Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 1/2014

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Diễm Ca và tình yêu nhân bản (4)

§ Vũ Văn An

Bố cục của Diễm Ca

Quan điểm của truyền thống Công Giáo hiện nay về Diễm Ca, thiển nghĩ, là quan điểm đúng đắn nhất. Nó là sách linh hứng cho thấy tình yêu tính dục của con người phải như thế nào trong ý định của Thiên Chúa, đồng thời nó mở ra chiều kích đời đời, chiều kích mà con người chỉ có thể tìm thấy trọn vẹn trong cuộc tình giữa Thiên Chúa hóa công và tạo vật nhân bản. Như thế, chỉ nhận một trong các ý nghĩa của nó là điều không đúng ý định nguyên thủy của soạn giả Diễm Ca.

Tuy nhiên, như nhận định của Christopher Pramuk trên tạp chí America số ngày 31 tháng 10 năm 2005 (Sexuality, Spirituality and the ‘Song of Songs’), mỗi thời, người ta có quyền nhấn mạnh tới một chiều kích của sách. Không ai chờ mong các đan sĩ và thần học gia Trung Cổ khám phá ra cùng một bài học từ Diễm Ca như chúng ta hiện nay. Đi tìm một hộ giáo cho tính thánh thiêng của tính dục vợ chồng nơi Thánh Bernard chắc chắn chỉ đem lại thất vọng. Ngay những người như Abélard và Héloise cũng chỉ dám nhượng bộ các thúc đẩy của tính dục, để rồi sau đó hối hận, mặc cảm tội lỗi, chứ đâu dám biện hộ cho chúng. Bây giờ thì khác, câu hỏi thần học là thăm dò thế nào về chiều sâu của tính dục qua con mắt Thiên Chúa, nhà nghệ sĩ đã sáng tạo ra nó, và làm thế nào để thâm hậu hóa mầu nhiệm này qua việc suy niệm chính Thánh Kinh.

Lý do: nền văn hóa hiện đại đang tận dụng mọi phương thế để đề cao cảm nghiệm tính dục như một cùng đích tự tại khiến cho hôn nhân giữa một người đàn ông và một người đàn bà trở thành biểu tượng của mất tự do, của tù ngục trong nhiều sắc thái khác nhau của không yêu thương và bất khả tha thứ. Trận chiến văn hóa nặng nề nhất ngày nay, do đó, chính là cuộc đấu tranh chống lại việc tách rời tính dục khỏi hôn nhân, tầm thường hóa nó để chỉ còn là một món hàng đổi chác, hay thao túng, cướp đoạt tùy thích. Trong bối cảnh này, sứ mệnh Kitô Giáo là giúp nền văn hóa đương thịnh đặt tính dục vào đúng viễn tượng của nó, đem nó trở về với môi trường hay đúng hơn quĩ tích tự nhiên của nó, như hai chương đầu của sách Sáng Thế đã trình bày. Không phải vì vô tình, soạn giả Sáng Thế đã cho trình thuật “sinh sản” lên trước trình thuật “kết hợp” và truyền thống Công Giáo trước đây không hẳn phi lý khi gọi sinh sản con cái là mục đích đệ nhất đẳng và kết hợp tính dục là mục đích đệ nhị đẳng. Đệ nhất hay đệ nhị đẳng không hề nói lên liên hệ giá trị hay diễn trình tâm lý, mà chỉ nhấn mạnh tới việc đầu hết phải có một môi trường, một quĩ tích cho hành vi tính dục, nhiên hậu mới tiến hành hành vi quấn quít nhau để trở thành một thân xác. Sáng Thế không nói tới tình yêu, mà nói tới hành vi quấn quít nhau để trở thành một thân xác (tính dục).

Tiến sĩ Thomas L. Constable, một giáo sư Thánh Kinh của Chủng Viện Thần Học Dallas, trong bộ Bible Study Notes (66 cuốn) ấn bản năm 2010, khi chú giải Diễm Ca, đã cho rằng: trong tác phẩm này, tính dục là thành phần chính đáng của tình yêu lứa đôi, nhưng ta phải dành nó cho hôn nhân mà thôi (2:7; 3:5) và chỉ thực hành nó với người phối ngẫu trong hôn nhân của mình (6:3; 7:10; 8:12). Theo ông, mục đích đệ nhất đẳng của sách là trình bày một điển hình về mối liên hệ tiền hôn nhân, hôn nhân, và hậu hôn nhân giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Điển hình này cũng cho thấy nhiều minh họa về cách giải quyết các vấn đề chung mà các cặp hôn nhân thường gặp phải trong cả ba giai đoạn hôn nhân trên.

Căn cứ vào nhận định trên, Tiến Sĩ Constable đã đưa ra một bố cục nhất quán cho sách. Trong khi ấy, Murphy, vì nghĩ rằng sách không có một cấu trúc rõ rệt, nên đã dựa vào các cuộc đối thoại để chia sách thành 11 phần: phụ đề (1:1), dẫn nhập (1:2-6), đối thoại giữa 2 người yêu (1:7-2:7), hoài niệm (2:8-17), mất và thấy (3:1-5), đám cưới (3:6-11), đối thoại giữa 2 người yêu (4:1-5:1), đối thoại giữa Người Đàn Bà và Các Thiếu Nữ Giêrusalem (5:2-6:3), đối thoại giữa 2 người yêu (6:4-12), cuộc đối thoại khác (7:1-8:4), phụ lục (8:5-14).

Cha Nguyễn Thế Thuấn cũng cho rằng Diễm Ca không có bố cục rõ rệt, vì đây chỉ là một sưu tập nhiều ca khúc, được nối kết với nhau nhờ đề tài chung là tình yêu. Do đó, theo Cha, chia sách thành 5 ca khúc có tính cách trình bày nhiều hơn, nghĩa là không nên tìm ở mỗi ca khúc một sự tiến triển về tư tưởng hay hành động. Người ta có thể chọn trong đó một ca khúc để sử dụng tùy theo hoàn cảnh hay cử tọa và các ca khúc này không phải để được đem sử dụng liền một lúc, vì chúng chỉ là những lối diễn tả khác nhau của cùng một đề tài.

Dường như cácg bố cục trên làm nghèo ý nghĩa của sách nhiều lắm. Đối với Constable, sách có một bố cục gắn bó nói lên mục đích đệ nhất đẳng của nó: tính dục trong cả ba giai đoạn của hôn nhân. Ông đề nghị một bố cục như sau:

I. Phụ đề (1:1)
II. Giai đoạn tán tỉnh (1:2-3:5)
A. Khởi đầu của tình yêu (1:2-11)
1. Mong người con trai (1:2-4)
2. Sự bất an của người con gái (1:5-8)
3. Ca ngợi người con trai (1:9-11)
B. Tình yêu lớn mạnh (1:12-3:5)
1. Ngưỡng mộ nhau (1:12-2:7)
2. Gia tăng hoài nhớ (2:8-17)
3. Nỗi đau xa cách (3:1-5)
III. Đám cưới (3:6-5:1)
A. Rước dâu (3:6-11)
B. Hoàn hợp (4:1-5:1)
1. Sắc đẹp cô dâu (4:1-7)
2. Chàng rể yêu cầu (4:8)
3. Tình yêu cô dâu (4:9-11)
4. Sự trong trắng của cô dâu (4:12-15)
5. Cô dâu hiến thân (4: 16-5:1)
IV. Diễn trình chín mùi (5:2-8:4)
A. Vấn đề lãnh cảm (5:2-6:13)
1. Dửng dưng và rút lui (5;2-8)
2. Âu yếm trở lại (5:9-6)
3. Tiến tới giảng hòa (6:1-3)
4. Phục hồi thân mật (6:4-13)
B. Thông đạt tình âu yếm (7:1-10)
1. Nét quyến rũ của người vợ (7:1-6)
2. Thèm muốn của người chồng (7:7-9)
3. Nên một trọn vẹn (7:10)
C. Sáng kiến của người vợ (7:11-13)
D. Gia tăng thân mật (8:1-4)
V. Kết luận (8:5-7)
VI. Lời bạt (8:8-12)
A. Quá khứ (8:8-12)
B. Hiện tại (8:13-14)

Constable cho rằng đặc điểm nổi bật trong phần đầu của Diễm Ca là việc tiết dục trong giai đoạn tán tỉnh làm quen (courtship), tương phản với sự xuồng xã tính dục sau ngày cưới (3:6-5:1 và 5:2-8:4). Dù câu 4 viết rằng: “Vua đã đưa tôi vào trong phòng ngài”, nhưng theo Constable, phải hiểu câu này như một ước muốn: ước chi ngài đưa tôi vào trong phòng ngài. Và dù hai kẻ yêu nhau hết lời ngưỡng mộ nhau, các sức mạnh phá hoại cuộc tình của họ ngay trong giai đoạn này không hẳn không ám ảnh họ. Hình ảnh những con chồn phá phách vườn nho được lồng vào câu 2:15 đã khéo léo nhắc họ điều đó.

Nhưng dù có vấn đề, nàng Sulamít vẫn hân hoan vững tin vào khối tình của người yêu: “Người yêu tôi thuộc về tôi, và tôi thuộc về chàng” (câu 2:16). Theo Constable, câu 2: 17 muốn diễn tả hoài mong chóng tới ngày cưới và cuộc hoàn hợp thể xác của họ. Ông trích dẫn lời của Richard S. Hess, trong “Song of Songs” (trang 123): Trái với một số nhà chú giải, Diễm Ca không mô tả tính dục như một mục tiêu vĩ đại và cuối cùng để cảm nghiệm được niềm vui đích thực. Nó cũng không cho rằng việc ngưỡng mộ nhau của hai người yêu, thân xác thể lý và tính dục của họ là nguồn duy nhất tạo niềm vui kia. Đúng hơn, Diễm Ca trực tiếp liên kết niềm vui tâm hồn với cam kết cuối cùng là hôn nhân. Chỉ trong cam kết này mọi niềm vui của hai kẻ nam nữ yêu nhau mới phát sinh, vì chỉ ở đấy họ mới có được sự tự do để phát biểu các niềm vui kia một cách vô hạn chế, bởi biết rằng sợi dây hôn phối đã đóng ấn cho tình yêu của họ bằng một cam kết suốt đời cho nhau.

Rồi ngày cưới đến và tiếp theo là cuộc hoàn hợp. Việc rước dâu long trọng trong Diễm Ca làm nổi bật sự kiện này: hôn lễ là biến cố quan trọng nhất của đời người, nó có tính thánh thiêng. Đêm tân hôn dĩ nhiên là lúc khám phá trọn vẹn sắc đẹp của nàng dâu. Ở đây, chàng Salômôn hết lời ca tụng người vợ yêu của mình, từ tóc tới răng, từ thái dương tới cổ… Nhất là sự trong trắng của nàng: “Em là vườn khóa chặt… là suối niêm phong” (câu 4:12).

Tất cả dành cho chàng Salômôn. Câu 4:16 là lời nàng mời chàng vào “vườn của chàng mà ăn hoa quả thời trân của chàng”. Và chàng Salômôn “đã vào vườn anh, gặt lấy mộc dược cùng với xạ lan. Anh ăn cả tảng mật ong. Anh uống rượu của anh cùng với sữa” (5:1). Phần chót của câu này: “Ăn đi hỡi các bạn, uống đi! Say đi, hỡi các bạn yêu dấu!” vừa khuyến cáo bạn bè bước theo điển hình của mình vừa nói lên bản chất hoàn toàn thỏa mãn của cảm nghiệm tính dục.

Qua câu trên, Constable cũng cho thấy chiều kích công của hôn nhân. Khi người yêu trao thân cho người mình yêu, thì liên hệ giữa họ với nhau đã thay đổi trước mặt toàn thể cộng đồng. Bởi thế, theo truyền thống của ta, không thể cử hành một đám cưới mà không có nhân chứng. Hôn nhân là một vấn đề công cộng.

Câu 5:1 có thể coi là kết thúc giai đoạn ngây ngất vì tình, giai đoạn si tình, để bước qua giai đoạn sống cho tình yêu dù phải “leo đèo lội suối”: giai đoạn trưởng thành trong tình yêu, trong đó, vợ chồng gặp rất nhiều vấn đề mà họ phải tìm ra giải pháp. Trước nhất là vấn đề lãnh cảm. Ngay sau ngày cưới, nàng Sulamít bỗng nhiên không nồng nhiệt đáp ứng biểu lộ âu yếm của chàng Salômôn nữa, có thể là vì giận chàng về nhà khuya; nên nàng viện cớ là đã lên giường, không thể mở cửa. Đến khi hết giận, thì chàng đã bỏ đi, để lại một người vợ hốt hoảng, lên đường tìm chồng, bị lính canh tưởng lầm là gái ăn sương đánh cho một trận và phải cầu cứu bạn bè tìm hộ chàng. Chi tiết sau chỉ là cái nút để soạn giả nói lên lòng ngưỡng mộ của vợ đối với chồng khi trả lời câu hỏi của bạn bè: “Người yêu của cô có gì hơn người”. Chính cái tình yêu còn đậm đà, lòng ngưỡng mộ và cam kết nồng nàn đối với chồng ấy giúp nàng lần mò ra dấu vết chàng “đã xuống cánh vườn” (6:2) và đã được đoàn tụ cùng chàng với điệp khúc quen thuộc “tôi thuộc về người yêu của tôi, và người yêu của tôi thuộc về tôi (6:3) như xưa, có khi còn hơn xưa, bởi vì lời đầu đoàn viên là lời chàng khen ngợi nàng thật dài hơi đến tận 8 câu của chương 6 và tiếp 9 câu của chương 7! Chàng nâng nàng lên hàng cao sang hơn hoàng hậu “có một không hai, bồ câu của anh, toàn mỹ của anh” (câu 6:8-9). Chính ở chỗ này, Giáo Hội và nhiều bậc thánh nhân đã nghĩ tới Thánh Nữ Đồng Trinh, vì “Cả đám nương tử phải kêu lên: diễm phúc! Hoàng hậu với các cung phi, nhất tề khen ngợi. Kìa bà nào mắt nhìn xuống như rạng đông, đẹp như mặt trăng, rực rỡ như mặt trời, lẫm lẫm như đoàn quân?” (6: 9-10). Tóm lại, chỉ có nàng và chỉ có nàng mà thôi. Khiến đám đông cũng muốn ngắm nhìn dung nhan nàng (7:1). Và chàng khen tiếp, không hổ thẹn nói tới cặp đùi, rốn cùng bụng vợ và nhất là 3 lần liên tiếp ca tụng nhũ hoa vợ như “cặp nai tơ” (7:4), như “chùm quả” (7:8), “những chùm nho” (7:9). Tóm lại, đẹp cả “phần hồn lẫn phần xác”! Và tình yêu của hai người chính thức bước vào tuổi trưởng thành. Tính dục của họ phản ảnh một tự do gia tăng trong biểu thức và thưởng ngoạn. “Với tôi, chàng những hăm hở!” (7:11) và nàng “sẽ hiến chàng, ân ái của em” (7:12), sẽ hôn chàng ngay ở ngoài đường mà không sợ ai khinh (8:1).

Thế là từ tha hóa họ quấn quít lấy nhau trong một yêu đương nồng nàn hơn bao giờ hết “Tôi gối đầu lên cánh tay trái chàng, và tay phải chàng ủ trên tôi” (8:3). Và rồi một giấc ngủ vùi lại đã xuất hiện, giấc ngủ từng đổ xuống Adong trong Địa Đàng, khi Thiên Chúa lấy một xương cụt của ông để nặn nên Evà. Chỉ khác, giờ đây Địa Đàng không còn, nên nàng phải xin các nữ tử Giêrusalem “xin đừng lay thức” (8:4).

Đối với nàng, giờ đây, tình yêu mạnh như tử thần, vì là ngọn lửa Gia(vê), nước lũ không dập tắt được, sóng dữ không nhận chìm được, thí cả sản nghiệp cũng không đổi được tình yêu (8:6-7). Tình yêu không thể mua bán, nó là một tặng phẩm.

Ngày nay, khi “cuộc cách mạng tình dục” đang dẫn con người xa khỏi mạc khải Thiên Chúa liên quan tới lãnh vực tính dục, ta cần trình bày cho họ nội dung của Diễm Ca dưới chiều kích vừa trình bày, như nhận định của Paige Patterson (Song of Solomon tr.9): “Diễm Ca là phản cực chân thực đối với một xã hội dâm loạn vốn đánh đĩ bản chất thánh thiêng của tình yêu nhân bản. Hy vọng toát ra từ từng trang của sách. Nếu có sách nào từng được viết ra với một sứ điệp nổi bật hơn đối với hế hệ tương lai, thì ca khúc của Salômôn chính là sách đó”.

Vũ Văn An

Đọc nhiều nhất Bản in 16.07.2012. 19:20