Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 9/2014

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Diễm Ca và tình yêu nhân bản (2)

§ Vũ Văn An

Thánh Bernard thành Clairvaux và Diễm Ca

Tuy nhiên, không vị thánh nào “khai thác” ý nghĩa phúng dụ của Diễm Ca tuyệt diệu hơn Thánh Bernard thành Clairvaux, vị thánh có nền linh đạo và một huyền nhiệm học hoàn toàn qui Kitô. Đối với ngài, viết gì thì viết, ngài chỉ trân quí bản văn nào nói về Chúa Giêsu; suy luận gì thì suy luận, ngài cũng sẽ không nghe nếu suy luận đó loại bỏ Chúa Giêsu; “với tôi, Chúa Giêsu là mật ngọt trong miệng, là âm nhạc và bài ca êm tai”. Không lạ gì Diễm Ca được ngài phân tích như một tình ca giữa Chúa Giêsu và tâm hồn đan sĩ, để “tình âu yếm dành cho Chúa Giêsu Kitô phải vừa dịu dàng vừa thân mật”.

Trong 18 năm, Thánh Bernard viết tất cả 86 bài giảng về Diễm Ca, được coi là tuyệt tác phẩm đáng kính của nền văn chương đan viện thời Trung Cổ. Đối với ngài, Diễm Ca là một phúng dụ tuyệt vời về tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu ta có thể cảm nghiệm bằng chiêm niệm. Đây là một văn bản siêu mẫu dành cho các đan sĩ, vì các dòng thơ của nó mô tả một cách hết sức sinh động cuộc chạy tìm căn bản nhất của cuộc sống đan viện: kết hợp với Thiên Chúa, một sự kết hợp mà vị đan sĩ có thể nếm trước sự dịu ngọt của nó ngay ở đời này.

Trong lời dẫn nhập, Thánh Bernard cho rằng nếu phải chú giải Diễm Ca cho người “ngoài đời”, ngài sẽ viết cách khác. Đối với họ, vốn là “các trẻ thơ” như kiểu nói của Thánh Phaolô, ngài sẽ chỉ cho uống sữa thay vì thức ăn đặc. Trái lại với những người đã “giác” về phương diện thiêng liêng như các đan sĩ, những người đã trưởng thành, những người “đã học hỏi giáo huấn thần linh, đã kiềm chế được giác quan, và ngày đêm suy niệm lề luật Thiên Chúa”, ngài phải cho ăn bánh. “Vậy các con hãy sẵn sàng để được ăn bánh thay vì uống sữa. Salômôn có bánh ngon ngọt để các con ăn, bánh sách có tên là Diễm Ca. Ta hãy đem nó ra để cùng chia sẻ”.

Ngài đã tiếp cận Diễm Ca như thế. Chỉ một câu thơ đầu tiên thôi “Ước gì miệng kề sát, chàng hôn ta, hôn lấy hôn để” (1:1) đã khiến ngài dành cả 7 bài giảng để khai triển và tìm thấy trong câu ấy cả một diễn trình tiến tới đỉnh cao dịu ngọt của cuộc kết hợp nhiệm mầu với Chúa Kitô Chàng Rể, Đấng Trung Gian giữa linh hồn tội lỗi và Thiên Chúa dấu ẩn.

Ngài coi câu trên như nỗi ngong ngóng đầy thèm khát của những con người thánh thiện tiền Kitô Giáo mong chờ Đức Kitô. Họ mong được gặp, được Người ôm hôn bằng chính môi miệng Người, không phải môi miệng Môsê, “kẻ nói lắp bắp”, không phải môi miệng Isaia có “làn môi bẩn”, cũng không phải Giêrêmia, kẻ “chỉ là con nít”, không phải môi miệng của bất cứ tiên tri nào, nhưng là môi miệng của chính Đấng được những người này công bố. Họ cũng không muốn Người đến với họ bằng con người của những người này, những người chỉ như “đêm đen đẫm sương, như làn mây đặc” mà là bằng chính con người của Người, vì chỉ có Người mới đầy tình yêu, mới có giáo huấn diệu kỳ chẩy thành suối mát. Thực vậy, “lời hằng sống, lời sinh động của Người đối với tôi chính là nụ hôn”. Nụ hôn này phải là từ môi miệng Người, không phải từ bất cứ người phàm hay thiên thần nào.

Ý nghĩa thứ hai, hôn cũng là dấu hiệu của hòa giải. Hứa hẹn hòa bình là điều bao đời tiên tri vẫn nhắc đi nhắc lại mà nào có thấy. Cho nên con người tiền Kitô Giáo mong mỏi không phải lời hứa nữa mà là “cái hôn” hòa bình từ chính miệng lưỡi Đấng có thể tạo hòa bình. “Người từng gửi tôi tớ mang gậy mục tử tới, nhưng cả lời nói lẫn sự sống vẫn chưa tới. Tôi sẽ không trỗi dậy, tôi sẽ không thức giấc, tôi sẽ không rũ hồng trần, cũng không hít hơi hy vọng, nếu chính Đấng Tiên Tri không tới và hôn tôi bằng cái hôn từ miệng Người”

Thứ ba, Thánh Bernard cho hay Đấng tự cho mình làm trung gian cho ta với Thiên Chúa là chính Con Thiên Chúa, Đấng cũng là Thiên Chúa. Nhưng làm sao “tôi có niềm tự tin, lòng can đảm dám phó thác cho một Đấng quá uy nghi như thế? Làm thế nào một người như tôi, chỉ là tro bụi, lại dám giả thiết rằng Con Thiên Chúa, cũng là Thiên Chúa, lại quan tâm đến mình? Người hoàn toàn chìm đắm trong Chúa Cha đầy yêu thương, đâu cần tới tôi hay bất cứ điều gì được tôi sở hữu. Như thế, làm sao tôi an tâm được rằng nếu Người làm trung gian cho tôi, Người sẽ không bao giờ bỏ rơi tôi? Nếu, như các tiên tri từng phán, thực sự Thiên Chúa quyết tâm tỏ lòng nhân hậu, tự mặc khải dưới một ánh sáng nhân hậu hơn, thì Người hãy thiết lập ra một giao ước hòa bình, một giao ước mãi mãi với tôi bằng nụ hôn từ miệng Người. Nếu Người không muốn thu hồi lời Người đã nói ra, thì Người hãy tự đổ mình ra, Người hãy tự khiêm hạ, hãy tự cúi mình xuống và hôn tôi bằng cái hôn từ miệng Người. Nếu đấng trung gian muốn được cả đôi bên chấp nhận, được cả đôi bên trông cậy như nhau, thì Con Thiên Chúa hãy làm người, hãy trở thành Con Người, và làm tôi tin chắc bằng cái hôn từ miệng Người. Khi nào tôi nhận rõ Người thực sự của tôi, tôi mới an tâm chào đón Người như đấng trung gian của tôi”.

Nói tóm lại, theo Thánh Bernard, vì Chúa Kitô chậm đến và toàn thể nhân loại có nguy cơ sa vào tuyệt vọng, nên những con người thánh thiện tiền Kitô Giáo “mong có được một sự bảo đảm mạnh mẽ hơn mà chỉ có sự hiện diện nhân bản của Người mới mang tới được. Họ cầu nguyện tha thiết để có được một dấu chỉ cho thấy giao ước sắp sửa được tái lập cho một dân tộc đã mất tinh thần, mất lòng tin”. Dấu chỉ này đã được ông già Simeon tiếp nhận hân hoan, nhưng bị Herod bác bỏ tàn nhẫn, được các mục đồng chào đón, nhưng vẫn dấu ẩn đối với bậc học giả, người khôn ngoan, chỉ những người có thiện chí mới thấy.

Dài dòng trích dẫn lời chú giải của Thánh Bernard về “nụ hôn” mà thôi để cho thấy dưới ngòi bút chiêm niệm tuyệt vời của ngài, Diễm Ca nguyên tuyền là một “thủ bản” linh đạo cho những bậc “giác ngộ”. Tiếc rằng Thánh Bernard chỉ chú giải 2 chương đầu và câu đầu tiên của chương 3. Phạm vi bài này không cho phép khai thác thêm 84 bài còn lại của Thánh Nhân. Độc giả có thể tham khảo trọn 86 bài giảng của ngài tại www.pathoflove.com.

Phỏng theo lối diễn tả kích cảm của bài ca, Thánh Bernard đã gợi trong trí tưởng tượng người đọc những hình ảnh thể lý sống động không kém. Ngài hỏi: “Như thế, thử hỏi các con sẽ làm gì? Liệu môi các con vừa đầy nhơ nhuốc có dám đụng tới đôi môi chí thánh hay không? Được kéo ra khỏi vũng bùn mới hôm qua đây, hôm nay, các con có dám tự trình diện trước nhan quang vinh hay không? Hãy để tay (Chúa Giêsu) dẫn đường. Tay (Người) sẽ đụng tới các con và nâng các con dậy” và sau cùng kéo các con vào đôi môi Người, đôi môi “đẹp, đáng kính một cách thần thánh xiết bao, không phải chỉ để ngắm nhìn, mà còn để hôn kính”.

Tình âu yếm được Thánh Bernard dành cho Chúa Giêsu ở đây dĩ nhiên hoàn toàn trong trắng và đẹp đẽ, không hề có dáng dấp của những liên tưởng đồng tính luyến ái mà một số độc giả hiện đại có thể có. Thật hiếm họa có được một cái nhìn say mê thân mật về nét đáng yêu của con người Giêsu. Ngài viết: “Ngay vẻ đẹp của các thiên thần đối với cha cũng tẻ nhạt. Vì Chúa Giêsu của cha vượt xa các ngài về vẻ đẹp và vẻ đáng yêu. Chính vì thế, cha xin Người, chứ không phải bất cứ thiên thần hay con người nào khác, hôn cha bằng cái hôn của môi miệng Người”. Trong nền linh đạo đan viện, dữ kiện “giác quan” thể lý này được tô vẽ lên trí tưởng tượng và được diễn dịch thành các “giác quan thiêng liêng” của âu yếm và ước muốn đối với Thiên Chúa, một sự bồn chồn ray rứt thấm nhiễm trọn cả con người. Trí tưởng tượng có tính cảm nhận mà Thánh Bernard gọi là “cuốn sách của kinh nghiệm” mở cửa không những cho ý chí và trí hiểu, mà cho cả những nơi sâu kín, trong đó ta mãi mãi là một mầu nhiệm cho chính mình.

Thánh Gioan Thánh Gía

Truyền thống phúng dụ lẽ dĩ nhiên được Thánh Gioan Thánh Giá (1542-1591) tiếp nối. Ngài là khuôn mặt quan trọng của phản Cải Cách, một tu sĩ và linh mục Dòng Carmel, một nhà thơ nổi danh và nhất là nhà thần bí hàng đầu của Tây Ban Nha, với nhiều tác phẩm danh tiếng. Ca Khúc Thiêng Liêng (Spiritual Canticle) của ngài được coi như bản đồng giao (eclogue), trong đó nàng dâu (tượng trưng cho linh hồn) đi tìm chàng rể (tượng trưng cho Chúa Giêsu) và hết sức lo lắng mất chàng; cả hai sau đó hân hoan được tái hợp. Tác phẩm này vốn được coi là bản dịch tự do Sách Diễm Ca sang tiếng Tây Ban Nha vì hồi đó việc dịch Thánh Kinh qua tiếng bình dân bị ngăn cấm.

Viết cho Nữ Đan Viện Trưởng Ana de Jésus, Thánh Gioan Thánh Giá nói rằng Ca Khúc Thiêng Liêng là một “biểu thức tình yêu phát sinh từ cái hiểu thần bí”. Ngài giải thích rằng khi một ai đó có được những cảm nghiệm này trong lúc cầu nguyện, họ sẽ “để một phần kinh nghiệm ấy trào dâng thành hình ảnh, so sánh, ví von và từ sự phong phú của tinh thần họ, trào ra những bí ẩn và mầu nhiệm hơn là những giải thích thuần lý”. Đối với người đọc, khi những soạn tác ấy được đọc lên, chúng giống như “những điều phi lý” hơn là những phát biểu hợp lý. Và Thánh Gioan Thánh Giá viết thêm: Diễm Ca và nhiều chỗ khác trong Thánh Kinh cũng thế, nơi ấy Chúa Thánh Thần không thể “phát biểu trọn vẹn ý nghĩa của Người bằng ngôn từ thông thường được”. Ngài nói thêm: các tiến sĩ thánh thiện không bao giờ giải thích được trọn vẹn điều các ngôn từ của Thánh Kinh muốn nói; những giải thích về các phát biểu ấy của Thánh Kinh “thường chứa đựng ít hơn điều chúng nhập thân”

Ta hãy xem một mẩu chú giải trong Ca Khúc Thiêng Liêng về câu “Tôi tìm chàng nhưng không thấy chàng đâu” của Diễm Ca 3:1: Người yêu ơi, anh ẩn ở đâu, để em phải thổn thức? Bạn hỏi: Đấng mà hồn tôi yêu thương ở trong tôi, nhưng sao tôi không thấy Người hay không cảm nhận được Người? Lý do là vì Người luôn ẩn mình và bạn thì lại không chịu ẩn mình để có thể gặp và cảm nhận được Người. Bất cứ ai muốn tìm thấy một kho tàng dấu ẩn thì phải bí mật đi vào nơi dấu ẩn và một khi khám phá ra nó, họ cũng sẽ dấu mình đi y như kho tàng đó vậy. Như thế, vì Chàng Rể yêu của bạn là kho tàng dấu ẩn trong cánh đồng, khiến người lái buôn khôn ngoan phải bán hết gia tài để mua lấy (Mt 13:44), và cánh đồng ấy chính là linh hồn bạn, thì muốn tìm thấy Người, bạn phải quên hết mọi của cải của bạn và mọi thụ tạo và đi ẩn trong căn phòng nội thẳm và kín nhiệm là tinh thần bạn. Và ở đó, đóng cửa lại (đóng ý chí bạn khỏi mọi sự), bạn sẽ cầu cùng Chúa Cha của bạn trong sâu nhiệm (Mt 6:6). Cứ ẩn mình như thế với Người, bạn sẽ cảm nhận được Người trong nơi ẩn dấu, yêu thương và hưởng thụ Người trong nơi ẩu dấu, bạn sẽ được hân hoan với Người trong nơi ẩn dấu, một hân hoan vượt trên mọi ngôn ngữ và xúc cảm”

Diễm Ca trong truyền thống Thệ Phản

Kwok Pui-Lan, trong bài “Đụng tới cấm kị: bàn về tính dục của Chúa Giêsu” (Touching the Taboo: on Sexuality of Jesus) trong cuốn “Tính Dục và Thánh Thiêng: Các Nguồn Để Suy Tư Thần Học” (Sexuality and the Sacred: Sources for Theological Reflection) do Marvin M. Ellison và Kelly Brown Douglas biên tập, cho hay: Theo nhà thần học thệ phản Albrecht Rischl thế kỷ 19, lối Thánh Bernard sử dụng ngôn từ gợi tình (erotic) như hôn tay, chân, môi miệng Chúa Giêsu để diễn tả sự kết hợp tình yêu giữa Người và linh hồn tín hữu, hay diễn tả Thiên Chúa yêu thương ta một cách đầy kích cảm (sensuous), say mê và mạnh bạo là lối diễn tả, ngay từ đầu, không hề có chỗ đứng trong nền tu đức Thệ Phản. Ông bảo thứ kết hợp thần bí như thế chỉ thích hợp với các đan sĩ, những người không phải đương đầu với các cám dỗ trong thế giới phàm trần. Tín hữu Thệ Phản thì phải vật lộn với cuộc sống hằng ngày trong niềm tín thác nơi Thiên Chúa, tiếp giáp nhiều với tội lỗi, tội lụy. Ông bảo lòng đạo của người Công Giáo thiên nhiều về súc động hay ước muốn tình cảm trong khi người Thệ Phản, vì chịu ảnh hưởng của Luther và Calvin, nên thiên nhiều về khắc khổ, khổ hạnh hơn do lối hiểu khác nhau của hai bên về ơn thánh. Ritschl viết rằng: “Việc chắc chắn được hòa giải như đã được diễn tả trong niềm tín thác vào Thiên Chúa là giả thiết cần có trước đối với Kitô hữu Thệ Phản nếu họ muốn được thánh hóa, trong khi đối với người Công Giáo, sự vui hưởng ơn cứu chuộc trong tình giao hảo dịu dàng với Đấng Cứu Chuộc là một phụ khoản (appendage) khả hữu thêm vào cho việc thánh hóa của họ”.

Tuy thế, Martin Luther (1483-1546) vẫn lẩn quẩn trong truyền thống phúng dụ. Khi chú giải Sách Diễm Ca, dù ông chủ trương phải đi tìm “ý nghĩa đơn giản nhất” cho nó, nhưng ý nghĩa đơn giản nhất ấy vẫn là ý nghĩa phúng dụ, chỉ khác một điều: ông hiểu nàng dâu của Diễm Ca là vương quốc, là nhân dân của Salômôn. Trong lời nói đầu viết năm 1539, ông bảo: “Tôi nghĩ đây là bài ca trong đó Salômôn tán dương Thiên Chúa bằng các bài thần tụng của mình; ông cảm tạ Thiên Chúa vì Người đã thiết lập và củng cố vương quốc và sự cai trị của ông… Ông cầu xin Người gìn giữ và mở rộng vương quốc ấy… Salômôn… viết bài ca của ông để nói về vương quốc và sự cai trị của ông”. Luther quả quyết: “Diễm Ca không bàn tới câu truyện của cá nhân, mà là bàn tới một chính phủ bền vững…”. Ông viết thêm rằng: thói quen của các vị vua là sử dụng những ngôn từ cao xa và đầy biểu tượng để soạn ra các ca khúc yêu đương khiến quần chúng khi đọc lên tưởng là truyện tình giữa nàng dâu và chàng rể mà thực ra đó là tình hình quốc gia và nhân dân họ. Với Luther, “Salômôn biến Thiên Chúa thành chú rể và dân ông thành nàng dâu”, Diễm Ca là “bản tán dương trật tự chính trị” (Xem Martin Luther, Luther’s Works, Philadelphia: Muhlenberg Press and Saint Louis: Concordia Publishing House, 1957, các trang 193 và 195).

Tóm lại, Luther cực lực bác bỏ lối giải thích cho rằng Diễm Ca nói về cuộc tình giữa Salômôn và Công Chúa Ai Cập, hay liên hệ giữa Chúa Giavê và Hội Đường Do Thái, hoặc cuộc tình giữa Người và linh hồn cá nhân. Trái lại, theo ông, nó nói vương quốc, nhân dân. Tuy nhiên, cần nhớ, trong thần học của Luther nhân dân đây bao giờ cũng được hiểu là dân thánh, những người sở hữu Lời Thiên Chúa và việc thờ phượng Người, nói cách khác là chính Giáo Hội. Vì thế, đối với ông, ngôn từ của Diễm Ca vẫn là ngôn từ “tượng hình”, “cao xa”, “minh họa”, “trang trí” cho chủ đề phúng dụ. Riêng đối với Thánh Bernard, Luther có lòng tôn trọng và chưa hề bao giờ “xách mé” với thánh nhân, luôn gọi ngài là beatus hay sanctus (Xem Theo Bell, “Luther’s Reception of Bernard of Clairvaux’ trong Concordia Theological Quarterly). Ông không đích danh phê phán thánh nhân. Riêng đối với hình tượng nàng dâu trong nền thần bí Latinh, có lúc ông sử dụng có lúc ông bác bỏ vì các âm hưởng quá gợi tình của nó. Ông chú trọng hơn tới chiều kích Giáo Hội.

Phần John Calvin (1509-1564), theo James T. Denison (Solomon’s Sublime Song), ông là người bênh vực tính qui điển của Diễm Ca, ngược với người cộng tác là Sebastian Castellio, lúc ấy đứng đầu Học Viện Geneva, người coi Diễm Ca chỉ là một tình ca xàm xỡ, không đáng cho vào qui điển Thánh Kinh. Chính vì sự bất đồng này mà hai người chia tay nhau. Theo Davidson của Trường Đại Học Andrews, đến thời này, lối giải thích phúng dụ đối với Diễm Ca vẫn còn thịnh hành, nhưng những ai giải thích nó theo nghĩa chiểu tự, phần đông không còn bị kết án nữa. Và người có công xoay chuyển tình thế, chính là John Calvin. Nhà Cải Cách này chủ trương rằng Diễm Ca vừa được Thiên Chúa linh hứng vừa là một ca khúc ca ngợi tình yêu nhân bản.

Như thế, có thể cho rằng ảnh hưởng lối giải thích Diễm Ca của Sebastian Castellio khá lớn đối với Calvin. Không lạ gì Castellio đã được lấy làm mốc cho khúc quanh nhất định trong diễn trình giải thích Diễm Ca của Kitô Giáo. Cũng theo Davidson, nhà Thanh Giáo người Anh Edmund Spencer (1552-1599), thi hào của tuyệt tác phẩm The Faerie Queene, xem ra là người đầu tiên bước chân theo Castellio và Calvin trong việc coi Diễm Ca là lời tán tụng tình yêu nhân bản.

Bách Khoa Công Giáo ấn bản năm 1914 cũng cùng một nhận định như thế. Theo bộ Bách Khoa này, hai thế kỷ sau, nhà Lãng Mạn Đức J.G. von Herder (1744-1803) cũng đi theo đường lối giải thích chiểu tự này. Năm 1778, Herder viết như sau về Diễm Ca: “Từ đầu đến cuối, nội dung của nó là : 1) tình yêu, và tình yêu… Nó ca ngợi nụ hôn và kết thúc bằng tiếng thở dài dịu dàng… 2) và đúng như thế, nó ca tụng tình yêu, vì tình yêu đáng được ca tụng, một cách đơn sơ, ngọt ngào, dịu dàng, tự nhiên”

Sau Herder, hầu hết các nhà thần học Thệ Phản tiếp nhận Diễm Ca như một sách linh hứng về tình yêu vợ chồng. Tuy nhiên, Davidson nhấn mạnh: chỉ đến thế kỷ 20, khuynh hướng ấy mới thực sự trổi vượt. Dù có khác nhau về nhiều chi tiết có ý nghĩa, nhưng xét chung, khuynh hướng này không ngần ngại khám phá tính dục trong Diễm Ca, để ca ngợi “phẩm giá và sự trong sạch của tình yêu nhân bản” giữa một người đàn ông và một người đàn bà trong hôn nhân.

Một tình yêu làm sống dậy trọn cả con người thể lý và tâm linh ta. Denison nhận định như sau: “Mọi giác quan của ta đều được thế giới Diễm Ca đánh thức. Con mắt ta là chứng nhân của bản tình ca. Lỗ tai ta là những con kênh tha thiết lắng nghe hai kẻ yêu nhau. Lỗ mũi ta là những bể chứa xạ hương của vở kịch. Miệng ta no thỏa với vị ngọt của tình yêu. Tay ta, vâng, và cả thân xác ta nữa, đều được cảm giác yêu đương mơn trớn. Bản tình ca của Thánh Kinh này quả là bản tình ca đầy kích cảm. Mọi giác quan của ta đều được thế giới Diễm Ca đánh thức.

“Ta được chiêm ngắm vẻ đẹp thể xác của nàng dâu (4:1-5:1-7) và chiêm ngưỡng nam tính tươi đẹp của chàng rể (5:10-16). Ta được nghe tiếng chim kêu (2:12) và tiếng be-be nhẹ nhàng của chiên mẹ, chiên con, cừu con cừu bố (1:8; 4:1,2), mũi ta sống động với dầu thơm (1:12; 3:6) và dạ thảo (4:14,16). Cây cỏ cùng hoa lá tỏa hương thơm phức (2:13; 4:13-16). Miệng ta đầy mật ngọt thơm ngon: mứt nho (2:5), nho vườn (2:15), vả (2:13), lựu (6:11; 7:12). Tay ta nâng niu những nữ trang quí giá (1:10, 11; 4:9); ngón tay ta khám phá những thân mình duyên dáng, những thân mình tắm bằng chất lỏng lung linh, những thân mình bọc trong hài (7:2), áo lót (5:3), gấm tía (3:10), những thân mình mơn trớn nhau (2:6; 8:3).

Tất cả những cảm giác phong phú trên xẩy ra trong cảm nghiệm của hai con người: người đàn ông và người đàn bà, hai con người đầy kích cảm nếm, nhìn, ngửi, nghe, cảm nhận tình yêu. Đó không phải là buổi khởi nguyên đó sao? Không phải là thế đó sao khi người đàn ông và người đàn bà đầu tiên cảm nhận tình yêu một cách đầy kích cảm? Một tình yêu nếm hưởng mọi điều tốt đẹp; một tình yêu cảm nhận mọi điều tốt đẹp; một tình yêu mà tai, mắt, mũi cảm nhận là tốt một cách tuyệt vời, siêu đẳng, rất tốt. Há không phải Thiên Chúa đã làm ra thế sao? Há chính Thiên Chúa đã không làm cho tình yêu ấy ra rất tốt đó sao? Một tình yêu kích cảm, một tình yêu nam nữ đầy kích cảm, rất tốt, tình yêu đàn ông đàn bà rất kích cảm. “Và Thiên Chúa thấy tất cả những gì Người làm ra đều rất tốt” (St 1:31)

“Diễm Ca đưa chúng ta trở về với thửa vườn ban đầu nơi Thiên Chúa dẫn người đàn bà tới cho người đàn ông để bổ túc cho anh ta. Diễm Ca giúp ta cảm nhận việc đó ra sao khi Thiên Chúa dẫn Evà tới cho Adong. Vì, như bạn thấy, Thiên Chúa biết, vâng Thiên Chúa biết rằng người đàn ông ở một mình, nghĩa là trong trạng thái bất toàn, không người bổ túc, là điều không tốt. Nên Thiên Chúa đã làm nên một cái tôi khác cho người đàn ông, một người chia sẻ hoàn bị, một cái nửa, một cái nửa duy nhất của chính anh ta, và hãy ngắm nhìn coi, nàng quả tốt đẹp xiết bao!

“Diễm Ca phần lớn diễn ra trong mùa xuân (2:10-13; 7:12-13). Hoa đang đua nở; quả đang xanh thơm trên cây; chim chóc đang ca vang khắp tổ; chiên cùng dê đang tung tăng trong cánh đồng. Sự sống mới đang bừng nở: hoa trái của kết hợp nam nữ là trổ bông sự sống (7:11-13). Toàn bộ trần gian hát lên niềm hớn hở, sức sống, tình đồng hành được người đàn ông và người đàn bà chia sẻ qua các bước yêu đương: tán tỉnh, cưới xin, hoàn hợp, và trọn đời yêu nhau.

Trường kịch đầy kích cảm của Diễm Ca được dàn dựng trong khung cảnh xuân thì mới được sáng tạo nơi một thửa vườn (6:11; 8:13). Chính trong một thửa vườn, Salômôn (chàng rể) và nàng Sulamít (nàng dâu) của chàng đã tán tỉnh nhau, đã kết hôn và phát triển thành một tình yêu hết sức mặn nồng khó đo, mạnh không thua cái chết (8:6). Hai người yêu của chúng ta đi dạo trong vườn, một địa đàng có đủ cây cối, thú vật và suối nước. Cảm thức yêu đương của họ phóng chiếu họ trở về với một thửa vườn khác, vườn địa đàng nơi người đàn ông thứ nhất và người đàn bà thứ nhất kết hợp với nhau. Diễm Ca là ca khúc của ngây ngất, một cử hành điều cặp uyên ương đầu tiên nếm hưởng trong trần truồng mà không xấu hổ (St 2:25).

“Nhưng Diễm Ca hiện diện trong Thánh Kinh sau cơn Sa Ngã của người đàn ông và người đàn bà vào tội lỗi. Diễm Ca xuất hiện sau Sáng Thế 3. Ca khúc tình yêu sau cơn Sa Ngã này không thể làm ngơ sự kiện: cuộc hôn nhân đầu tiên với những vui khóai say mê đầy kích cảm và vườn địa đàng kia đã bị hoen ố, vấy bẩn, tha hóa vì cơn Sa Ngã ấy. Tội lỗi đã phá hoại kích cảm tính nơi người đàn ông và người đàn bà. Nàng Sulamít phải tìm kiếm chàng Salômôn khắp các phố (3:1-5), tìm kiếm người mà hồn nàng yêu quí; điên khùng đi tìm chàng, hết lòng đi tìm chàng, mà tìm không ra. Sự tha hóa của tình yêu đã tìm về nhà trong một thế giới sa đọa; sự cô đơn của tình yêu tràn ngập, khiến nàng nằm giường ngong ngóng suốt đêm trường. Trong khi ấy, người mà hồn nàng yêu quí, người mà nàng tìm không ra, bị thay thế bởi nhóm lính canh, chỉ có họ thấy nàng. Nỗi cô đơn của nàng được phát biểu qua câu: “Các anh có thấy chàng không?” (3:3). Nhưng một kết thúc tốt đẹp cho cuộc phân ly và chạy tìm trong cô đơn đã diễn ra ở chương 3! Nàng đã tìm thấy người mà hồn nàng yêu quí và họ được hân hoan tái hợp (3:4, 5).

Nhưng cái mẫu tha hóa và phân cách sẽ được lặp lại ở chương 5. Tiếp theo cảnh cưới hỏi thân mật của 4:16 và 5:1, hai cảnh mà có người cho là tâm điểm của sách, một thứ bản lề cho hai phần 1:1-4:15 và 5:2-8:14 đu qua đu lại, nơi Thiên Chúa chúc lành cho 2 kẻ yêu nhau trong đêm tân hôn: “uống đi, say đi, hỡi những kẻ yêu nhau”), vâng sau cảnh cưới xin thân mật này, người con gái Sulamít lại phải đi tìm người yêu của nàng lúc ấy khuất dạng vì sự cự tuyệt của nàng (5:2-8). Vì một đêm kia, đi làm trễ về nhà, chàng bị nàng bảo: “Em đã cởi áo ngoài; em đã rửa chân” (5:3), làm sao chỗi dậy mà ra mở cửa? Nàng đã rơi vào cái bẫy nhàm chán vẫn thường bủa vây mọi cuộc hôn nhân. Nàng đã trở thành tự quyền tự mãn. Trong tình huống hậu cưới xin, nàng đã quên khuấy rằng nàng đâu thuộc nàng nữa, nhưng cả nàng lẫn chàng từ nay thuộc về nhau như một thân xác. Sự buồn chán của nàng, sự khó chịu của nàng, sự ích kỷ của nàng quả đã nổi loạn chống lại tính đơn nhất của hôn nhân. Và khi nàng chịu thua vì chàng tiếp tục gõ cửa, ra mở cửa hì chàng đã đi mất (5:6). Chàng cũng đã trở thành khó chịu, rút lui, khuất dạng, xa vắng, mất tăm. Một lần nữa, nàng lại phải điên cuồng lên đường tìm chàng, nhưng, không như ở chương 3, lần này, các lính canh đã thấy nàng và ra tay cho nàng một trận, coi nàng như thể một gái ăn xương (5:7).

Hiệu quả của một thế giới sa đọa đi sâu cả vào chính sợi dây hôn phối: thất vọng, cô đơn, khó chịu. Salômôn và nàng Sulamít của chàng đang nếm mùi tình yêu và hôn nhân ở bên ngoài Vườn Địa Đàng. Một thứ tình yêu hôn nhân đầy căng thẳng, tha hóa, cách ly, và cả thao túng nữa.

Ấy thế nhưng, cũng chính thân phận ấy đã là lý do khiến Diễm Ca có mặt trong Thánh Kinh. Sau Địa Đàng, ở bên kia Sa Ngã, người đàn ông và người đàn bà cần một mạc khải cho họ thấy tình yêu đáng lý phải ra sao, trước đó nó vốn như thế nào, Thiên Chúa đã tạo ra nó làm sao, cuộc hôn nhân thứ nhất vẫn phải là một mẫu mực như thế nào cả sau cơn Sa Ngã. Mẫu mực ấy nay chỉ có thể thể hiện nhờ một cuộc hôn nhân cánh chung, cuộc hôn nhân của Chúa Salamôn và phản loại hình Sulamít” tức Chúa Giêsu Kitô và Giáo Hội: “Người yêu là của tôi và tôi là của chàng”.

Dennison cho rằng trật tự mới này xâm chiếm trọn trật tự cũ; thể đời đời đi vào thể tạm bợ; sáng thế luận trở về cánh chung luận; chiều ngang bị chiều dọc chiếm hữu. Chỉ với cái nhìn đó, tín hữu mới hiểu trọn được Diễm Ca. Hay nói như Matthew Henry, chỉ khi nào ta chịu cởi giầy ra khỏi chân như Môsê và Giosuê xưa, có khi còn phải quên là ta có một thân xác, ta mới thấy đây là nơi thánh của mọi nơi thánh, nơi Thiên Chúa tỏ mình ra, là cổng đưa ta vào thiên đàng.

Tóm lại, Denison cho rằng Diễm Ca là một ca khúc linh hứng về yêu đương, đề cập tới tình âu yếm giữa chàng Salamôn và nàng dâu Sulamít của chàng. Hình ảnh đầy tính dục của sách thích đáng để người đàn ông và vợ mình cảm nhận được điều Thiên Chúa đã ban cho người đàn ông và người đàn bà đầu tiên trong Vườn Địa Đàng. Ở đây, ta có ca khúc hợp qui điển để cử hành tình yêu vợ chồng sau cuộc Sa Ngã. Hình ảnh chiếc vườn trong một thế giới bừng nở tốt tươi biểu tượng cho khung cảnh sáng thế luận của người đàn ông và người đàn bà trong cảnh thân mật không hề xấu hổ. Mỗi chương của sách đầy rẫy các hình ảnh khích động ngũ quan ta: cảnh (hoa lá), âm thanh (thú vật và chim chóc), hương (dầu thơm), vị (trái cây) và xúc giác (vẻ quyến rũ thể xác). Tình yêu, đúng hơn tình yêu tính dục vợ chồng, là một khám phá và ngất ngây đối với mọi giác quan. Hai người tình của chúng ta vui khoái trong nhau như Thiên Chúa đã muốn thế từ khởi nguyên. Họ chiếm hữu lẫn nhau, khao khát mong đợi sự kết hợp đến hoàn hợp tình yêu của họ. Họ nếm được một điều gì đó mầu nhiệm vốn hiện hữu ngay tại tâm điểm của bất cứ cuộc kết hợp thân mật nào, một mầu nhiệm mà sau này Thánh Phaolô bảo rằng phản ảnh được cuộc kết hợp giữa Chúa Kitô và nàng dâu của Người là Giáo Hội (Eph. 5). Diễm Ca vì thế có cả chiều kích trở lui, trở vào trong và tiến về phía trước. Nó đưa ta trở về với thửa vườn nơi Thiên Chúa tạo nên tính dục ta. Nó nhắc ta nhớ: trong hôn nhân, ta được mời gọi vươn lên cao quá cái trật tự tạo dựng sa ngã. Nó hướng ta tới lãnh vực cánh chung nơi tình yêu được hòan hảo hóa trong sự kết hợp đầy phúc và nhiệm mầu với Người Yêu Trên Trời là Chúa Giêsu Kitô.

Một số nhà chú giải Thệ Phản hiện đại cũng nhấn mạnh tới lối giải thích tạm gọi là hình loại học (typical) theo đó Diễm Ca chủ yếu diễn tả tình yêu mãnh liệt và say đắm có tính nhân bản giữa Salômôn và nàng dâu xinh đẹp của chàng, nhưng qua mối liên hệ hình loại học của Cựu Ước, nó cũng mô tả tình yêu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội hay linh hồn tín hữu.

Vũ Văn An

Đọc nhiều nhất Bản in 07.07.2012. 20:25