Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 4/2014

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Diễm Ca và tình yêu nhân bản

§ Vũ Văn An

Diễm Ca là sách độc đáo nhất trong toàn bộ Thánh Kinh ở chỗ tuy được kể là sách thánh, nhưng theo nhà chú giải thời danh thế kỷ 17-18 là Matthew Henry, nó là sách duy nhất, trong đó, tên Thiên Chúa không được nhắc đến (1), không được Tân Ước trích dẫn, không có bất cứ biểu thức nào về tôn giáo tự nhiên hay lòng sùng kính đạo đức, cũng không được dẫn khởi bằng bất cứ thị kiến hay dấu vết mạc khải tức khắc nào. Ngược lại, nó đầy rẫy những hình ảnh phàm trần của một cuộc tình nóng bỏng giữa một người con gái và người yêu của nàng. Đến độ, Henry cho rằng đối với những độc giả có đầu óc xác thịt và xúc cảm hư đốn, thì đây là độc dược dẫn tới cái chết, chứ không phải tới sự sống đời đời như các sách thánh khác. Do đó, các bậc thầy Do Thái từng khuyên giới trẻ của họ không đọc sách này cho tới năm 30 tuổi.

Điều ấy vẫn không ngăn cản một bậc thầy thời danh khác của Do Thái là Rabbi Akiva ben Joseph (2), vào đầu thế kỷ thứ hai Công Nguyên, coi sách này là sách thánh nhất trong tất cả các sách thánh. Tuy công đồng Do Thái, họp tại Jamnia (cũng có tên là Jabneh), chỉ chính thức nhìn nhận Diễm Ca là sách linh hứng vào khoảng năm 90 Công Nguyên, nhưng thực ra, nó đã có từ thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên và được liệt kê trong phần trước tác (phần thứ ba và sau cùng) của Thánh Kinh Do Thái (Kethubhim) trước thời Chúa Giêsu. Cho nên có thể nói, đối với Chúa Giêsu, nó vốn đã là thành phần của Thánh Kinh rồi.

Bởi thế, truyền thống Kitô Giáo chưa bao giờ dám hoài nghi tính qui điển của Diễm Ca, dĩ nhiên, dựa trên ý nghĩa phúng dụ (allegory) theo gương truyền thống Do Thái. Ý nghĩa này, trước sau như một, vốn được truyền thống Do Thái tin theo tận đến ngày nay, không hề thay đổi. Người Do Thái mọi thời tin rằng cuộc tình giữa người con gái Diễm Ca với người yêu của mình chỉ là một hình ảnh nói lên cuộc tình của Chúa Giavê đối với Dân Người, một cuộc tình thăng trầm, lên xuống, lúc hợp lúc tan, lúc có đó, lúc biến đi, nhưng lúc nào cũng tái hiện nồng nàn. Lịch sử tương giao giữa Thiên Chúa Giavê và Dân Do Thái lột tả hết cái thăng trầm của cuộc tình Diễm Ca này.

Truyền thống Kitô Giáo có hơi khác. Theo Bách Khoa Công Giáo ấn bản năm 1914, cho đến thế kỷ 16, ý nghĩa phúng dụ hay ý nghĩa biểu tượng thắng thế, được các giáo phụ như Hippolytô (170-235), Origen (184-253), Gregoriô thành Nyssa (335-394), Augustinô (354-430) và Giêrôm (347-420) ủng hộ. Tuy cũng có những tiếng nói khác được Thánh Philastriô (thế kỷ thứ 4) nhắc đến; những người này không coi Diễm Ca là công trình của Chúa Thánh Thần mà chỉ là một trước tác thuần túy gợi tình của một thi nhân nào đó. Hiển nhiên, trong số này có Theodore thành Mopsuestia (350-428). Ông vốn là giám mục của thành này, được coi là đại biểu sáng giá nhất của trường phái Antiôkia trong việc giải thích Thánh Kinh, một trường phái chú trọng tới lối giải thích bản văn theo văn phạm, lịch sử và thực tiễn. Bởi thế, theo ông, Diễm Ca là một ca khúc ca ngợi tình yêu nhân bản. Chủ trương của ông chỉ bị kết án năm 553 tại Công Đồng Constantinôpôli II.

Theo tạp chí America, số ngày 31 tháng 10 năm 2005, còn một nhân vật nữa, gần như cùng thời với Theodore, cũng có cùng một quan điểm như ông này. Đó là Jovinian (chết khoảng năm 405), người bị thánh Giêrôm coi là Epicure của Kitô Giáo, vì chống lại phong trào khổ tu Kitô Giáo, một phần vì ông coi bậc hôn nhân cũng có giá trị như bậc đồng trinh đến độ còn bác bỏ cả việc trọn đời đồng trinh của Đức Mẹ, và đã bị kết án là lạc giáo tại công đồng Rôma dưới thời Đức Siricius. Riêng đối với Diễm Ca, ông truyền giảng lối giải thích chiểu tự, coi nó như một ca tụng đối với sinh hoạt tính dục trong hôn nhân, và như phương thế thánh hóa. Ý kiến của hai ông, mãi tới thế kỷ 16 mới được phục hồi bởi nhà thần học người Pháp thuộc phe Calvin là Sebastien Castalion. Tuy nhiên, theo Bách Khoa Do Thái, chỉ cho đến hơn một trăm năm qua, lối giải thích chiểu tự này, trên thực tế, mới hạ bệ được lối giải thích phúng dụ. Hiện nay, hầu như mọi người đều coi Diễm Ca như một ca khúc ca tụng hôn nhân nhân bản, vì trong đó, không hề có một phúng dụ nào.

Một tình yêu đầy kích giác (sensuous love)

Như Matthew Henry nhận xét: đối với các độc giả có đầu óc xác thịt và xúc cảm hư đốn, Diễm Ca là một thứ độc dược giết người, với thật nhiều ngôn từ nói lên cái khoái cảm thể lý của tình yêu vợ chồng, một ngôn từ không dè dặt, hoàn toàn tự do, “xúc phạm tới khiếu thẩm mỹ hiện đại”, có lẽ vì phản ảnh nét buông tuồng của các hội hè bình dân thời ấy (Bách Khoa Do Thái) nhất là đoạn 7: 2-10 (1-9) dưới đây:

“Chân em tuyệt đẹp trong những chiếc hài! Hỡi công nương!
Ðường cong cặp đùi những chiếc vòng,
công trình do tay khéo léo.
Rốn em tròn xoay như chung.
Sao cho đừng thiếu rượu nồng!
Bụng em, một đống miến mì, có huệ rào quanh.
Ðôi nhũ hoa như cặp nai tơ,
con sinh đôi của linh dương mẹ.
Cổ em như tháp ngà.
Mắt em là những hồ nước Khesbôn,
bên cổng Bat-Rabbim.
Mũi em như Tháp Liban, dõi về phía Ðama.
Ðầu em cai cả vóc người như núi Karmel.
Bím tóc trên đầu như nhung gấm.
Một hoàng đế bị xích lại bởi suối tóc huyền.
Em đẹp biết bao và kiều diễm dường nào,
yêu yêu ơi, quí nương ơi!
Này dáng của em giống tợ chà là. Nhũ hoa như chùm quả.
Anh nói: Ta phải leo lên chà là, mà chụp lấy chùm trái.
Ước gì nhũ hoa của em như những chùm nho,
và hương vị mũi em như mùi táo.
Miệng em như rượu hảo hạng.
Rót thẳng cho người yêu của tôi,
êm chảy đến miệng những người thiếp ngủ”.

Những câu trích trên lấy từ bản dịch của Cha Nguyễn Thế Thuấn, một bản dịch không ngần ngại sử dụng hạn từ “nhũ hoa”, thay vì “bộ ngực” như bản dịch của Nhóm Phụng Vụ Các Giờ Kinh hay “nương long” như bản dịch Phan Khôi của Tin Lành. Chúng tôi nghĩ kiểu dịch của Cha Nguyễn Thế Thuấn lột tả đúng nhất mạch văn của Diễm Ca, dù hơi khó nghe với độc giả Công Giáo Việt Nam, những người chưa quen với “thứ văn hóa xuồng xã” (3).

Nhưng theo Bách Khoa Do Thái, các ngôn từ này không hẳn xa lạ đối với thời ấy. Cụ thể là ngôn từ trong Êdêkien 16 và 23 hay trong Cách Ngôn 5:16-20. Ta biết Êdêkien 16 có ý “vạch ra cho Yêrusalem biết các điều ghê tởm” của dâm phụ, khởi đầu là con hoang bị bỏ rơi, được Giavê cứu sống mang về chăm sóc, “và ngươi đã nẩy nở, đã lớn đẫy, và ngươi đến tuổi dậy thì, bộ ngực nở nang, tóc tai mọc rậm; nhưng ngươi vẫn tô hô trần truồng” (16:7). Được Giavê trang sức với lụa là gấm tía, với vòng ngọc xuyến vàng, “ngươi cậy có sắc đẹp, và ỷ vào danh tiếng mà sinh đàng điếm, trút thói đĩ thõa trên mọi kẻ qua đàng và đèo queo lấy nó” (16:15) (4); đã “lấy vàng bạc Ta ban cho ngươi mà tạc tượng đàn ông và ngươi đã dâm dật với chúng” (16: 17), lại còn “chãng háng ra cho mọi khách qua đàng mà gia tăng dâm đãng” (16:25), đã “lật trôn, banh háng ra mà đánh đĩ với các tình lang của ngươi” (16: 36). Chương 23 đề cập tới hai gái điếm ở Ai Cập “ở đó, chúng đã bị bóp vú; ở đó chúng đã bị nắn ngực, ngực gái tân của chúng” (23:3), những đứa ăn nằm với chúng “mình như mình lừa và dương vật chúng như dương vật con ngựa” (23:20).

Chỉ có điều đây là những điều xấu xa ô nhục nói về Yêrusalem và Samari sa đoạ, đánh đĩ với thần ngoại giáo, bị kể tội như một biện minh cho các trừng phạt của Chúa Giavê, và do đó, mang nội dung tôn giáo rõ ràng. Trái lại nơi Diễm Ca, tất cả các hình ảnh về tình yêu kích giác chỉ duy một sắc thái tích cực, nhằm đề cao tình yêu nồng nàn nhân bản.

Tuy nhiên, Diễm Ca không hẳn là sách duy nhất sử dụng một ngôn ngữ gợi hình rõ rệt và có tính tích cực như vậy, vì sách Cách Ngôn, mà mục đích hiển nhiên là dạy những điều khôn ngoan thực tiễn tích cực, cũng đã dùng cùng một thứ ngôn từ như vậy. Thực thế, ta hãy nghe tác giả sách Cách Ngôn khuyên Dân Cựu Ước và dĩ nhiên cả chúng ta nữa ở chương 5:15-20:

“Hãy uống nước nơi bồn nước của con,
nước chẩy ra từ giếng của con.
Mạch nước của con đừng trào ra ngoài,
và suối nước của con, trên nơi công cộng.
Chúng hãy dành cho một mình con,
chứ không phải cho kẻ xa lạ với con.
Hãy được chúc lành, suối nước của con!
Hãy tìm thấy niềm vui nơi người vợ của tuổi thanh xuân!
Nai tình yêu, nai tơ mỹ miều!
Nàng hãy sống với con mãi mãi,
chớ gì ngực nàng luôn luôn làm con thỏa thuê
Và con không ngừng say đắm tình yêu nàng!
Hỡi con, tại sao lại để vợ người khác mê hoặc,
và ôm ấp vú vê người đàn bà xa lạ?”

Ta thấy Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn chỉ sử dụng từ “nhũ hoa” trong Diễm Ca mà thôi, còn trong các sách khác, ngài sử dụng một là “bộ ngực” hai là “vú” để chỉ phần thân thể thân kín của người đàn bà. Phải chăng đây là một thứ trung dung để nhấn mạnh tới sự kiện được nhiều nhà chú giải nhận định: Sách Diễm Ca bộc lộ tất cả những thân mật xuồng xã của cuộc sống hôn nhân mà không trở thành tục tĩu, khiêu dâm. Các hình ảnh tuy đầy tính kích giác (sensuous) nhưng lại không có tính kích dục (sensual) như phần đông những ca khúc sử dụng trong các đám cưới Syria hay Palestine. Nói theo Đức Gioan Phaolô II, ngôn ngữ thân xác trong Diễm Ca tự biểu lộ qua sự say mê hấp dẫn nhau. Khởi điểm và đích điểm của sự say mê hấp dẫn này chính là nữ tính của nàng dâu và nam tính của chàng rể, trong cảm nghiệm trực tiếp về tính hữu hình của chúng. Lời lẽ yêu đương của họ, do đó, tập trung vào thân xác, không phải chỉ vì tự trong nó, thân xác tạo nên nguồi suối của sự say mê hấp dẫn kia, mà trước hết còn là vì trên thân xác, có cả một sức hấp dẫn trực tiếp và tức khắc khiến ta bị lôi cuốn vào người khác, vào cái tôi khác, cái tôi nam cái tôi nữ; chính cái tôi ấy phát sinh ra tình yêu trong một thúc bách nội thẳm của trái tim. Nói cách khác, tình yêu phóng sinh một cảm nghiệm đặc biệt về cái đẹp, một cảm nghiệm tập chú vào điều hữu hình, nhưng đồng thời bao hàm cả con người của người yêu (5)

Diễm Ca trong truyền thống Kitô Giáo

Như trên đã nói, giáo phụ đầu tiên chú giải Sách Diễm Ca là Thánh Hippolytô tử đạo, sống vào cuối thế kỷ thứ 2 qua đầu thế kỷ thứ 3, được coi là nhà thần học quan trọng nhất của Giáo Hội Rôma trong thế kỷ thứ 3. Tuy không chú giải trọn cả sách, mà chỉ chú giải 3 chương đầu cho tới câu 3:7 (bắt đầu nói tới cuộc rước dâu của Salômôn), nhưng cũng đủ cho thấy ngài theo lối giải thích phúng dụ, coi đây là mối liên hệ phức tạp giữa Israel, Chúa Kitô và Giáo Hội Dân Ngoại. Người kế tiếp là Origen, người đồng thời với Thánh Hippolitô. Ông cũng giải thích Diễm Ca theo ý nghĩa phúng dụ. Theo ông, ba sách khôn ngoan do Salômôn soạn thảo chính là 3 bước trên con đường cầu nguyện sâu sắc hơn. Cách Ngôn dạy ta biết phân biệt tác phong tốt khỏi tác phong xấu, nó là sách đạo đức. Huấn Ca dạy ta biết trực giác bàn tay Thiên Chúa trong trật tự tạo dựng, nó là sách lý thuyết. Sau cùng Diễm Ca dạy ta thần học, nói với Thiên Chúa và nói về Thiên Chúa. Sự phân biệt này, với thời gian, sẽ cụ thể mặc lấy hình thức qui điển của 3 giai đoạn đời sống chiêm niệm: giai đoạn thanh tẩy, giai đoạn soi sáng và giai đoạn kết hợp nên một. Origen có khác với Thánh Hippolitô, ông dứt khoát coi Diễm Ca chỉ nói về mối liên hệ giữa linh hồn và Chúa Kitô, một mối liên hệ, tuy nhiên, chỉ nên trình bày cho những người đã trưởng thành trong đời sống tâm linh; người mới tập tành không nên nghiên cứu, kẻo có hại. Về phương diện này, ông gần gũi các truyền thống giải thích Do Thái vào thế kỷ thứ 3 hơn Thánh Hippolitô, người vốn không dè dặt như thế.

Lối giải thích phúng dụ này, như đã nói, đã trở thành truyền thống của Kitô Giáo, ít nhất cho tới thế kỷ 16. Phúng dụ là lối trình bày nhằm chuyên chở một ý nghĩa khác với lời lẽ sử dụng. Phúng dụ truyền đạt sứ điệp của mình bằng hình ảnh hay hành động có tính biểu tượng. Theo nguyên ngữ Hy Lạp ἀλληγορία (allegoria), phúng dụ có nghĩa là ngôn từ che đậy, có tính ẩn dụ, do hai gốc ἄλλος (allos), "khác” và ἀγορεύω (agoreuo), "diễn thuyết, nói nơi công cộng”. Nói các khác, phúng dụ là một hình thức ẩn dụ mở rộng, qua đó các vật thể, con người và hành động trong câu truyện chuyên chở những ý nghĩa nằm bên ngoài chính câu truyện ấy. Ý nghĩa tiềm ẩn ấy có thể là luân lý, xã hội, tôn giáo hay chính trị, và các nhân vật kia thường là các ý niệm được nhân cách hóa như bác ái, lòng ham hay ganh ghét.

Người ta dễ hiểu trước sự kiện lối giải thích phúng dụ về Diễm Ca đã “thống trị” khá lâu trong truyền thống Kitô Giáo. Vì tam đoạn luận thông thường thời ấy vẫn là: sách thánh nào cũng nói về Thiên Chúa, mà Diễm Ca là sách thánh, nên Diễm Ca hẳn phải là để nói về Thiên Chúa. Mặt khác, trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, rất nhiều đoạn văn nói tới mối liên hệ của Thiên Chúa với Hội Đường hay mối liên hệ của Chúa Kitô với Giáo Hội hay với linh hồn thờ kính Người được viết dưới biểu tượng một cuộc hôn nhân hay đính ước, như Giêrêmia 2:2; Thánh Vịnh 45; Hôsê 19 tt; Êdêkien 16:8 tt; Mátthêu 25:1tt; 2 Cor 11:2; Eph 5:23tt; Kh 19:7 tt…

Theo Từ Điển Bách Khoa Công Giáo (ấn bản 1914), trong lối giải thích phúng dụ, không có sự khác biệt chủ yếu nào khi nàng dâu được hiểu là biểu tượng của Hội Đường, tức cộng đồng thuộc Giao Ước cũ hay là biểu tượng của Giáo Hội, tức cộng đồng thuộc Giao Ước mới. Vì thực ra nàng dâu đây được hiểu là bản tính con người được Thiên Chúa nâng lên và tuyển chọn. Bản tính này, trên hết, được nhập thân trong Giáo Hội Chúa nơi trần gian, một Giáo Hội được Người cưới lấy bằng một tình yêu chàng rể, biến thành vương miện cho mọi công trình bên ngoài của Người và trang trí bằng đủ mọi đồ trang sức tuyệt hảo của ơn thánh siêu nhiên. Trong Diễm Ca, nàng dâu không bị tì vết, trái lại, các đức tính và sắc đẹp của nàng được hết lời ca tụng, đúng là biểu tượng cho các đức tính và sắc đẹp của Giáo Hội từng được Thánh Phaolô mô tả ở Êphêsô 5:27.

Ta hãy nghe Thánh Giêrôm áp dụng lối giải thích phúng dụ trên vào Diễm Ca. Trong Chống Lại Jovinian, cuốn thứ nhất, ngài bảo câu: “Bạn ơi, dậy đi, đẹp của anh, hãy ra nào! Vì kìa: Đông đã qua. Mưa đã tạnh đi mất đâu rồi” (2:10-11) là câu chàng rể nói với nàng dâu: bóng của luật cũ (Cựu Ước) đã qua rồi, và chân lý Tin Mừng đã xuất hiện!

Ngài còn cho rằng câu: “Ngàn hoa nở rực rỡ trong vùng, mùa xén tỉa đã tới (6)” (2:12) là có ý nói tới Tin Mừng và Đức Khiết Trinh, phù hợp với câu 7:29 trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô của Thánh Phaolô: “Thời buổi đã co rút lại! Cho nên từ nay: những kẻ có vợ hãy ở như không có”. Còn câu: “Tiếng bồ câu nghe dậy khắp vùng xa” (2:12), theo ngài, là để đề cao đức khiết tịnh vì bồ câu được coi là con vật trong sạch nhất trong các loài chim, luôn ở chỗ cao, một hình loại học của Chúa Cứu Thế. Ngài còn trưng dẫn công trình của các nhà sinh vật học cho rằng: bản chất bồ câu là khi mất con đực, không bao giờ nó “lấy” con khác. “Và ta nên hiểu: đến con vật ngu đần nhất cũng biết khước từ cuộc hôn nhân thứ hai”. Ngài viết thêm: ngay sau đó, bồ câu nói với bạn: “vả đã trổ sinh những trái xanh và nho đã tỏa mùi thơm ngát” là chỉ: các lệnh truyền của luật cũ đã qua, nay là mùa trổ bông thơm phức của nho Tin Mừng…

Tất cả đều là ẩn dụ, là hình loại học như “chăn cừu ở đồng huệ” (2:16) là sống giữa những trinh nữ trinh trong; “tới núi xạ” chỉ việc tới với những người biết hãm xác, “tới đồi hương” chỉ việc tới với đoàn trinh nữ trinh trong (4:6); “vườn khóa chặt… suối niêm phong” (4:12) là chỉ Đức Mẹ, vừa là mẹ vừa là trinh nữ: trước và sau Chúa Giêsu, không ai ở đó. Thánh Giêrôm cũng dùng luận điểm này để bênh vực sự đồng trinh trước và sau khi sinh Chúa Giêsu của Đức Mẹ trong cuộc tranh luận với Helviđiô (7).

Thánh Ambrose áp dụng câu trên vào các trinh nữ nói chung, không riêng gì Đức Mẹ. Trong De Virginibus, cuốn I, chương 9, ngài cho rằng chỉ trong vườn loại này, nước suối trong mới óng ánh, mới phản chiếu được đủ mọi nét thanh tú của hình ảnh Thiên Chúa, không bị ô nhiễm bởi bùn nhơ của những bãi đầm đầy thú dữ thiêng liêng. Chính vì thế, sự nết na của các trinh nữ cũng cần được tường hào Chúa Thánh Thần vây bọc kẻo sẽ bị phơi bày cho kẻ thù bôi bẩn.
Môn đệ của ngài là Thánh Augustinô chủ yếu áp dụng Diễm Ca vào cuộc tình giữa Giáo Hội và Chúa Kitô. Các biểu tượng ở đây có tính Giáo Hội, chứ không có tính cá thể. Trong De Baptismo cuốn 5, chương 27 (số 38) Thánh Augustinô cho rằng Giáo Hội, hiền thê của Chúa Kitô chính là “vườn khóa chặt, là suối niêm phong” như đã được Diễm Ca mô tả. Ngài cho rằng đó chính là ý nghĩa của Êphêsô 5:27, trong đó Giáo Hội được diễn tả là “không một vết nhơ hay nét nhăn”.

Ghi chú

(1) Dù câu 8:6 rất có thể đã nhắc tới tên Người, tuy các bản dịch không nhất trí. Bản của CGKPV dịch là “lửa thần thiêng”, bản Tin Lành (của Phan Khôi) dịch là “Ngọn lửa của Giêhôva”, bản Bible de Jérusalem dịch là: “Ngọn lửa Giavê”, bản của Nguyễn Thế Thuấn dịch là “thật là xét đánh”, bản của Đức ông Knox dịch là “a blaze of fire” (lửa hỏa hào?). Knox khá gần với quan điểm của Bách Khoa Do Thái khi họ cho rằng câu 8:6 có nhắc tới "Yah" nhưng trong tiếng Hípri, kiểu nói này chỉ nói lên cường độ của lửa.
(2) Sống khoảng đầu thế kỷ thứ 2 Công Nguyên, một thẩm quyền lớn trong các vấn đề thuộc truyền thống Do Thái và là một trong những người cộng tác chính yếu và chủ chốt nhất tạo ra bộ Misnah và Midrash Halakha, được sách Talmud xưng tụng là "Rosh la-Chachamim" (đứng đầu các thánh hiền), và thực tế, được truyền thống coi là một trong những sáng lập viên buổi đầu của trường phái Rabbi.
(3) Nương long là hạn từ thanh nhã, nhưng một phần vì là chữ hán, một phần quá thanh tao, mà ta thường nghe nói áp dụng vào “cạnh nương long Đức Chúa Giêsu”, nên không thích hợp với Diễm Ca. Bộ ngực dễ hiểu hơn và trong các bản dịch tiếng Anh, người ta cũng chỉ dùng hạn từ “breast” nói chung mà thôi. Theo www.biblos.com, hạn từ chỉ ngực này được Thánh Kinh sử dụng tới 39 lần, không hẳn chỉ để nói tới phần thân thể người con gái mà là phần thân thể của mọi người, trong đó, ít nhất 7 lần được Diễm Ca sử dụng để chỉ phần thân thể gợi tình đầy quyến rũ của người con gái trong truyện (1:13; 4:5; 7:3, 7, 8; 8:1, 10).
(4) Bản Vulgate: ut eius fieres: để thành là của nó.
(5) Bài giáo lý về tình yêu nhân bản trong kế hoạch Thiên Chúa, Buổi Yết Kiến Chung, ngày 23 tháng 5, 1984
(6) Các câu Thánh Kinh ở chỗ này thoát dịch theo bản Phổ Thông của Thánh Giêrôm.
(7) Xem Đức Mẹ Trọn Đời Đồng Trinh, Cuộc Bút Chiến của Thánh Giêrôm, VietCatholicNews 31/05/2008.

Vũ Văn An

Đọc nhiều nhất Bản in 03.07.2012. 19:35