thánh Gioan, một nhân chứng, đã nói với chúng ta như thế: “Chúng tôi đã thấy vinh quang của Người, như vinh quang của Con Một Chúa Cha, đầy ân sủng và chân lý”. (Ga 1:14b). Đức tin tông truyền làm chứng rằng Lời vĩnh cửu trở nên một người trong chúng ta. Lời Chúa thực sự được diễn tả bằng những lời của loài người.

12. Truyền thống giáo phụ và trung cổ, trong khi chiêm niệm “Kitô học của Lời” này, đã sử dụng một cách diễn tả gợi cảm: Lời đã được “viết tắt”.[34] “Các Giáo Phụ đã tìm thấy trong bản dịch Cựu Ước tiếng Hy Lạp của các ngài một đoạn văn trích từ sách ngôn sứ Isaia mà Thánh Phaolô cũng trích dẫn để cho chúng ta thấy những cách thức mới của Thiên Chúa đã được báo trước trong Cựu Ước như thế nào. Trong đó, chúng ta đọc: ‘Chúa đã làm cho Lời Ngài ngắn lại, Ngài đã viết tắt nó’ (Is 10:23; Rom 9:28).... Chính Chúa Con là Ngôi Lời, Logos: Lời muôn thủa đã trở thành nhỏ bé - nhỏ đủ để vừa một máng cỏ. Người trở thành một trẻ nhỏ, để chúng ta có thể hiểu được Ngôi Lời".[35] Giờ đây Lời không còn chỉ đơn thuần nghe được, không những chỉ có tiếng nói, mà còn có một dung nhan[36]

Khi đọc các tường thuật trong Tin Mừng, chúng ta thấy nhân tính của Chúa Giêsu xuất hiện với tất cả sự độc đáo của nó trong tương quan với Lời Chúa như thế nào. Trong nhân tính hoàn hảo của mình, Người luôn luôn làm theo thánh ý Chúa Cha. Chúa Giêsu nghe tiếng nói của mình và vâng lời tiếng nói ấy bằng cả con người, Người biết Chúa Cha và Người giữ lời Ngài (x. Ga 8:55), Người nói với chúng ta về những gì Chúa Cha đã nói với Người (x. Ga 12:50), “Con đã ban cho họ lời mà Cha đã ban cho Con” (Ga 17:8). Như vậy Chúa Giêsu cho thấy rằng Người là Ngôi Lời của Thiên Chúa được ban cho chúng ta, nhưng đồng thời cũng là Adam mới, người nam đích thực, người không bao giờ làm theo ý mình nhưng theo ý Chúa Cha. Người “càng ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta"(Lc 2:52). Trong một cách hoàn hảo, Người nghe, hiện thân và truyền đạt cho chúng ta Lời Chúa (x. Lc 5:1).

Cuối cùng sứ mệnh của Chúa Giêsu được hoàn thành trong mầu nhiệm vượt qua: ở đó chúng ta thấy mình đứng trước “Lời của thánh giá” (1 Cor 1:18). Lời này lặng im; Lời trở thành sự im lặng chết người, Lời đã "nói" hết, không còn giữ lại bất cứ điều gì Người phải nói cho chúng ta. Các Giáo Phụ, trong khi suy niệm về mầu nhiệm này, đã gán cho Mẹ Thiên Chúa những lời cảm động này: “Không Lời là Lời của Chúa Cha, Người đã tạo ra mọi sinh vật biết nói, bất động là cặp mắt của Đấng mà qua Lời nói và cử chỉ của Người mọi sinh vật được chuyển động”.[37] Ở đây tình yêu “lớn hơn” ấy, tình yêu hiến mạng sống vì bạn hữu (x. Ga 15:13), được thực sự chia sẻ với chúng ta.

Trong mầu nhiệm cao cả này Chúa Giêsu được mặc khải như Lời của giao ước mới và vĩnh cửuMt 26:28; Mc 14:24; Lc 22:20), và cho thấy mình chính là Chiên Con làm hy lễ thật đem đến cho chúng ta sự giải phóng khỏi ách nô lệ một cách dứt khoát.[38]

Trong mầu nhiệm rất huy hoàng của việc phục sinh, sự im lặng của Lời được tỏ ra trong ý nghĩa chân chính và dứt khoát của nó. Đức Kitô, Ngôi Lời nhập thể, chịu đóng đinh và phục sinh của Thiên Chúa, là Chúa của muôn loài. Người là Đấng chiến thắng, Đấng Toàn Năng (Pantocrator), và vì thế muôn vật đều được quy tụ trong Người đến muôn đời (x. Eph 1:10). Như thế, Đức Kitô là "ánh sáng thế gian" (Ga 8:12), và “ánh sáng chiếu trong tăm tối" (Ga 1:5) và đã không bị tăm tối khắc phục (x. Ga 1:5). Ở đây chúng ta hiểu trọn ý nghĩa của những lời trong Thánh Vịnh 119: “Lời Ngài là ngọn đèn cho chân con, là ánh sáng soi đường con đi” (c. 105). Lời phục sinh chắc chắn là ánh sáng soi đường cho chúng ta. Ngay từ thủa ban đầu, các Kitô hữu đã nhận ra rằng trong Đức Kitô, Lời của Thiên Chúa, hiện diện như một Ngôi. Lời Chúa là ánh sáng thật mà người ta cần đến. Trong việc phục sinh, Con Thiên Chúa thật sự xuất hiện như ánh sáng thế gian. Giờ đây, nhờ sống với Người và trong Người, mà chúng ta có thể sống trong ánh sáng.

13. Ở đây, tại trung tâm của "Kitô học của Lời", nếu có thể nói như vậy, điều quan trọng là phải nhấn mạnh đến sự thống nhất của kế hoạch của Thiên Chúa trong Ngôi Lời nhập thể: Đó là lý do tại sao Tân Ước trình bày Mầu Nhiệm Vượt Qua như phù hợp với Thánh Kinh và như làm trọn lời Thánh Kinh cách hoàn hảo nhất. Trong Thư Thứ Nhất gửi tín hữu Côrinthô, Thánh Phaolô nói rằng Chúa Giêsu Kitô đã chết vì tội lỗi của chúng ta “theo lời Thánh Kinh” (15:3) và rằng ngày thứ ba Người đã sống lại “theo lời Thánh Kinh” (15:4). Như vậy Thánh Tông Đồ, liên kết biến cố Chúa chịu chết và sự sống lại với lịch sử Giao Ước Cũ của Thiên Chúa với dân Người. Thật vậy, ngài cho chúng ta thấy rằng từ biến cố ấy, lịch sử nhận được luận lý nội tại và ý nghĩa thực sự của nó. Trong Mầu Nhiệm Vượt Qua “những lời Thánh Kinh” được nên trọn, nói cách khác, cái chết này xảy ra “theo lời Thánh Kinh” là một biến cố hàm chứa một Logos, một luận lý nội tại: cái chết của Đức Kitô chứng minh rằng Lời Chúa đã trở thành “phàm nhân” thật sự, “lịch sử” loài người cách triệt để.[39] Cũng tương tự, việc phục sinh của Chúa Giêsu xảy ra “vào ngày thứ ba theo lời Thánh Kinh”: vì theo cách giải thích của người Do Thái thì thân xác bắt đầu tan rữa sau ngày thứ ba, Lời Thánh Kinh được thể hiện nơi Chúa Giêsu, Đấng đã sống lại trước khi thân xác bắt đầu tan rữa. Vì vậy, trong khi trung thành truyền lại giáo huấn của các Tông Đồ (x. 1 Cor 15:3), Thánh Phaolô nhấn mạnh rằng chiến thắng của Đức Kitô trên sự chết đã xảy ra nhờ quyền năng sáng tạo của Lời Chúa. Quyền năng Thiên Chúa này mang lại hy vọng và niềm vui: tóm lại, đây là nội dung giải phóng của Mặc Khải về vượt qua. Trong Lễ Phục Sinh, Thiên Chúa tự tỏ mình và quyền năng của tình yêu Ba Ngôi là những điều đánh tan những quyền lực nguy hại của sự dữ và tử thần.

Khi gợi lại những yếu tố thiết yếu của đức tin của mình, chúng ta có thể chiêm ngắm sự hợp nhất sâu đặm trong Đức Kitô giữa tạo vật, tạo vật mới và toàn thể lịch sử cứu độ. Để làm thí dụ, chúng ta có thể so sánh vũ trụ với một “cuốn sách” – Chính Galileo cũng đã sử dụng thí dụ này - và coi nó như là “tác phẩm của một tác giả đã tự mô tả chính mình qua một “tấu khúc” về việc tạo dựng. Trong tấu khúc này, ở một thời điểm nào đó, điều được gọi là “độc tấu/đơn ca”, một chủ đề trao cho một nhạc cụ hoặc một giọng hát duy nhất là điều rất quan trọng đến nỗi ý nghĩa của toàn bộ tác phẩm lệ thuộc vào đó. Người “đơn ca” này là Chúa Giêsu.. .. Con Người thâu tóm trong mình cả đất lẫn trời, tạo vật và Đấng Tạo Hóa, thân xác và Thần Khí. Người là trung tâm của vũ trụ và lịch sử, vì trong Người tác giả và tác phẩm của mình đều đồng quy mà không bị lẫn lộn”.[40]

Chiều kích cánh chung của Lời Chúa

14. Trong tất cả những điều này, Hội Thánh nói lên ý thức rằng mình đứng cùng với Đức Chúa Giêsu Kitô trước Lời dứt khoát của Thiên Chúa: Người là “nguyên thủy và cứu cánh” (Kh 1:17). Người đã ban cho tạo vật và lịch sử ý nghĩa cuối cùng của chúng; và như thế chúng ta được mời gọi để sống trong thời gian và trong việc tạo dựng của Thiên Chúa, trong nhịp điệu cánh chung này của Lời. “Do đó quy chế Kitô giáo, vì là giao ước mới và dứt khoát, sẽ không bao giờ qua đi; và chúng ta không còn mong chờ một mặc khải nào mới trước khi Đức Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, xuất hiện trong vinh quang (x. 1 Tim 6:14 và Tit 2:13)”.[41] Thực ra, như các Nghị Phụ đã ghi nhận trong Thượng Hội Đồng, “tính độc đáo của Kitô giáo được tỏ lộ trong biến cố Chúa Giêsu Kitô, đỉnh cao của mặc khải, sự hoàn thành những lời hứa của Thiên Chúa và Đấng Trung Gian của cuộc gặp gỡ giữa loài người và Thiên Chúa. Người là Đấng ‘đã mặc khải Thiên Chúa cho chúng ta’ (Ga 1:18), là Lời duy nhất và dứt khoát được ban cho nhân loại”.[42] Thánh Gioan Thánh Giá đã diễn tả chân lý này một cách tuyệt diệu: “Vì Ngài đã ban cho chúng ta Con của Ngài, là Lời duy nhất của Ngài (vì Ngài không còn Lời nào khác), Ngài đã nói tất cả mọi sự cùng một lúc trong Lời duy nhất này, và Ngài không còn gì để nói... vì những gì Ngài đã nói từng phần trước đây qua các ngôn sứ, Ngài đã nói tất cả cùng một lúc bằng cách cho chúng ta Tất Cả là Con của Ngài. Bất kỳ ai nghi ngờ Thiên Chúa, hay mong ước thị kiến hoặc mặc khải nào đó sẽ không những chỉ có hành vi khờ dại mà còn xúc phạm đến Ngài, vì không để mắt hoàn toàn vào Đức Kitô và sống với lòng ước mong những điều mới lạ khác”.[43]

Vì thế Thượng Hội Đồng Giám Mục đã nhắm đến nhu cầu cần phải “giúp các tín hữu phân biệt Lời Thiên Chúa với những mặc khải tư”[44] mà vai trò của chúng “không phải là để ‘bổ sung’ cho mặc khải dứt khoát của Đức Kitô, nhưng để giúp người ta sống mặc khải ấy một cách trọn vẹn hơn trong một giai đoạn lịch sử nào đó”.[45] Giá trị của những mặc khải tư hoàn toàn khác với mặc khải chung duy nhất: mặc khải sau đòi đức tin, trong đó Chính Thiên Chúa nói với chúng ta qua lời nói của loài người và trung gian của cộng đồng Hội Thánh sống động. Tiêu chuẩn để đánh giá sự thật của một mặc khải tư là quy hướng của nó về chính Đức Kitô. Nếu nó dẫn chúng ta xa Người, thì nó chắc chắn không đến từ Chúa Thánh Thần, Đấng hướng dẫn chúng ta vào Tin Mừng cách sâu đậm hơn, chứ không xa Tin Mừng này. Mặc khải tư là một trợ giúp cho đức tin này, và nó chứng tỏ sự đáng tin cậy của nó vì nó quy về Mặc Khải chung duy nhất. Việc Hội Thánh phê chuẩn mặc khải tư có nghĩa thiết yếu là sứ điệp của nó không chứa đựng điều gì trái ngược với đức tin và luân lý; chúng ta được phép công bố nó và các tín hữu được phép tham gia cách thận trọng. Một mặc khải tư có thể đưa ra những nhấn mạnh mới, phát sinh ra những hình thức sùng kính mới, hoặc đào sâu những hình thức cũ. Nó có thể có một đặc tính tiên tri nào đó (x. 1 Th 5:19-21) và có thể là một trợ giúp quý giá cho việc hiểu biết và sống Tin Mừng cách tốt hơn ở một thời điểm nào đó; do đó chúng ta không nên coi thường nó. Nó là một sự trợ giúp được ban cho chúng ta, nhưng không bắt buộc chúng ta phải sử dụng. Trong mọi trường hợp, nó phải là một vấn đề về nuôi dưỡng đức tin, đức cậy và đức mến, con đường thường trực của ơn cứu độ cho tất cả mọi người.[46]

Lời Chúa và Chúa Thánh Thần

15. Sau khi suy niệm về Lời cuối cùng và dứt khoát của Thiên Chúa dành cho thế gian, giờ đây chúng ta cần phải đề cập đến sứ mệnh của Chúa Thánh Thần trong tương quan với Lời Chúa. Thực ra sẽ không có hiểu biết xác thực về mặc khải Kitô giáo nếu không có hoạt động của Đấng An Ủi (Paraclete). Đó là vì việc tự truyền thông của Thiên Chúa luôn luôn bao hàm mối liên hệ giữa Chúa Con và Chúa Thánh Thần, những Đấng mà Thánh Irênê thành Lyons gọi là “hai bàn tay của Chúa Cha”.[47] Chính Thánh Kinh nói về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong lịch sử cứu độ và đặc biệt là trong cuộc đời của Chúa Giêsu: Người được thụ thai bởi Đức Trinh Nữ Maria nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần (x. Mt 1:18; Lc 1:35); lúc khởi đầu sứ vụ công khai của Người, trên bờ sông Giođăng, Người thấy Chúa Thánh Thần ngự xuống trên mình dưới dạng một con chim bồ câu (x. Mt 3:16); trong cùng một Thánh Thần Chúa Giêsu hành động, nói năng và vui mừng (x. Lc 10:21); và trong Thánh Thần Người đã tự hiến mình (x. Dt 9:14). Khi sứ vụ của Người gần kết thúc, theo tường thuật của Thánh Gioan, Chúa Giêsu đã rõ ràng liên kết việc hiến mạng sống của mình với việc gửi của Chúa Thánh Thần xuống trên những kẻ thuộc về Người (x. Ga 16:7). Chúa Giêsu Phục Sinh, mang trong thân xác của Người những dấu của cuộc khổ nạn, sau đó Người đổ Chúa Thánh Thần xuống (x. Ga 20:22), làm cho các môn đệ của Người chia sẻ sứ mệnh của chính Người (x. Ga 20:21). Chúa Thánh Thần là Đấng dạy cho các môn đệ tất cả mọi sự và giúp các ông nhớ lại tất cả những gì mà Đức Kitô đã nói (x. Ga 14:26), vì Ngài là Thần Chân Lý (x. Ga 15:26) sẽ hướng dẫn các môn đệ đến tất cả chân lý (x. Ga 16:13). Cuối cùng, trong sách Tông Đồ Công Vụ, chúng ta đọc rằng Chúa Thánh Thần xuống trên Nhóm Mười Hai đang tụ tập để cầu nguyện cùng với Đức Maria trong Lễ Ngũ Tuần (x. 2:1-4), và thúc đẩy các ông gánh nhận sứ vụ rao giảng Tin Mừng cho muôn dân.[48]

Như thế Lời Chúa được diễn tả bằng lời nói của loài người nhờ tác động của Chúa Thánh Thần. Sứ vụ của Chúa Con và Chúa Thánh Thần không thể tách rời nhau được và tạo thành một công trình cứu độ duy nhất. Thần Khí hoạt động trong việc nhập thể của Ngôi Lời trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria cũng là Thần Khí hướng dẫn Chúa Giêsu trong sứ vụ của Người và được Người hứa ban cho các môn đệ. Cùng một Thần Khí đã nói qua các ngôn sứ là Đấng duy trì và linh hứng Hội Thánh trong nhiệm vụ công bố Lời Chúa của mình và trong lời rao giảng của các Tông Đồ; Cuối cùng, chính Thần Khí này là Đấng linh hứng các tác giả của Thánh Kinh.

16. Ý thức được phạm vi Thần Khí học này, các Nghị Phụ nhấn mạnh đến tầm quan trọng của công việc của Chúa Thánh Thần trong đời sống của Hội Thánh và tâm hồn các tín hữu trong tương quan với Thánh Kinh:[49] nếu không có sự làm việc hữu hiệu của "Thần Chân Lý" (Ga 14:16), người ta không thể hiểu được những lời của Chúa. Như Thánh Irênê nói: “Những ai không chia sẻ Thần Khí thì không rút ra từ cung lòng mẹ họ [Hội Thánh] thức ăn cho đời sống; họ không nhận được gì từ nguồn suối tinh khiết nhất chảy ra từ thân thể Đức Kitô”.[50] Như Lời Chúa đến với chúng ta trong thân thể Đức Kitô, trong thân thể Thánh Thể của Người và trong thân thể Thánh Kinh, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần thế nào, thì Lời này cũng chỉ có thể thực sự nhận được và hiểu được nhờ cùng một Chúa Thánh Thần như vậy.

Các nhà văn lớn của truyền thống Kitô giáo nhất trí nói về địa vị của Chúa Thánh Thần trong mối tương quan mà các tín hữu phải có đối với Thánh Kinh. Thánh Gioan Kim Khẩu nói rằng Thánh Kinh “cần sự Mặc Khải của Chúa Thánh Thần, để nhờ khám phá ra ý nghĩa thực sự của những điều chứa đựng trong ấy, chúng ta có thể gặt hái được nhiều ích lợi”.[51] Thánh Giêrônimô cũng tin chắc rằng "chúng ta không thể hiểu Thánh Kinh nếu không có sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần là Đấng linh hứng nó”.[52] Thánh Grêgôriô Cả nhấn mạnh một cách tinh vi công việc của Chúa Thánh Thần trong sự hình thành và giải thích Thánh Kinh: “Chính Ngài tạo ra những lời của Các Sách Giao Ước, chính Ngài tiết lộ ý nghĩa của chúng”.[53] Richard của Saint Victor vạch ra rằng chúng ta cần “cặp mắt của chim bồ câu”, được soi sáng và dạy dỗ bởi Thần Khí, để hiểu được các bản văn thánh.[54]

Ở đây tôi cũng muốn nhấn mạnh đến chứng từ rất quan trọng về các mối tương quan giữa Chúa Thánh Thần và Thánh Kinh mà chúng ta tìm thấy trong các bản văn phụng vụ, nơi mà Lời Chúa được công bố, lắng nghe và giải thích cho các tín hữu. Chúng ta tìm thấy một nhân chứng cho điều này trong những kinh nguyện cổ xưa dưới hình thức epiclesis, lời kinh cầu khẩn Chúa Thánh Thần trước khi công bố các bài đọc: “Xin ban Thần An Ủi (Paraclete) của Ngài vào lòng chúng con và làm cho chúng con hiểu Thánh Kinh mà Ngài đã linh hứng, và giúp con có thể giải thích cho họ một cách xứng đáng, ngõ hầu các tín hữu tụ được hưởng ơn ích”. Chúng tôi cũng tìm thấy những kinh nguyện đọc sau khi giảng, một lần nữa lại cầu xin Thiên Chúa ban những ơn Chúa Thánh Thần xuống trên các tín hữu: “Lạy Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ chúng con. .. chúng con cầu xin cho dân này: xin gửi Chúa Thánh Thần xuống trên họ, chớ gì Chúa Chúa Giêsu đến thăm họ, nói với lương tri mọi người, và chuẩn bị lòng họ đón nhận đức tin và dẫn đưa linh hồn chúng con đến với Chúa, Lạy Thiên Chúa đầy Thương Xót ".[55] Tất cả những điều này giúp chúng ta hiểu tại sao một người không thể hiểu được ý nghĩa của Lời Chúa nếu không mở lòng ra đón nhận tác động của Đấng An Ủi trong Hội Thánh và trong tâm hồn các tín hữu.

Thánh Truyền và Thánh Kinh

17. Trong việc tái xác nhận sự liên hệ mật thiết giữa Chúa Thánh Thần và Lời Chúa, chúng tôi cũng đã đặt nền móng cho một sự hiểu biết về tầm quan trọng và giá trị quyết định của Truyền Thống sống động và Thánh Kinh trong Hội Thánh. Thật vậy, vì “Thiên Chúa đã quá yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài” (Ga 3:16), Lời Thiên Chúa, được công bố trong thời gian, được ban và "ký thác" cho Hội Thánh một cách dứt khoát, để việc công bố ơn cứu độ có thể được truyền đạt cách hiệu quả trong mọi thời đại và mọi nơi. Như Hiến Chế Tín Lý Dei Verbum nhắc nhở chúng ta, chính Đức Chúa Giêsu Kitô “đã truyền cho các Tông Đồ rao giảng Tin Mừng – điều được hứa trước qua các ngôn sứ, được nên trọn trong chính con người của Người và được ban hành bởi chính miệng Người - cho tất cả mọi người như nguồn mạch của tất cả chân lý cứu độ và luật luân lý, bằng cách thông truyền hồng ân của Thiên Chúa cho họ. Điều này đã được thể hiện một cách trung thành bởi các Tông Đồ, là những vị đã truyền lại bằng cách rao giảng, bằng gương sáng và các luật lệ của các ngài, những gì chính các ngài đã nhận được - dù là từ miệng Đức Kitô, từ cách sống của Người và những việc làm của Người, hoặc biết được những điều ấy qua sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần; điều ấy được thực hiện bởi các Tông Đồ và những người khác như cộng sự viên của các ngài, dưới sự linh hứng của cùng một Chúa Thánh Thần, đã viết lại sứ điệp cứu độ xuống thành văn tự”.[56]

Ngoài ra Công đồng Vatican II cũng nói rằng Truyền Thống có nguồn gốc Tông Đồ này là một thực tại sống động và năng động: nó “tiến triển trong Hội Thánh, với sự giúp đỡ của Chúa Thánh Thần”, nhưng không theo nghĩa là có sự thay đổi chân lý, là điều thường trực, của nó. Thay vào đó, “có một sự tăng trưởng trong sự hiểu biết về những thực tại và những lời được truyền lại”, qua việc suy niệm và học tập, với sự hiểu biết thu lượm được từ kinh nghiệm tâm linh sâu sắc hơn và nhờ “lời rao giảng của những người kế vị nhau trong chức năng giám mục, đã nhận được đặc sủng chắc chắn của chân lý”.[57]

Truyền Thống sống động là điều thiết yếu để tạo điều kiện cho Hội Thánh phát triển qua thời gian trong sự hiểu biết về chân lý được mặc khải trong Thánh Kinh. Thực sự, “nhờ cùng một Truyền Thống này, mà toàn thể quy điển của các sách thánh được Hội Thánh biết, và chính Thánh Kinh cũng được hiểu kỹ hơn và liên tục được làm cho có hiệu quả trong Hội Thánh”,[58] Cuối cùng, chính Truyền Thống sống động của Hội Thánh giúp chúng ta hiểu Thánh Kinh là Lời Chúa một cách đầy đủ. Mặc dù Lời Chúa có trước và vượt trên Thánh Kinh, tuy nhiên Thánh Kinh, vì được linh hứng bởi Thiên Chúa nên chứa đựng Lời Chúa (x. 2 Tim 3:16) “một cách hoàn toàn đặc biệt”.[59]

18. Vậy chúng ta thấy rõ ràng rằng việc Dân Thiên Chúa cần được dạy dỗ và đào luyện đúng cách để tiếp cận Thánh Kinh trong tương quan với Truyền Thống sống động của Hội Thánh quan trọng như thế nào, và để nhận ra trong đó chính Lời Chúa. Việc nuôi dưỡng một tiếp cận như thế trong các tín hữu là điều rất quan trọng từ quan điểm đời sống tinh thần. Ở đây có thể là điều hữu ích để nhắc lại sự tương tự được các Giáo Phụ đưa ra giữa Lời Chúa đã trở thành “nhục thể” và Lời Chúa đã trở thành một “cuốn sách”.[60] Hiến Chế Tín Lý Dei Verbum tiếp tục truyền thống cổ xưa này, như Thánh Ambrôsiô nói,[61] là một truyền thống cho rằng “Thân thể của Chúa Con là Thánh Kinh mà chúng ta đã nhận được", và tuyên bố rằng "những lời của Thiên Chúa, được thể hiện trong ngôn ngữ của loài người, hoàn toàn giống như lời của loài người trong mọi phương diện, cũng như Lời của Chúa Cha hằng hữu, khi tự mặc lấy thân xác yếu hèn của loài người, đã trở nên giống họ”.[62] Khi hiểu theo cách này, Thánh Kinh tự bày tỏ cho chúng ta, trong sự đa dạng dưới nhiều hình thức và nội dung, như là một thực thể duy nhất. Thật vậy, “qua tất cả những lời của Thánh Kinh, Thiên Chúa chỉ nói một Lời duy nhất, Lời đặc thù của Ngài, trong đó Ngài đã tự tỏ mình một cách hoàn toàn (x. Dt 1:1-3)”,[63] Thánh Augustinô đã làm sáng tỏ điểm này: “Hãy nhớ rằng cuộc đàm đạo của Thiên Chúa được khai triển trong toàn thể Thánh Kinh, là một cuộc đàm đạo duy nhất, và cuộc đàm đạo duy nhất ấy là Lời được vang vọng trên miệng của tất cả các thánh ký”.[64]

Tóm lại, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần và dưới sự hướng dẫn của Huấn Quyền, Hội Thánh trao lại cho mọi thế hệ tất cả những gì đã được mặc khải trong Đức Kitô. Hội Thánh sống trong niềm xác tín rằng Chúa của mình, Đấng đã nói trong quá khứ, ngày nay vẫn tiếp tục thông truyền Lời của Ngài trong Truyền Thống sống động của mình và trong Thánh Kinh. Thực vậy, Lời Chúa đã được ban cho chúng ta trong Thánh Kinh như là một chứng từ linh hứng của Mặc Khải; cùng với Truyền Thống sống động của Hội Thánh, tạo thành quy luật tối cao của đức tin.[65]

Thánh Kinh, Linh Hứng và Chân Lý

19. Một khái niệm chính yếu để hiểu các văn bản thánh như Lời Chúa trong lời của loài người chắc chắn là khái niệm linh hứng. Ở đây cũng vậy, chúng ta có thể đề ra một sự tương tự: như Lời Chúa đã trở thành nhục thể nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria thế nào, thì Thánh Kinh cũng được sinh ra từ cung lòng Hội Thánh nhờ quyền năng của cùng một Chúa Thánh Thần như thế. Thánh Kinh là “Lời Chúa được viết xuống dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần”.[66] Bằng cách này người ta nhận ra tầm quan trọng hoàn toàn của tác giả nhân loại là những người đã viết các bản văn được linh hứng và đồng thời cũng nhận ra chính Thiên Chúa như tác giả thật.

Như các Nghị Phụ đã xác quyết, chủ đề về linh hứng có tính cách quyết định rõ ràng về một cách tiếp cận đầy đủ đối với Thánh Kinh và để giải thích các sách ấy một cách chính xác,[67] và cách giải thích này phải được thực hiện trong cùng một Thánh Thần mà trong Ngài các sách thánh đã được biên soạn.[68] Khi nào ý thức của chúng ta về sự linh hứng của Thánh Kinh bị yếu đi, chúng ta có nguy cơ đọc Thánh Kinh như một đối tượng của sự tò mò về lịch sử mà không phải là công trình của Chúa Thánh Thần, trong đó chúng ta có thể nghe chính Chúa nói và nhận ra sự hiện diện của Người trong lịch sử.

Ngoài ra, các Nghị Phụ cũng nhấn mạnh đến sự liên kết giữa chủ đề về linh hứng và chân lý của Thánh Kinh.[69] Một nghiên cứu sâu xa hơn về tiến trình linh hứng chắc chắn sẽ dẫn đến một sự hiểu biết rộng rãi hơn về chân lý chứa đựng trong Sách Thánh. Như giáo huấn của Công Đồng xác quyết về chủ đề này, rằng các sách được linh hứng dạy chân lý: “Do đó, vì tất cả những gì mà các tác giả được linh hứng, hay các thánh sử, xác nhận thì phải được coi là được xác nhận bởi Chúa Thánh Thần, chúng ta phải nhìn nhận rằng các sách của Thánh Kinh dạy một cách chắc chắn, trung thực và không sai lầm, sự thật mà Thiên Chúa, vì ích lợi cho phần rỗi của chúng ta, đã muốn Thánh Kinh ghi lại. Như vậy, ‘Tất cả Kinh Thánh được linh hứng bởi Thiên Chúa, và ích lợi cho việc giảng dạy, thuyết phục, răn bảo, giáo huấn trong sự công chính, để cho người thuộc về Thiên Chúa nên toàn thiện, và được trang bị đầy đủ mà làm mọi việc lành” (2 Tim 3:16 - 17, Hy Lạp)”.[70]

Suy tư thần học chắc chắn đã luôn luôn coi sự linh hứng và sự thật là hai khái niệm then chốt cho khoa chú giải Thánh Kinh của Hội Thánh. Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận sự cần thiết hiện nay của một nghiên cứu sâu rộng và đầy đủ hơn về những thực tại này, để đáp ứng một cách tốt hơn với nhu cầu phải giải thích các bản văn thánh theo bản chất của chúng. Ở đây tôi xin bày tỏ hy vọng tha thiết của tôi là nghiên cứu trong nghành này sẽ tiến bộ và sinh hoa kết quả cả về khoa học Thánh Kinh lẫn đời sống tinh thần của các tín hữu.

Thiên Chúa Cha, nguồn mạch và nguồn gốc của Lời

20. Công trình Mặc Khải có khởi thủy và nguồn gốc trong Thiên Chúa Cha. Nhờ Lời Ngài "các tầng trời đã được tạo thành, và tất cả tinh tú của chúng bằng hơi thở của miệng Người" (Tv 33:6). Chính Ngài là Đấng đã ban cho chúng ta “ánh sáng của sự hiểu biết về vinh quang Thiên Chúa trong dung mạo Đức Kitô" (2 Cor 4:06; x. Mt 16:17; Lc 9:29).

Trong Chúa Con, “Ngôi Lời làm người” (x. Ga 1:14), đã đến để thực hiện Thánh Ý của Đấng đã sai Người (x. Ga 4:34), Thiên Chúa, nguồn mạch của Mặc Khải, tỏ Mình ra như Chúa Cha và đưa đến hoàn thành các phương pháp sư phạm của Ngài mà trước đây đã được thực hiện qua lời các ngôn sứ, và những việc kỳ diệu được thực hiện trong việc tạo dựng, cùng trong lịch sử Dân Ngài và tất cả nhân loại. Mặc Khải của Thiên Chúa Cha đạt đến tột đỉnh trong việc Chúa Con ban tặng hồng ân Đấng An Ủi (x. Ga 14:16), là Thần Khí của Chúa Cha và Chúa Con, Đấng hướng dẫn chúng ta “trong tất cả chân lý” (Ga 16:13).

Tất cả mọi lời hứa của Thiên Chúa đều trở thành “có” trong Đức Chúa Giêsu Kitô (x. 2 Cor 1:20). Như thế, Người ban cho con người khả năng đi theo con đường dẫn về cùng Chúa Cha (x. Ga 14:6), để rồi cuối cùng “Thiên Chúa có thể là tất cả mọi sự cho mọi người” (1 Cor 15:28).

21. Như thánh giá của Đức Kitô chứng tỏ, Thiên Chúa cũng nói bằng sự im lặng của Ngài. Sự im lặng của Thiên Chúa, cảm nghiệm về khoảng cách của Chúa Cha Toàn Năng, là một giai đoạn quyết định trong cuộc hành trình trần thế của Con Thiên Chúa, Ngôi Lời nhập thể. Bị treo trên cây gỗ thập tự, Người đã kêu khóc trong nỗi khổ đau gây ra bởi sự im lặng đó: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, tại sao Ngài nỡ bỏ con?” (Mc 15:34; Mt 27:46). Khi kiên trì trong vâng phục cho đến hơi thở cuối cùng, trong tối tăm của sự chết, Chúa Giêsu đã kêu cầu Đức Chúa Cha. Người phó mình cho Ngài vào lúc vượt qua, qua cái chết, đến sự sống đời đời: “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46).

Kinh nghiệm này của Chúa Giêsu phản ảnh hoàn cảnh của tất cả những ai, sau khi đã nghe và chấp nhận Lời Chúa, cũng phải đương đầu với sự im lặng của Ngài. Đây là kinh nghiệm của vô số các thánh và các nhà thần bí, và ngay cả ngày nay vẫn là một phần của cuộc hành trình của nhiều tín hữu. Sự im lặng của Thiên Chúa nối dài Lời trước đó của Ngài. Trong những giây phút đen tối này, Ngài nói qua mầu nhiệm im lặng của Ngài. Do đó, trong sự năng động của Mặc Khải Kitô giáo, im lặng xuất hiện như là một sự biểu lộ quan trọng của Lời Chúa.

Chú Thích

14 Cf. Relatio ante disceptationem, I.
15 SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Dogmatic Constitution on Divine Revelation Dei Verbum, 2.
16 BENEDICT XVI, Encyclical Letter Deus Caritas Est (25 December 2005), 1: AAS 98 (2006), 217-218.
17 Instrumentum Laboris, 9.
18 Nicene-Constantinopolitan Creed: DS 150.
19 SAINT BERNARD OF CLAIRVAUX, Homilia super missus est, IV, 11: PL 183, 86B.
20 Cf. SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Dogmatic Constitution on Divine Revelation Dei Verbum, 10.
21 Cf. Propositio 3.
22 Cf. CONGREGATION FOR THE DOCTRINE OF THE FAITH, Declaration on the Unicity and Salvifi c Universality of Jesus Christ and of the Church Dominus Iesus (6 August 2000), 13-15: AAS 92 (2000), 754-756.
23 Cf. In Hexaemeron, XX, 5: Opera Omnia V, Quaracchi 1891, pp. 425-426; Breviloquium I, 8: Opera Omnia V, Quaracchi 1891, pp. 216-217.
24 Itinerarium mentis in Deum, II, 12: Opera Omnia V, Quaracchi 1891, pp. 302-303; cf. Commentarius in librum Ecclesiastes, Cap. 1, vers. 11; Quaestiones, II, 3: Opera Omnia VI, Quaracchi 1891, p. 16.
25 SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Dogmatic Constitution on Divine Revelation Dei Verbum, 3; cf. FIRST VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Dogmatic Constitution on the Catholic Faith Dei Filius, Chap. 2, De Revelatione: DS 3004.
26 Cf. Propositio 13.
27 INTERNATIONAL THEOLOGICAL COMMISSION, In Search of a Universal Ethics: A New Look at the Natural Law, Vatican City, 2009, No. 39.
28 Cf. Summa Theologiae, Ia-IIae, q. 94, a. 2.
29 Cf. PONTIFICAL BIBLICAL COMMISSION, The Bible and Morality, Biblical Roots of Christian Conduct (11 May 2008), Vatican City, 2008, Nos. 13, 32, 109.
30 Cf. INTERNATIONAL THEOLOGICAL COMMISSION, In Search of a Universal Ethics: A New Look at the Natural Law, Vatican City, 2009, No. 102.
31 Cf. BENEDICT XVI, Homily during the Celebration of Terce at the Beginning of the First General Congregation of the Synod of Bishops (6 October 2008): AAS 100 (2008), 758-761.
32 SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Dogmatic Constitution on Divine Revelation Dei Verbum, 14.
33 BENEDICT XVI, Encyclical Letter Deus Caritas Est (25 December 2005), 1: AAS 98 (2006), 217-218.
34 “ Ho Logos pachynetai (or: brachynetai) ”. Cf. ORIGEN, Peri Archon, I, 2,8: SC 252, 127-129.
35 BENEDICT XVI, Homily on the Solemnity of the Birth of the Lord (24 December 2006): AAS 99 (2007), 12.
36 Cf. Final Message, II, 4-6.
37 MAXIMUS THE CONFESSOR, Life of Mary, No. 89: Testi mariani del primo millennio, 2, Rome, 1989, p. 253.
38 Cf. BENEDICT XVI, Post-Synodal Apostolic EXhortation Sacramentum Caritatis (22 February 2007), 9-10: AAS 99 (2007), 111-112.
39 BENEDICT XVI, General Audience (15 April 2009): L’Osservatore Romano, 16 April 2009, p.1.
40 ID., Homily for the Solemnity of Epiphany (6 January 2009): L’Osservatore Romano, 7-8 January 2009, p. 8.
41 SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Dogmatic Constitution on Divine Revelation Dei Verbum, 4. 42 Propositio 4.
43 SAINT JOHN OF THE CROSS, Ascent of Mount CaRomel, II, 22.
44 Propositio 47.
45 Catechism of the Catholic Church, 67.
46 Cf. CONGREGATION FOR THE DOCTRINE OF THE FAITH, The Message of Fatima (26 June 2000): Enchiridion Vaticanum 19, Nos. 974-1021.
47 Adversus Haereses, IV, 7, 4: PG 7, 992-993; V, 1, 3: PG 7, 1123; V, 6, 1: PG 7, 1137; V, 28, 4: PG 7, 1200.
48 Cf. BENEDICT XVI, Post-Synodal Apostolic EXhortation Sacramentum Caritatis (22 February 2007), 12: AAS 99 (2007), 113-114.
49 Cf. Propositio 5.
50 Adversus Haereses, III, 24, 1: PG 7, 966.
51 Homiliae in Genesim, XXII, 1: PG 53, 175.
52 Epistula 120, 10: CSEL 55, 500-506.
53 Homiliae in Ezechielem, I, VII, 17: CC 142, p. 94.
54 “ Oculi ergo devotae animae sunt columbarum quia sensus eius per Spiritum sanctum sunt illuminati et edocti, spiritualia sapientes. Nunc quidem aperitur animae talis sensus, ut intellegat Scripturas ”: RICHARD OF SAINT VICTOR, Explicatio in Cantica Canticorum, 15: PL 196, 450B and D.
55 Sacramentarium Serapionis II (XX): Didascalia et Constitutiones Apostolorum, ed F.X. FUNK, II, Paderborn, 1906, p. 161.
56 SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Dogmatic Constitution on Divine Revelation Dei Verbum, 7.
57 Ibid., 8.
58 Ibid.
59 Cf. Propositio 3.
60 Cf. Final Message II, 5.
61 Expositio Evangelii secundum Lucam, 6, 33: PL 15, 1677.
62 SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Dogmatic Constitution on Divine Revelation Dei Verbum, 13.
63 Catechism of the Catholic Church, 102; Cf. also RUPERT OF DEUTZ, De Operibus Spiritus Sancti, I, 6: SC 131:72-74.
64 Enarrationes in Psalmos, 103, IV, 1: PL 37, 1378. Similar statements in ORIGEN, In Iohannem V, 5-6: SC 120, pp. 380- 384.
65 Cf. SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Dogmatic Constitution on Divine Revelation Dei Verbum, 21.
66 Ibid., 9.
67 Cf. Propositiones 5 and 12.
68 Cf. SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Dogmatic Constitution on Divine Revelation Dei Verbum, 12.
69 Cf. Propositio 12.
70 SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Dogmatic Constitution on Divine Revelation Dei Verbum, 11.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Tags ·

Đọc nhiều nhất Bản in 26.11.2010. 14:02