Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 7/2020

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Vấn Đề Nghiêm Trọng Từ Một Thứ Truyền Thông Sai Lệch, Một Chiều

§ Thiên Ân

Trong thời gian qua, tại khu đất thuộc giáo xứ Thái Hà vốn đã bị nhà nước cưỡng chiếm, hằng ngày đều diễn ra những buổi thắp nến cầu nguyện cho sự thật và công lý được sáng tỏ.

800817truyenthong08.jpg

Sáng ngày 15 tháng 8 vừa qua, bà con giáo xứ đã đặt tượng Đức Bà vào khu đất bị chiếm dụng bất hợp pháp (nay đã bỏ hoang) để nói lên quyết tâm của mình trong việc theo đuổi lẽ công bằng và sự thật. Có thể nói, những buổi cầu nguyện như thế và việc đặt tượng Đức Bà như vậy cho thấy lối hành xử khá nhã nhặn của bà con giáo dân khi phải đối diện với cách xử sự bất công, thiên lệch của giới chức trách nhà nước. Tuy nhiên, sự thật về những buổi cầu nguyện và cách hành xử ôn hòa đó của bà con giáo dân đã bị giới truyền thông địa phương xuyên tạc nhằm đánh lạc hướng dư luận. Có thời điểm, dưới sự chỉ đạo của giới cầm quyền, các đài báo địa phương đưa tin về những buổi cầu nguyện đó như là những cuộc gây rối trật tự an ninh công cộng.

Cụ thể, sáng 17/8 truyền hình thành phố tiếp tục sử dụng chiêu bài cũ kỹ, cố tình tạo hiện trường giả để vu cáo bà con giáo dân. Trước những thông tin bị bóp méo hay cách truyền thông sai lệch, một chiều như sự kiện Thái Hà, có lẽ ta cần nghiêm túc đặt lại vấn đề về hệ thống thông tin, truyền thông trong xã hội Việt Nam và cần đặt vấn đề về quyền cơ bản của con người về việc tiếp cận thông tin khách quan về các biến cố công cộng.

Quyền cơ bản của con người và lối truyền thông sai lệch, một chiều

Một trong những quyền tự nhiên, cơ bản, không thể chuyển nhượng của con người, đó là quyền được tiếp cận thông tin khách quan về các biến cố công cộng. Quyền cơ bản, không thể chuyển nhượng này được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhắc đến trong diễn văn của ngài tại Hội Đồng Liên Hợp Quốc ngày 02 tháng 11 năm 1979 [1]. Dẫu đó là một trong những quyền cơ bản của con người, nhưng nhìn vào thực trạng xã hội Việt Nam, có thể nói, quyền đó không được tôn trọng đúng mức. Thực vậy, đã có một thời, người dân có thể bị bỏ tù vì dám thu thập những thông tin thời sự chính trị, xã hội trong nước cũng như thế giới từ các đài báo nước ngoài. Đã có những người bị đi tù đến 10 năm vì dám nghe đài BBC! Ngày nay, tình hình có lẽ không đến nỗi trầm trọng, quá đáng như thế, nhưng dẫu sao, hằng ngày người dân vẫn phải miễn cưỡng tiếp cận những thông tin đã qua sự kiểm soát, kiểm duyệt của quyền lực chính trị; hoặc người dân vẫn phải tiếp xúc (dù chấp nhận hay không chấp nhận) những thứ thông tin lệch lạc, một chiều, có lợi và phục vụ cho chế độ chuyên quyền cộng sản. Trước đây và thậm chí cho đến nay, mọi người ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đã bị nhồi sọ về những thứ thông tin sai lệch, một chiều ấy.

Về phía những người phục vụ trong công tác truyền thông, dường như họ cũng không được tự do sử dụng các phương tiện truyền thông để truyền tải những thông tin khách quan cho dân chúng. Tất cả các tin tức liên quan đến chính trị, xã hội mà những người làm công tác thông tin, truyền thông muốn đăng tải phải phù hợp với cái được gọi là chính sách của Đảng và Nhà Nước. Trước hiện thực phũ phàng về lối truyền thông sai lệch, một chiều trong xã hội Việt Nam như thế, ta không thể không nhắc đến những nguyên tắc căn bản về truyền thông rút từ các giáo huấn xã hội của Hội Thánh.

Những nguyên tắc căn bản về thông tin, truyền thông

Nhắc đến những nguyên tắc căn bản về truyền thông rút từ các giáo huấn xã hội của Hội Thánh, không phải là ta đề cập đến một thứ luật lệ, quy chế có tính áp đặt từ bên ngoài của Hội Thánh đối với xã hội. Thực ra, giáo huấn xã hội của Hội Thánh là một phần quan trọng của nhận thức Kitô giáo về cuộc sống [2]; nó đặt nền tảng trên mặc khải và luật tự nhiên [3]. Hơn nữa, vì nó áp dụng chân lý và luân lý Kitô giáo vào nhiều hoàn cảnh lịch sử khác nhau trên thế giới, nên giáo huấn này đáng nhận được sự đồng thuận của người tin như bất kỳ tuyên bố nào khác của huấn quyền [4]. Đồng thời, những nguyên tắc rút ra từ đó cũng mang tính chất hoàn toàn khách quan và đáng được áp dụng vào những hoàn cảnh xã hội khác nhau.

Một trong những nguyên tắc căn bản liên quan đến truyền thông được giáo huấn xã hội của Hội Thánh đề cập, đó là nguyên tắc công ích trong thông tin, truyền thông: “Thông tin do các phương tiện truyền thông cung cấp phải nhằm phục vụ công ích. Xã hội có quyền nhận được những thông tin căn cứ trên sự thật, tự do, công lý và liên đới” [5]. Với nguyên tắc căn bản này, vấn đề chính yếu mà ta cần xác định là liệu một hệ thống thông tin có góp phần làm cho con người trở nên tốt hơn không, nghĩa là nó có giúp con người trưởng thành hơn về tâm linh, ý thức hơn về phẩm giá con người của mình, chịu trách nhiệm nhiều hơn hay cởi mở hơn đối với những người khác, nhất là những người túng thiếu và yếu kém nhất hay không [6].

Bên cạnh nguyên tắc công ích, các giáo huấn xã hội của Hội Thánh còn đề cập đến nguyên tắc đạo đức trong truyền thông. Trong thế giới thông tin, những khó khăn nội tại của việc truyền thông được phóng đại do các ý thức hệ, do cạnh tranh và xung đột giữa các tập thể và do những tệ đoan xã hội khác. Cụ thể, trong xã hội Việt Nam, đó là lối truyền thông sai lệch, một chiều nhằm mục đích phục vụ cho chế độ chuyên quyền cộng sản. Bởi thế, các giá trị và các nguyên tắc luân lý phải được áp dụng cho các phương tiện truyền thông. Trong huấn thị Đạo đức trong truyền thông, huấn quyền của Hội Thánh khẳng định: “Chiều hướng đạo đức không chỉ có liên quan tới nội dung truyền thông (tin tức, thông điệp) và quá trình truyền thông, mà còn liên quan đến các vấn đề căn bản, liên quan đến cơ cấu và hệ thống, bao gồm cả những vấn đề lớn như chính sách truyền thông…” [7]. Huấn quyền cũng nhấn mạnh rằng trong cả ba lãnh vực: thông điệp, quá trình và các vấn đề cơ chế truyền thông, phải luôn áp dụng một nguyên tắc luân lý căn bản đó là con người và cộng đồng nhân loại phải là mục tiêu và thước đo của việc sử dụng các phương tiện truyền thông. Một nguyên tắc thứ hai bổ sung cho nguyên tắc thứ nhất: lợi ích của con người không thể nào đạt được một khi tách khỏi lợi ích chung của cộng đồng mà con người thuộc về [8].

Đôi điều suy nghĩ, đề nghị

Dựa vào những nguyên tắc căn bản về thông tin, truyền thông như đã trình bày ở trên, ta có thể tím kiếm những giải pháp khả dĩ đảm bảo quyền cơ bản của con người về việc tiếp cận thông tin khách quan về các biến cố công cộng trong hoàn cảnh cụ thể của xã hội Việt Nam.

Trước hết, có thể khẳng định, sở dĩ có tình trạng thông tin, truyền thông một chiều trong xã hội Việt Nam là vì các phương tiện truyền thông chỉ do một số ít người có quyền lực chi phối, kiểm soát. Do đó, để bảo vệ quyền cơ bản của con người về việc tiếp cận các thông tin khách quan, nhất thiết phải có sự đa nguyên thật sự trong lãnh vực tế nhị này của đời sống xã hội, đồng thời có nhiều hình thức và phương tiện thông tin và truyền thông, vả lại cũng cần có sự bình đẳng trong việc sở hữu các phương tiện ấy qua những luật lệ thích hợp. Nhưng thực ra, xã hội Việt Nam đang là một xã hội chuyên chế, độc đảng, nếu không muốn nói là độc tài. Trong thực tế, duy chỉ mình đảng công sản nắm trọn quyền lực chính trị, kiểm soát hết mọi người, mọi sự, và đó cũng là tổ chức không bị ai kiểm soát. Vì thế, việc hình thành một hệ thống thông tin truyền thông sai lệch, một chiều là điều tất yếu xảy ra. Nói cách khác, nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng truyền thông một chiều trong xã hội Việt Nam là do chỉ có một đảng phái thâu tóm hết mọi quyền lực. Bởi đó, để có được sự đa nguyên trong lãnh vực truyên thông, từ đó đưa tới một sự bảo đảm về quyền cơ bản của con người về việc tiếp cận thông tin khách quan về các biến cố công cộng, thì giải pháp căn cơ nhất là cần có sự đa nguyên trong lãnh vực chính trị. Dĩ nhiên, ta cần hiểu rằng đa nguyên không phải là vô chính phủ về mặt tư tưởng, cũng không phải là một xã hội vô tổ chức. Đa nguyên trong lãnh vực chính trị cũng như trong lãnh vực truyền thông là hình thức diễn tả rõ nét của nền dân chủ mà trong đó các nhóm khác nhau, về nguyên tắc cơ bản, đều có cơ hội như nhau và mọi người đều được tự do ngôn luận bao lâu họ còn trung thành với sự tự do, dân chủ [9].

Nhưng để đạt tới sự đa nguyên trong lãnh vực chính trị mà từ đó có được sự đa nguyên trong truyền thông, thì không phải là chuyện một sớm một chiều xét trên tình hình thực tế của xã hội Việt Nam. Do đó, một giải pháp tức thời được đề nghị là cần gây ý thức cho người dân ngay lúc này về những quyền cơ bản của họ. Thực tế, không ít người trong xã hội hiện nay do bị tiếp xúc quá lâu với lối truyền thông lệch lạc, một chiều nên khả năng suy tư và đối diện với cuộc sống hiện thực tự do bị suy yếu. Họ thường xuyên phải tiếp xúc với các thông tin thiếu khách quan của các phương tiện truyền thông do giới cầm quyền chuyên chế chi phối đến độ họ tỏ ra thờ ơ hoặc rơi vào tình trạng thụ động trước các thông tin ấy. Mà điều nguy hiểm và đáng quan ngại nhất là quần chúng chấp nhận cách hoàn toàn thụ động các thông tin sai lệch, một chiều. Do đó, hơn bao giờ hết, lúc này cần có một sự khơi gợi cho quần chúng về quyền cơ bản được tiếp cận thông tin khách quan về các biến cố công cộng, cũng như những quyền lợi cơ bản khác có liên quan, chẳng hạn quyền tự do ngôn luận, quyền tự do lương tâm và tư tưởng, quyền phản đối theo lương tâm…Khi đã ý thức được những quyền cơ bản mà mình có, họ có thể chủ động tiếp cận và biện phân các thông tin do các phương tiện truyền thông cung cấp. Và một khi quần chúng có sự chủ động và có khả năng biện biệt trong việc tiếp cận các thông tin, thì trong xã hội tất nhiên sẽ hình thành được tiếng nói lành mạnh, tích cực của công luận, vì như Đức Piô XII mô tả: “Công luận như những tiếng vang tự nhiên của các biến cố và hoàn cảnh có thật được phán ánh ít nhiều tự phát trong tâm hồn và phán đoán của con người” [10]. Tiếng nói của công luận sẽ là yếu tố quan trọng làm thay đổi bộ mặt xã hội, công phá chế độ chuyên chế độc tài về chính trị, về truyền thông.

Ngoài việc gây ý thức cho quần chúng về những quyền cơ bản liên quan đến thông tin, truyền thông, có lẽ cần thiết hơn cả là phải giáo dục con trẻ (chứ không đợi tới khi chúng trưởng thành) có được sự cảm thụ và biện phân các thông tin mà chúng tiếp cận. Đề cập đến việc giáo dục này, huấn quyền Hội Thánh cũng đã nhấn mạnh: “Khơi lên trong trẻ những cảm thụ nghệ thuật, một óc phê bình sâu sắc, và một ý thức trách nhiệm đối với bản thân, dựa trên một luân lý đúng đắn không khi nào là điều quá sớm. Chúng cần tất cả những thứ ấy để chúng có thể áp dụng việc biện phân trong khi lựa chọn các ấn phẩm, phim ảnh, và các chương trình phát thanh…” [11]

Với một xã hội nhập nhằng tranh tối tranh sáng như xã hội Việt Nam hiện nay, trong đó con người từ khi còn nhỏ đã bị nhồi sọ bởi những thứ thông tin lệch lạc, một chiều, nếu trong các gia đình, các bậc phu huynh không chủ động giáo dục, huấn luyện con em mình về óc phán đoán và phê bình khi tiếp cận các thông tin, thì chắc chắn có một hậu quả dây chuyền xảy đến: xã hội từ thế hệ này tới thế hệ kia ù lì, thụ động, buông xuôi trước một chế độ độc tài về chính trị nói chung và về truyền thông nói riêng. Bởi thế, giải pháp giáo dục thế hệ mầm non về khả năng cảm thụ và biện phân các thông tin mà chúng tiếp cận tuy là giải pháp được đề nghị sau cùng, nhưng lại là giải pháp cần được thực thi trước hết. Từ chỗ có một thế hệ trẻ biết chủ động cảm thụ và biện biệt các thông tin do các phương tiện truyền thông cung cấp, sẽ có được một xã hội sáng sủa trong tương lai, trong đó tiếng nói tích cực, lành mạnh của công luận sẽ hình thành; tiếng nói đó sẽ là yếu tố phán quyết và làm xụp đổ một chế độ chuyên chế, độc tài.

Tóm lại, khi tìm hiểu những nguyên tắc căn bản về đời sống con người và xã hội được đề cập trong các giáo huấn xã hội của Hội Thánh, và đối chiếu các nguyên tắc đó với tình hình thực tế của xã hội Việt Nam hiện nay, có lẽ ta không khỏi băn khoăn suy nghĩ và đặt vấn đề về các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền được tiếp cận thông tin khách quan về các biến cố công cộng. Cụ thể, hệ thống thông tin, truyền thông sai lệch, một chiều trong xã hội Việt Nam đang là yếu tố đe dọa cách nghiêm trọng quyền cơ bản đó của con người. Mà nguyên nhân sâu xa dẫn tới sự sai lệch, một chiều trong truyền thông đó là sự tồn tại của một chế độ chuyên quyền, độc tài. Xóa bỏ một chế độ độc tài công khai và kéo dài, gây thiệt hại lớn cho các quyền cơ bản của con người và làm tổn thất nghiêm trọng cho ích chung của xã hội, là nhiệm vụ của mọi người, nhất là của các Kitô hữu – những người có bổn phận phải công bố Tin mừng giải thoát cho mọi loài thọ tạo [12].

Chú thích:

[1] x. Javier Hervada, Các nguyên tắc của Giáo huấn xã hội của Hội Thánh, tr. 6

[2] x. Đức Gioan XXIII, Thông điệp Mater et Magistra, 222

[3] x. Đức Leô XIII, Thông điệp Rerum Novarum, 12; cũng x. Đức Piô XI, Thông điệp Quadragesimo Anno, 17; Đức Gioan XXIII, Thông điệp Mater et Magistra, 219

[4] x. Javier Hervada, sđd, tr. 2-3

[5] Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, 2494; x. Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Inter Mirifica, 11

[6] x. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Tóm lược học thuyết xã hội của Giáo hội, nxb tôn giáo, 2007, tr. 288

[7] Hội đồng giáo hoàng về truyền thông xã hội, Huấn thị Đạo đức truyền thông, 20

[8] x. Ibid 22

[9] x. Bernard Haring, Tự do và trung thành trong Đức Kitô, tập III, tr. 249

[10] Hội đồng giáo hoàng về truyền thông xã hội, Communio et Progressio, 25

[11] Hội đồng giáo hoàng về truyền thông xã hội, Communio et Progressio, 67

[12] Đức Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, 31

Thiên Ân

Tags ·

Đọc nhiều nhất Bản in 17.08.2008. 15:20