Dân Chúa ? | Liên Lạc |
RSS Feeds
Tháng 7/2010
Album Mới Nhất
- Hành hương Đức Mẹ Tàpao tháng Hoa 2010
- Di dời phần mộ Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp
- Linh mục đoàn tại Linh địa La Vang
- Hành Hương La Vang thường niên 2009
10 Bài Mới Nhất
- Mỗi ngày, xin hãy phó thác cho Chúa
- Nói và làm
- Sứ mệnh của Đức Kitô không phải là việc phán quyết về của cải vật chất phù vân
- Tòa Thánh khích lệ hàng giáo sĩ Trung Quốc
- Giáo sư Kenneth Howell, từng bị đuổi vì dạy đúng lý thuyết Công Giáo, được mời dạy trở lại
- Lễ Thêm Sức tại Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Nhai, Bùi Chu
- Dấn thân xã hội cần Kitô hữu nhiệt thành
- Khủng hoảng và canh tân gia đình tại Châu Âu
- Di hài thánh Gioan Bosco viếng thăm 130 nước
- Dietrich von Hildebrand: Hiện tượng luận của trái tim
Sách Online
- Thiên Chúa và Trần Thế Phạm Hồng Lam
Chương III: Giáo Hội (11) (hết) - Như Lời Cầu Kinh Anthony De Mello, Hương Vĩnh chuyển ngữ
Phần VI: Cái Tôi (4) - Mẹ Maria - Trung Tâm Công Trình Của Đức Gioan Phaolô II Lm Việt-Châu, SSS
- Góp Bánh Cho Đời Lm Giuse Trần Đình Long, SSS
- Chúa có mặt là con vui! Cát Minh Nha Trang
Chương III: Giáo Hội (10)
§ Phạm Hồng Lam
18. TƯƠNG LAI
GIÁO HỘI THIỂU SỐ HAY GIÁO HỘI ĐA SỐ ?
- Nhiều năm trước đây ngài đã nói điều rất tiên tri về Giáo hội tương lai. Lúc đó ngài bảo : “ Giáo hội sẽ nhỏ lại, nó sẽ phải bắt đầu lại từ đầu. Nhưng sau tiến trình thử thách, một sức mạnh sẽ toả tràn ra từ Giáo hội gọn nhẹ và tâm linh đó. Bởi vì con người trong thế giới được hoạch định chu đáo hiện nay sẽ cảm thấy vô cùng cô đơn… Và rồi người ta sẽ nhìn ra một cái gì mới mẻ trong các nhóm nhỏ tín hữu sống đạo. Một hi họng mà họ vẫn trông mong, một giải đáp mà họ vẫn âm thầm tìm kiếm “. Xem ra ngài có lí. Nhưng Âu châu hiện sẽ đi về đâu ?
Trước hết : Giáo hội có nhỏ lại không ? Khi tôi nói điều đó, khắp nơi người ta tố cáo tôi là người bi quan. Và ngày nay xem ra chẳng có gì cấm kị hơn cái mà người ta gọi là bi quan – cái đó cũng thường chỉ có nghĩa là thực tế. Lúc này thì đa số đã chấp nhận là số tín hữu ki-tô hiện nay ở Âu châu đang giảm. Chẳng hạn, thành phố Magdeburg (Đức) chỉ còn 8% ki-tô hữu – nên nhớ : đủ mọi loại ki-tô hữu đấy nhé. Các thống kê đó là những thực tế mà ta không thể chối cãi. Với đà đó, Giáo hội trên nhiều vùng văn hoá âu châu, chẳng hạn ở Đức, đã mất tính cách Giáo hội quần chúng (nghĩa là của đa số) rồi. Ta phải quan tâm chuyện này.
- Nghĩa là sao ?
Giáo hội đa số có thể là cái gì đó rất đẹp, nhưng không hẳn cần thiết. Trong ba thế kỉ đầu, Giáo hội tuy nhỏ, nhưng không chia năm sẻ bảy. Trái lại, nó không co cụm lại, mà đứng ra lo cho người nghèo, người bệnh, cho tất cả mọi người. Trong Giáo hội đó có chỗ cho tất cả những ai tin vào một Chúa, cho những ai đi tìm lời hứa.
Thoạt tiên là những người kính sợ Thiên Chúa quây quần quanh các đền thờ do-thái trong khắp Đế-quốc Rô-ma, họ tới với đền thờ và tạo thành một vòng ngoài mở rộng. Việc dạy giáo lí nhập đạo trong Giáo hội xưa cũng mở ra gần giống i như vậy. Vì họ cảm thấy không thể đồng hoá hoàn toàn được với Do-thái giáo, nên họ đã bám vào Giáo hội để xem có nên bước vào trong đó không. Giáo hội không phải là một câu lạc bộ khép kín, nhưng luôn mở ra cho mọi người, đó là một í thức dính liền với Giáo hội ngay từ đầu. Và khi các cộng đoàn chúng ta trở nên nhỏ lại, như chiều hướng ta đang thấy, chúng ta sẽ phải tìm lại hình thái mở rộng cho vòng trong vòng ngoài như trước đây. Vì thế, tôi không chống lại những người mỗi năm chỉ đến nhà thờ một hai lần vào dịp giáng sinh, tết hay một dịp đặc biệt nào đó, vì điều này, một cách nào đó, cho thấy họ còn muốn bám víu vào ơn thánh, vào ánh sáng. Vì thế, Giáo hội phải mở rộng cửa, phải có những cách thế cho các hình thức nương tựa hay tham dự khác nhau.
- Nhưng Giáo hội đa số cũng là thành quả cao nhất của văn minh tôn giáo mà ! Giáo hội thật sự là một tổ chức chung, có chỗ cho mọi người, nó là thân cây với nhiều cành lá rợp bóng cho hết mọi người mà ! Ta có thật được phép từ chối tính chất quần chúng, nghĩa là tổ chức của đa số, không ? Dù sao thì đây cũng là một thành quả đạt được với bao nhiêu cố gắng và hi sinh.
Chúng ta phải chấp nhận mất mát, nhưng chúng ta sẽ luôn là một Giáo hội mở. Giáo hội không được đóng kín để thoả mãn cho riêng một nhóm nào. Nhất là ta phải mang tinh thần truyền giáo, bằng cách luôn nhắc nhở xã hội về những giá trị làm nên lương tri của nó, về những giá trị làm nên nền tảng hiện hữu của quốc gia, và ta luôn phải là một cộng đồng xã hội thật sự nhân bản.
Trong í nghĩa đó, cuộc tranh luận về tình trạng quá khứ của Giáo hội quần chúng chắc chắn sẽ được tiếp tục – trong một số quốc gia Giáo hội vẫn sẽ là tổ chức của đa số, nhưng ở một số khác, tình hình sẽ thay đổi. Giáo hội sẽ tham gia vào tiến trình lập pháp và sẽ phải luôn quan tâm tới những hằng số nhân bản lớn của tiến trình kết tụ xã hội của con người. Vì chưng, nếu luật pháp mất nền tảng luân lí chung của nó, thì cả luật pháp cũng sụp đổ.
Nhìn như thế, Giáo hội phải có trách nhiệm cho cả toàn thể. Trách nhiệm truyền giáo có nghĩa là, như Giáo chủ đã nói, phải tìm cách nỗ lực tân phúc âm hoá. Ta không được an tâm ngồi nhìn mọi thứ bên ngoài mình rơi vào vòng ngoại giáo, nhưng phải tìm cho ra con đường mới đem Tin Mừng tới cho cả những vùng chưa tin. Đã có những mô mẫu cho lãnh vực này rồi. Nhóm tân giáo lí học đạo (Neukatechumenat) đã có mô mẫu riêng, các tổ chức khác đang đi tìm con đường phù hợp cho họ. Giáo hội phải có thật nhiều sáng tạo, để cho Tin Mừng luôn giữ được sức mạnh công chúng. Để Tin Mừng thấm nhập, cải hoá dân chúng và dậy men trong họ. Trước đây chỉ là một cộng đoàn nhỏ bé giữa các tông đồ, nhưng như Chúa nói, họ đã là men và muối đất. Mọi chuyện đều khởi đầu từ nhỏ. Nhưng cũng phải khởi đầu với trách nhiệm cho cả toàn thể.
GIOAN - PHAOLÔ II
- Gio-an Phao-lô II là tảng đá của thế kỉ 20. Giáo chủ từ Ba-lan là người ảnh hưởng trên Giáo hội mạnh hơn nhiều vị tiền nhiệm khác. Ngay trong thông điệp đầu tiên Redemptor hominis (Đấng cứu chuộc nhân loại) ngài đã xác định chương trình làm việc: Theo ngài, con người, thế giới, các hệ thống chính trị đã xa lìa “những đòi hỏi của luân lí và công chính”. Giờ đây Giáo hội phải có một giáo huấn rõ ràng để đối lại. Quan điểm này được nói đi nói lại trong tất cả các thông điệp của ngài. Ngài bảo, ta phải xướng lên “văn hoá sự sống” để chống lại “văn hoá sự chết”. Cái nền tảng Gio-an Phao-lô II để lại đó có thể là bàn đạp tốt để tiến vào thế kỉ 21 không?
Nền tảng đích thực dĩ nhiên là đức Ki-tô, nhưng Giáo hội luôn cần những lực đẩy mới, luôn cần được tiếp tục xây dựng. Có thể nói rằng, nhiệm kì giáo chủ của Gio-an Phao-lô II có một sức mạnh ngoại lệ. Đó là một cuộc vật lộn chống lại tất cả những vấn nạn nền tảng của thời đại chúng ta – và ngoài ra ngài còn tặng cho chúng ta nguồn vốn tích cực để đi tới.
Các thông điệp lớn của Giáo chủ, mở đầu với “Đấng cứu chuộc nhân loại”, rồi tới bộ ba thông điệp trình bày khuôn mặt của Thiên Chúa, thông điệp quan trọng về luân lí, thông điệp về sự sống, thông điệp về đức tin và lí trí cắm lên những trụ cọc, như anh nói, làm nền cho ta có thể xây tiếp lên đó. Sở dĩ nói xây tiếp, là vì Ki-tô giáo, trong một thế giới biến chuyển quá nhanh như hiện nay, luôn phải phát biểu một cách mới mẻ.
Trước đây, khi đối diện với Do-thái giáo, Hồi giáo và văn hoá la-hi, Tô-ma ở Aquino đã phải đưa Ki-tô giáo vào một lối nghĩ mới, để tạo cho nó một hình thù kéo dài mãi cho tới Thời mới. Hình thù này sau đó đã được thay đổi khi nhân loại bước vào Thời mới, qua các quyết định nền tảng của công đồng Trento do hậu quả của Cải cách. Mô hình Giáo hội này đã kéo dài 500 năm. Ngày nay, trước cuộc biến chuyển quan trọng của thời đại, chúng ta phải làm sao một mặt vẫn duy trì được cái bản sắc của toàn thể, mặt khác tìm ra được cái khả năng sống động, làm sao phát biểu chúng một cách mới mẻ và hiện tại hoá chúng. Trên lãnh vực này, giáo chủ Gio-an Phao-lô II đã có một đóng góp lớn.
GIÁO HỘI HOÀN VŨ TRONG TƯƠNG LAI
- Trước đây 50 năm, các nước kĩ nghệ còn chiếm một phần ba nhân loại. Chỉ cần hai thế hệ nữa thì 90 phần trăm dân số thế giới thuộc về các nước đang phát triển. Tới giữa thế kỉ 21, riêng Trung-quốc hay Ấn-độ mỗi nước cũng sẽ có số dân nhiều hơn cả thế giới phương tây gộp lại.
- Và Giáo hội hoàn vũ trong tương lai cũng sẽ có những biến chuyển dân số lớn. Hiện nay, các cộng đoàn Giáo hội trong thế giới thứ ba trước đây, không chỉ xét riêng về số lượng, đã vượt số giáo xứ của các nước trung Âu. Phi châu, chẳng hạn, đầu thế kỉ 20 mới có 1,7 triệu tín hữu công giáo, nay bước vào thế kỉ 21 đã lên tới 110 triệu. Lúc này đã có thể mường tượng được hình thái Giáo hội, cả phụng vụ và mục vụ, sẽ thay đổi ra sao chưa?
Tôi nghĩ lúc này mình không nên tính toán ngoại suy, bởi vì lịch sử luôn có quá nhiều biến chuyển bất ngờ. Mọi chẩn đoán tương lai sẽ bị yếu tố bất ngờ lật nhào. Chẳng hạn, đã chẳng ai dám tiên đoán sự sụp đổ của các chế độ cộng sản, biến cố này đã tạo nên một tình trạng lịch sử hoàn toàn mới. Đúng, hình ảnh xã hội thế giới sẽ thay đổi rất lớn. Thế giới phương tây, nơi lượng người đang giảm và hiện đang là vùng có sức mạnh trấn át, rồi ra sẽ ra như thế nào? Việc di dân – dĩ nhiên hết người thì phải đưa thêm vào chứ - sẽ biến bộ mặt Âu châu ra sao? Lực ảnh hưởng sẽ nghiêng về đâu, nền văn minh nào, hình thái xã hội nào sẽ thắng thế ? Tất cả những cái đó lúc này chưa thể đoán được.
Vì thế, phải vô cùng thận trọng với những phát biểu về tương lai. Tuy nhiên, chắc chắn là tiềm năng tín hữu sẽ khác đi. Con người phương tây với thái độ hiện thời của họ về thế giới sẽ không thể tiếp tục giữ được sức mạnh trấn át như đã có. Những tâm tính mới, những đặc sủng mới sẽ phải xuất hiện và ấn dấu lên bộ mặt Giáo hội.
Do đó, theo tôi, quan trọng nhất là ta phải cơ bản hoá/ nền tảng hoá (Verwesentlichung), chữ Guardini dùng. Đây không hẳn là việc tưởng tượng tiền chế ra một cái gì đó, mà rồi trong thực tế lại xẩy ra khác, và cái đó ta không thể biến chế được trong ống nghiệm. Nhưng đúng hơn, là tìm ra cái nền tảng và sống với nó, để rồi nó có thể sẽ hoá thân ra trong cái mới và được trình bày một cách mới mẻ. Trong í nghĩa đó, đơn giản hoá cũng là một công tác quan trọng, nghĩa là mình phải tìm ra cái gì thực sự còn lại và cơ bản toả ra từ giáo huấn, từ đức tin của ta. Phải mang ra ánh sáng những hằng số nền tảng lớn, như vấn đề về Chúa, về sự cứu độ, về hi vọng, về sự sống, về cái gì là nền tảng trong luân lí, rồi hệ thống hoá chúng lại một cách mới.
Phải sửa đổi lại phụng vụ cho hợp với thế giới kĩ thuật và với những nền văn minh nào đó ư? Tôi không tin câu hỏi này cần thiết. Tất cả những thứ đó là sản phẩm tự chế của con người. Phụng vụ có được cái cao cả, là vì nó bắt nguồn từ khởi nguyên và lớn lên trong sống động. Nó phải được chúng ta bao bọc và gìn giữ một cách kính cẩn. Có như thế nó mới cao cả và mới nói được cho con người thuộc mọi nền văn minh khác nhau. Lại nữa, kho tàng nghi lễ đa dạng của phụng vụ đã có từ lâu. Nó sẽ cho ta biết dạng nào sẽ mang sức sống mạnh nhất trong các nền văn minh khác nhau.
- Hãy để mắt quan sát nước Hoa-kì. Rõ ràng đó là quốc gia dẫn đầu thế giới. Chính trị, khoa học, kinh tế và nhất là lối sống của chúng ta ngày nay tất thảy đều bị ảnh hưởng mạnh do Hoa-kì. Công giáo Mĩ đã và đang có những đóng góp nào cho công giáo thế giới?
Ngày nay, công giáo hoa-kì đã trở thành một trong những lực quyết định của công giáo hoàn vũ. Giáo hội ở Mĩ rất năng động. Dĩ nhiên nó cũng có những căng thẳng. Một mặt, có những nhóm nặng phê bình chỉ trích, họ muốn có một Ki-tô giáo duy lí và dân chủ hơn. Nhưng đồng thời cũng có những tâm điểm tôn giáo mới đang trỗi dậy, những cộng đoàn dòng tu mới hình thành và đòi phải có một nếp sống tu trì triệt để. Họ sống cuộc sống đó trong niềm tin vui, họ muốn đọc lại các giáo phụ và thánh Tô-ma ở Aquino, và muốn được huấn luyện theo tinh thần của các ngài. Đó là một Giáo hội đang sống lại cái căn bản tôn giáo rất mạnh: dám hi sinh đời sống vì và cho đức tin, can đảm phục vụ vì đức tin. Đó là một Giáo hội cũng mang trách nhiệm lớn đối với xã hội qua hệ thống giáo dục và nhà thương trải rộng của mình.
Trong Bộ chúng tôi, chẳng hạn, không phải chính chúng tôi quyết định về những vấn nạn liên quan tới luân lí i học, mà mỗi ngày do tiến bộ của i khoa càng tạo ra nhiều thêm. Người Mĩ có một mạng lưới bệnh viện công giáo rất rộng. Nhờ thế ngày nay họ có một đội ngũ chuyên viên có hiểu biết sâu và kinh nghiệm sinh động trong lãnh vực i khoa tân tiến. Chúng tôi trao những câu hỏi đó cho họ thảo luận, phác hoạ nên những đường hướng chỉ dẫn (Guidelines) và trao đổi với họ về những phác hoạ đó. Những giải đáp thoạt tiên mang tính địa phương, nghĩa là cho Hoa-kì mà thôi, nhưng vẫn để ngỏ để tiếp tục bổ túc kinh nghiệm các nơi khác. Nhưng dù vậy, các giải đáp trên cũng được kể như là những lời giải mẫu về mặt luân lí i học có thể áp dụng hay làm chuẩn cho các nơi khác.
Vì thế tôi tin rằng, với vốn kinh nghiệm to lớn về mặt đời cũng như kinh nghiệm đức tin mà họ đã trải qua, Giáo hội hoa-kì sẽ ảnh hưởng quan trọng lên thế giới ki-tô hữu ở Âu, Phi và Á châu. Trước đây người ta nói, cái gì xuất hiện ở Pháp, thì sẽ xuất hiện trên toàn thế giới. Nhưng nay thì khác. Hoa-kì, về mặt đời, cung cấp cho thế giới thời trang và khẩu hiệu. Còn về mặt đạo, Giáo hội của họ tạo ra những mô hình kiểu mẫu. Lạ lùng là các mô mẫu đó đã đẩy lui đi cái Ki-tô giáo xem ra tân tiến và đồng thời quá lí trí và quá ít thấm nhuần đức tin, để đưa vào đó những xung lực đức tin thật sự và cả những hình thái sống đức tin điển hình.
- Nghĩa là cũng có cả “sống lối Mĩ” (american way of life) cho đời sống ki-tô giáo, công giáo?
Lối sống đó thật sự thấm nhuần chất công giáo, chứ không chỉ chất “mĩ” mà thôi. Tôi tin rằng người dân trên nước Mĩ nhận vào mình toàn thể cái công giáo tính và muốn làm mới thế giới tân tiến.
- Nước nào hiện nay có nền thần học được coi là hướng đạo hay có Giáo hội mẫu mực? Con ngựa kéo đầu đàn nằm ở đâu?
Chẳng có chú ngựa cổ điển nào cả. Đúng hơn có một thuyết đa tâm.
Trước hết, châu Mĩ la-tinh đã thách đố hoàn vũ ki-tô giáo với thần học giải phóng. Nhưng nay nó đang đi dần vào quá khứ. Chỉ còn lại lời kêu gọi trách nhiệm đức tin về mặt chính trị và xã hội. Lúc này, châu Mĩ la-tinh đang đam mê vấn đề hội nhập với những nền văn hoá thổ dân. Hoa-kì đang ở tuyến đầu trong việc vật lộn với những thách đố của thời đại mới. Cả trong khoa diễn giải, họ cũng đã có những thành tựu mới, lí luận một chiều của phương pháp phê bình lịch sử đã được họ thay thế bằng cái gọi là phương pháp diễn giải quy điển, nghĩa là bằng lối đọc hiểu Tin Mừng trong toàn thể của nó. Như vậy, nền thần học hoa-kì đã có một đóng góp quan trọng. Nhưng Âu châu, cả Đức, luôn vẫn là nơi có tiềm năng lớn về thần học.
Nhờ hệ thống phân khoa thần học trong các đại học của chúng ta, nhờ tiền của và phương tiện ta sẵn có, việc nghiên cứu vẫn đang rất mạnh và sinh hoa kết quả. Dĩ nhiên có một thứ chủ nghĩa duy lí mới, mà người ta coi như là yếu tố hàn lâm bắt buộc, hiện đang là nguy cơ cho công tác thần học. Cái lối thần học duy lí này sẽ không tiến xa được, vì nó chối từ ngay những nền tảng của nó. Tôi tin thế hệ thần học mới sẽ lại nhìn ra được rõ hơn về nguồn cội của thần học, nó chủ yếu phải bắt nguồn từ đức tin, chứ không thể là nơi tính cách hàn lâm thuần tuý. Dù sao, Âu châu vẫn đang là điểm nóng của thần học.
Á châu có Ấn-độ, là nơi đang vật lộn với thế giới các tôn giáo và đang nỗ lực xác định chỗ đứng của đức tin trong thế giới ngày nay một cách điển hình. Phi châu ngày nay đang trở về với các giá trị truyền thống. Ta hãy nghĩ tới trọng lượng của Phi châu đã đạt được trong Hội đồng tôn giáo thế giới. Nơi đây, trong khi Tin lành phương tây đang phải lặn ngụp trong các vấn đề sắc tộc, thì thế giới ki-tô giáo châu Phi ung dung đặt nổi lên lại cảm thức uyên nguyên về những giá trị truyền thống của họ. Dĩ nhiên họ cũng đề cập rất cụ thể tới những câu hỏi liên quan tới việc xây dựng xã hội – như làm sao Ki-tô giáo có thể trở thành một sức mạnh kiến tạo hoà bình, một sức mạnh thúc đẩy hoà giải – có lẽ họ ít lí thuyết hơn, nhưng với những đau khổ và những kinh nghiệm đau thương đã trải qua, Giáo hội trên lục địa này hẳn có gì để nói cho con người.
(còn tiếp 1 kỳ cuối cùng)
Đọc nhiều nhất
Bản in 15.09.2009. 12:18



