Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 5/2017

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Gương Ngô Đình Diệm cho người Công Giáo Việt Nam

§ Hà Minh Thảo

«Các tín hữu giáo dân có nhiệm vụ cho thấy đức bác ái trong chân lý là sức mạnh hữu hiệu nhất có thể biến đổi thế giới, Tin Mừng là bảo đảm cho tự do và sứ điệp giải thoát.. Các tín hữu giáo dân có nhiệm vụ tham gia tích cực vào đời sống chính trị, phù hợp với giáo huấn của Hội thánh, chia sẻ những lý do có nền tảng vững chắc và các lý tưởng cao cả trong nền dân chủ và trong sự tìm kiếm đồng thuận sâu rộng với tất cả những người quan tâm bảo vệ sự sống và tự do, bảo vệ chân lý và thiện ích của gia đình, tình liên đới với người túng thiếu và sự tìm kiếm công ích ». Ðó là lời Ðức Thánh Cha Biển Ðức 16 kêu gọi trong buổi tiếp kiến sáng 21.05.2010 dành cho 100 tham dự viên khóa họp toàn thể lần thứ 24 Hội đồng Tòa Thánh về Giáo dân nhóm từ ngày 20 đến 22.05.2010 về chủ đề ‘Chứng nhân Ðức Kitô trong cộng đồng chính trị’.

I.- GIÁO DÂN NGÔ ÐÌNH DIỆM.

Trưa ngày 01.11.1963, nhân dịp nghỉ Lễ Các Thánh Nam Nữ, tôi đạp xe đi đến Ðất Thánh để viếng nơi an nghỉ của các Sư huynh Dòng Lasan. Nhưng tới ngả tư Cộng hòa và Nguyễn Trãi, các quân nhân buộc phải quay về… Sau đó, qua đài phát thanh Sài Gòn, người dân nghe các tướng tá kể lại các trọng tội mà nhà nước cùng báo chí Mỹ lẫn Hà nội cộng sản gắn cho Tổng thống dân cử Ngô Ðình Diệm. Sau đó, từng người trong họ xứng danh mình. Ðược đào tạo bởi thực dân Pháp, nay được phục vụ bọn thực dân Mỹ, họ mơ thành những tướng văn võ vẹn toàn. Nhân danh Quân đội Việt Nam Cộng hòa để đảo chánh, họ làm ô nhục Tập thể Quân nhân vì ‘quân nhân chỉ phục vụ Tổ quốc, chứ không làm chính trị đảng phái. Hơn nửa, tiền của CIA (Central Intelligence Agency, Trung ương tình báo Hoa kỳ) cho và quyền họ ban cho nhau khiến họ quên đi ‘Huynh đệ chi binh để phải giết và thủ tiêu xác các Ðại tá Hồ Tấn Quyền, Tư lệnh Hải quân, và Lê Quang Tung, Tư lệnh Lực lượng Ðặc biệt… cùng các ‘chiến hữu’ khác.

A. Con Người cao thượng.

Trái với những hành động ác nhân đó, giáo dân Gioan Baotixita Ngô Ðình Diệm, hành xử quyền Tổng thống dân cử và Tổng Tư lịnh tối cao Quân đội, đã đối xử với ‘thuộc cấp’ khi Ðại tá Nguyễn Hữu Duệ gọi điện thoại xin phép Tổng thống đem xe thiết giáp lên bộ Tổng Tham mưu để bắt các tướng và dẹp đảo chính. Nhưng Tổng thống không cho. Hiện diện bên Tổng thống lúc đó, ông Cao Xuân Vỹ nhắc lại: « Chính tôi nghe điện thoại của ông Duệ và trình lên Tổng thống. Ông la tôi: Các anh muốn gì? Ở với tôi bấy lâu mà không hiểu ý tôi sao? Dân Nghệ An các anh chỉ thích làm loạn. Đem quân đội chống quân đội là cách bảo vệ Tổ quốc hả?

Tôi thưa: Nhưng người ta đánh mình thì mình phải đánh lại chứ Tổng thống. Chẳng lẽ để phải chết sao?

Ông quát lên: Chết thì đã sao.

Đúng, đối với Ông chết thì đã sao. Nhưng đối với chúng ta thì cái chết của Ông là cái chết dần của miền Nam. Ông còn nói Quân Ðội là để bảo vệ Tổ quốc chứ không phải để bảo vệ cá nhân Tổng thống.

Ông bảo tôi liên lạc với ông Trương Vĩnh Lễ, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu cho triệu tập Quốc hội để ông ra từ chức trước Quốc hội, hòng tránh cảnh đổ máu. Nhưng tôi gọi ông Lễ 4 lần không được.

Lúc ấy, không phải chỉ có Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống xin lên tấn công tổng hành dinh của nhóm đảo chính. Mà còn có cả một Ðại đội biệt kích thuộc Lực lượng Đặc biệt đi hành quân ở Tây Ninh vừa về đến Sài Gòn cũng báo cáo là lực lượng phòng vệ của các tướng đảo chính ở Tổng Tham mưu rất yếu, đại đội biệt kích xin phối hợp với 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn để đột kích vào bắt hết các tướng đảo chính. Tướng Phạm Văn Phú, lúc ấy còn là Thiếu tá (vị này tử tiết ngày 30.04.1975), đã tiếp xúc với tôi về việc này. Nhưng như vừa nói, Tổng thống không chấp thuận.

B. Tinh thần phục vụ và xây dựng.

Kitô hữu Ngô Đình Diệm xây dựng miền Nam Việt Nam trở thành một Quốc gia dưới chính thể Cộng hoà, bao gồm các đặc tính độc lập, tự do và dân chủ. Do đó, Việt Nam Cộng hòa được cộng đồng quốc tế công nhận và nể nang vì với Sài Gòn, thủ đô, được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Ðông. Ông đã gầy dựng nước Việt Nam Cộng hòa từ một đống tro tàn và những hệ lụy của những năm tháng chiến tranh điêu linh, những tàn tích của thực dân và phong kiến, với các tệ nạn xã hội (cờ bạc, mãi dâm, á phiện). Chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã ổn định được cuộc sống cho gần một triệu người từ miền Bắc di cư vào Nam tránh nạn cộng sản. Toàn thể lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà đã được bình định. Những thành công này đã được Hành pháp và Lập pháp Hoa kỳ tán thưởng qua cuộc công du Liên bang này năm 1957.

Ngoài những ổn định chính trị và quốc phòng, các lãnh vực kinh tế, giáo dục được chú trọng và phát triển một cách nhịp nhàng, với những thăng tiến xã hội. Quốc dân đồng bào từ phía Nam vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau sống trong cảnh thanh bình no ấm. Hiến pháp ngày 26.10.1956 đã ghi dấu bước tiến lịch sử, trên hành trình xây dựng một Ðất Nước cộng hòa, được soạn thảo với những kế hoạch và dự liệu hầu phục vụ nhân phẩm và quyền sống con người. Tài năng của ông, một lãnh tụ ngoại hạng, đã vượt qua bao khó khăn hiểm nguy. Đạo đức của một lãnh tụ liêm khiết, thanh bần, đã giúp ông tuyệt đối tôn trọng nền tảng đạo đức dân tộc và luật pháp. Ông đã uy dũng, hiên ngang xây dựng cơ đồ cho sự trường tồn của một Việt Nam thực sự tự do, dân chủ.

C. Ðôi lời chân thành từ một giáo dân làm chính trị.

1.- Tại Dinh Gia Long, ngày Quốc Khánh 26.10.1963, đã có một không khí khác biệt. Sau những lời chúc từ của đại diện các cơ quan, đoàn thể, Tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ đáp từ rất vắn tắt, rồi đột nhiên, với một giọng cương quyết, nhấn mạnh từng chữ và tuyên bố: « Tình thế biến chuyển, vận nước đổi thay ra sao, sử sách sau này sẽ ghi rõ… Riêng về phần tôi, nếu tôi tiến, các ông hãy theo tôi, nếu tôi lùi các ông cứ giết tôi. Nếu tôi chết các ông hãy theo gương tôi! ». Nói xong, Tổng thống cáo từ, rồi rút lui. (Viêát theo lời kể của ông Cao Văn Chiểu, nguyên Dân biểu nền Đệ I Cộng hòa)

[Lưu ý : Việt cộng vô luân đã thay câu ‘Nếu tôi chết các ông hãy theo gương tôi!’ bằng ‘Nếu tôi chết các ông hãy trả thù cho tôi!’. Chúng lường gạt đồng bào là ông Diệm không biết tha thứ, chỉ lo ‘trả thù, không noi gương Ðức Kitô.]

2.- Ông Diệm tâm sự : « Tôi không phải là thần thánh, tôi chỉ là một người bình thường, tôi chỉ biết thức khuya, dậy sớm làm việc, một lòng hiến dâng đời tôi cho đất nước và dân tộc».

3.- Ngày 17.09.1955, khi chủ tọa Lễ khánh thành đập Đồng Cam (Tuy Hòa) Tổng thống Ngô Ðình Diệm đã tiên tri để cảnh cáo Ðồng bào : « Nếu Việt cộng thắng, thì Việt Nam sẽ bị tiêu diệt và sẽ biến thành một tỉnh của Trung cộng. Hơn nữa, toàn dân sẽ phải sống mãi mãi dưới ách độc tài của một bọn vong bản vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo».

[Chúng ta nghĩ sao khi thời hạn năm 2020 đang đến? Nhiều người cho rằng đó là mật ước do Tàu cộng đặt ra và tuyên tryền. Chúng tôi cũng muốn tin như vậy, nhưng đề phòng vẫn hơn. Cộng đảng biết chọn sắt thép Formosa hơn đời sống người dân 4 tỉnh Miền Trung chưa làm sáng mắt chúng ta sao ?]

II.- SỰ THẬT NGÀY ÐẢO CHÍNH 01.11.1975.

A. Các tài liệu chứng minh Sự Thật.

Năm 1991, Bộ Ngoại giao Hoa kỳ xuất bản ‘Foreign Relations of the Unitied States’ Tập IV, 1961 – 1963, về việc tổ chức đảo chánh này. Năm 1995, ‘In Retrospect, Tragedy and Lesson of Vietnam’, hồi ký của Bộ trưởng Quốc phòng Robert S. McNamara được xuất bản. Năm 1998, Thư viện John F. Kennedy công bố bộ băng thu tại tòa Bạch ốc dài 37 giờ, ghi lại những phát biểu của Tổng thống Kennedy về cuộc đảo chánh. Ba tài liệu đã cho thấy sự thật lịch sử.

Ông McNamara viết sự kiện tại Tòa Bạch ôÙc như sau khi nghe tin ông Diệm đã bị giết : « Lúc 9 giờ 30 ngày 02.11.1963, chúng tôi gặp Tổng thống để tiếp tục cuộc họp chiều qua, thảo luận về các biến cố. Lúc bắt đầu, chưa ai rõ số phận ông Diệm và ông Nhu ra sao. Sau đó, Mike Forrestal từ Phòng Tình hình tông cửa chạy vào. Trạm CIA tại Saigon báo cáo rằng họ được các nhân vật đối tác của Saigon cho biết hai anh em ông đã tự vẫn ‘trên đường đến Bộ Tổng Tham mưu... Nhận được tin này, mặt ông Kennedy tái xanh. Tôi chưa bao giờ thấy ông xúc động mạnh đến như thế. Cái chết của hai người ‘đã làm cho ông buồn bực về cả phương diện luân lý lẫn tôn giáo... làm lung lay lòng tin tưởng... về những gì ông đã khuyến cáo liên quan đến Nam Việt Nam». Đọc xong bản tin, ông Kennedy nghĩ đến ảnh hưởng của cái chết của hai người có tác dụng xấu ngay trong nước và ở hải ngoại... Rằng sau hai mươi năm phục vụ quê hương Việt nam, sinh mạng ông Diệm không thể kết thúc như vậy. Ðó cũng giống như lời Mao Trạch Đông đã nói với Edgar Snow khi đến phỏng vấn năm 1965 rằng Hoa kỳ không chịu nghe lời ông Diệm. Mao cho biết ông và Hồ Chí Minh đều nghĩ rằng ông Ngô Đình Diệm là người có tài. Rốt cuộc, ông hỏi rằng sau khi giết ông Diệm thì chuyện giữa Thiên đàng và Địa ngục có bình yên không? Những ám chỉ trong lời nói của Mao về các biến cố tại Việt Nam chỉ được biết sau khi cả Trung cộng lẫn Việt cộng mở văn khố của họ, nhưng quan trọng hơn, câu nói đó đang tạo rất nhiều vấn đề. Sự xúc động lớn nhất là Hoa kỳ phải đối phó với một khoảng trống chính trị hoàn toàn ở Nam Việt Nam và không có căn bản nào để xúc tiến về bất cứ tiến trình nào phù hợp với các mục tiêu của Hoa kỳ.’ Chiều hôm 02.11.1963, ông Kennedy và vợ con dùng trực thăng bay về ngôi nhà mới ở Rattlesnake Mountain. Khi dùng cơm, bà Mary Gimbel, một người bạn, đã nói với ông về ông Diệm và ông Nhu: - Họ đúng là những nhà độc tài.

Ôâng Kennedy trả lời: - Không, họ ở trong một tình trạng khó khăn. Họ đã làm cái tốt đẹp nhất mà họ có thể làm cho quê hương họ. (Richard Reeves, President Kennedy, Profile of Power, Touchstone, New York 1994, tr. 651).

Ngày 22.11.1963, Tổng thống Kennedy bị ám sát tại Dallas (Texas).

B. Ngụy tạo Nguyên nhân để giết Người.

Ngày 09.05.1961, Phó Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson, khi đến Việt Nam, đã gặp Tổng thống Ngô Ðình Diệm. Bắt đầu câu chuyện, ông ca tụng ông Diệm là một Churchill của Á châu : « Đối với thế đứng của Hoa kỳ tại Á châu, Tổng thống Ngô Đình Diệm là nhân vật, là người bạn không thể thiếu được». Nhưng, khi trở về Mỹ, ông lại báo cáo cho ông Kennedy và các nhân vật chính trị cao cấp : « Ông Diệm vẫn giữ vững lập trường không có quân chiến đấu Mỹ ở Việt Nam, trừ phi cộng sản Hà nội xua quân tràn qua vĩ tuyến 17 một cách đại quy mô như cộng sản Bắc Hàn đã làm qua vĩ tuyến 38 năm 1950 ». Do lập trường cương quyết Bảo vệ Chủ quyền Quốc gia, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã luôn hy sinh để tranh đấu cho sự Độc lập Dân tộc và, hôm đó, đã bày tỏ với ông Johnson là quan điểm chính phủ Việt Nam rất biết ơn sự viện trợ quân sự và cố vấn Mỹ. Nhưng, việc gửi Quân đội tác chiến đến Việt Nam, ông cương quyết từ chối: « Nếu quý vị mang Quân đội Mỹ vào Việt Nam, tôi phải giải thích thế nào đây với dân tộc tôi ? Với người Việt, hình ảnh hãi hùng Quân đội Viễn chinh Pháp còn ghi sâu trong tâm trí họ. Sự hiện diện của Quân đội Mỹ sẽ làm cho dân chúng dễ tin theo những lời tuyên truyền của cộng sản. Sự can thiệp của bất cứ quân đội ngoại quốc nào vào Việt Nam cũng đem lại sự bất lợi cho Việt Nam, vì làm cho cuộc chiến đấu của chúng ta mất chính nghĩa. Tháng 11.1961, Đại sứ Frederick Nolting được yêu cầu từ tòa Bạch ốc gặp Tổng thống Diệm về vấn đề quân chiến đấu Mỹ (được xem như ‘chia sẽ trách nhiệm’). Ông Diệm trả lời: «Chắc Đại sứ cũng hiểu, những đề nghị ấy đụng chạm tới vấn đề trách nhiệm của Chính phủ Việt Nam, Việt Nam không muốn là một nước bị bảo hộ (Vietnam does not want to be a protectorate) ».

{Lòng yêu nước và sự sáng suốt của một giáo dân, ông Diệm biết chắc sự hiện diện trên Quê hương Việt của lính chiến Mỹ sẽ làm mất Chính nghĩa Tự vệ, băng hoại nhiều gia đình và xã hội cùng khủng hoảng kinh tế (sản xuất đình trệ, lạm phát gia tăng…). Ngoài ra, đó sẽ là lý do để chiến tranh leo thang bởi Nga Hoa sẽ cung cấp súng đạn cho Bắc việt xăm lăng như tuyên truyền ‘chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên xô, Trung quốc’. Những tiên đoán của ông Diệm đã xảy ra đúng như vậy và ngày 30.04.1975, Việt Nam Cộng hòa bị xóa tên và, Sài gòn, Hòn Ngọc Viễn Ðông, từ đó, mang tên một xác chết. Thật đáng ‘đánh đòn’ linh mục đảng viên huỳnh công minh đổi tên Tổng Giáo phận Sài Gòn thành TGP tp.hồ chí minh}.

Ép Tổng thống Ngô Ðình Diệm không được, các tên thực dân Mỹ ‘đàn em’ của Tổng thống Kennedy (một lãnh đạo không lập trường) tạo ra vụ ‘Ðàn áp Phật giáo’ mà, nếu do chính họ dựng nên vụ nổ ở Ðài Phát thanh Huế ngày 08.05.1963 thì họ đã biết ai là thủ phạm, chúng ta không muốn tranh luận vì chất nổ đó Quân đội Cộng hòa lẫn khủng bố Việt công đều không có. Ngày 07.06.1963, bà Ngô Đình Nhu lên tiếng tố cáo người Mỹ đã cố tình nhúng tay vào, tạo nên vụ biến động này và thúc đẩy cho ngày một thêm trầm trọng, phức tạp thêm, nhằm khuynh đảo chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm vì Tổng thống cương quyết không chấp nhận chính sách can thiệp chính trị và quân sự của người Mỹ, là chính sách đi ngược lại ý nguyện và quyền lợi dân chúng Việt Nam. Ngày 11.06.1963, Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn, để phản đối cái gọi là ‘chính sách kỳ thị tôn giáo cuả chính phủ’. Ðâu là ‘sự thật’ vì, theo nghĩa thông thường, ‘tự thiêu’ là tự mình châm lửa đốt mình vì một mục đích nào đó. Thế mà, đến nay đã 53 năm qua, qua hình ảnh, người ta vẫn cho là Thượng tọa bị đốt. Ngoài ra, vai trò tuyên truyền các nhà báo Mỹ đã bi thảm hóa vụ này qua các hình ảnh. Sự kiện này xảy ra khi Tổng thống Ngô Ðình Diệm đang dự Thánh Lễ, do Ðức cha Phao lô Nguyễn Văn Bình, Tổng Giám mục Sài Gòn cử hành để Cầu Hồn cho Thánh Giáo Hoàng Gioan 23. Thánh Lễ vừa dứt, ông Bùi Văn Lương, Bộ trưởng Nội vụ báo ‘ác tin’ cho Tổng thống. Người rất buồn vì thương tiếc nạn nhân và nói ‘có gì mà phải làm như vậy !’. Là một giáo dân đạo đức, Tổng thống thấy mình có trách nhiệm. Lịch sử vẫn còn đó và đang tiếp diễn : Các chùa chiền được ông Diệm giúp đở xây cất vẫn hiện diện và ông Hồ ngày càng được thỉnh lên bàn thờ tại các chùa, bên cạnh Ðức Phật. Ngày 08.09.2016, chùa Liên trì, quận 2 Thành Hồ bị bọn cầm quyền dùng vũ lực để cưởng chế và đập phá. Thầy trụ trì ‘bị’ chở đi cứu cấp.

Cuộc đảo chính 01.11.1963 được ‘bật đèn xanh’ bởi công điện số 243 do Roger Hilsman, Vụ trưởng Viễn đông Bộ Ngoại giao Hoa kỳ gửi cho Đại sứ Henry Cabot Lodge, ngày 24.08.1963 (tóm ý) : ‘Chưa rõ quân đội đề nghị thiết quân luật hay ông Nhu lừa họ làm vậy, để đập phá chùa chiền với Cảnh sát và Lực lượng Đặc biệt và đổ tội cho quân đội. Chính quyền Mỹ không chấp nhận để quyền lực trong tay Nhu. Cho ông Diệm cơ hội để loại Nhu và vây cánh và thay thế bằng những nhân vật chính trị và quân sự tốt nhất. Nếu Diệm vẫn ngoan cố và từ chối, chúng ta phải tính tới khả năng không giữ chính ông Diệm’.

Công điện đánh dấu sự thay đổi chính sách này được đưa ra vào một ngày thứ Bảy khi Tổng thống Kennedy, Phó Tổng thống Johnson, Ngoại trưởng Rusk, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara, Cố vấn An ninh Quốc gia McGeorge Bundy và Bộ trưởng Tư pháp R. Kennedy đều đi vắng. Dù không hài lòng với lời lẽ trong điện tín, ông Kennedy và các nhân vật trọng yếu Hoa kỳ khác đã có thái độ 'tùy cơ ứng biến' với tình hình ở Sài Gòn trong các cuộc họp liên tục sau khi công điện 243 được gửi đi.

Sau khi ông Diệm và Cố vấn Nhu bị sát hại, Tổng thống Kennedy nói: «Tôi cảm thấy tôi phải chịu phần trách nhiệm lớn đối với vụ việc, bắt đầu với công điện hồi đầu tháng Tám trong đó chúng tôi gợi ý đảo chính. Theo tôi, công điện đó đã được viết ẩu và lẽ ra không nên gửi nó đi vào thứ Bảy.

« Đáng ra tôi không nên đồng ý mà không có hội nghị bàn tròn để nghe ý kiến của ông McNamara và Tướng Maxwell Taylor ». Các tài liệu giải mật gần đây cho thấy Tổng thống Kennedy đồng ý phải lật đổ người đồng nhiệm ở Sài Gòn, ông Ngô Đình Diệm, hồi năm 1963.

C. Giết Người vô tội để đi tới việc mất Nước.

Thi hành công điện đó, Lodge trao quyền cho Lucien Conein, đặc vụ CIA, để ‘chỉ huy’ các tướng đảo chính do Trần Văn Ðôn đứng đầu và, sau đó, chi tiền. Dương Văn Minh hay Ðôn chỉ là những tướng háo danh, chứ được CIA tin cậy chính là Trần Thiện Khiêm, sau là Nguyễn Văn Thiệu. Các phản tướng Thiệu, Khiêm đã phải chịu áp lực của Kissinger để ký Hiệp ước Paris 27.01.1973 màViệt cộng đã xé nó khi tiến chiếm Việt Nam Cộng hòa, với sự chứng kiến của hắn và Lê Ðức Thọ (hai khôi nguyên Nobel Hòa bình 1973, Kissinger lãnh tiền và Thọ ‘chê’ không nhận) và, ngày 30.04.1975, anh hùng cách mạng 1963 ‘Big’ Minh, Tổng thống ‘vi hiến’ ra lệnh cho quân nhân Cộng hòa buông súng và giao Miền Nam cho cộng sản.

Trở lại ngày 02.11.1963, khoảng 10 giờ, Đài phát thanh Sài gòn loan tin vắn tắt ‘Anh em ông Diệm bị bắt tại Chợ lớn, và đã tự tử!’ Dư luận không tin là nhị Vị tự sát vì ai cũng biết: Tổng Thống Diệm và bào đệ là những người ngoan đạo, mà đạo Thiên Chúa cấm tự sát. Hơn thế nữa, sau đó, những hình ảnh cho thấy tay hai ông bí trói thì làm sao tự tử ?

{Trong cuộc họp báo ngày 18.05.2016 tại Yên Bái, thiếu tướng công an Ðặng Trần Chiêu, Giám đốc Công an tỉnh, cho biết hai lãnh đạo tỉnh bị bắn chết trong phòng làm việc bởi Ðỗ Cường Minh, chi cục trưởng chi cục kiểm lâm tỉnh. Sau đó, ông này tự sát bằng một viên đạn ‘xuyên từ sau gáy ra trước’. Ðạn đạo này gây khả nghi là ông Minh bị người khác bắn. Nên khi tướng Chiêu xác định ‘Do đối tượng gây án đã tử vong nên không khởi tố vụ án theo quy định. Sau đó, một thiếu tướng khác tên Hồ Sỹ Tiến đã nói ngược lại là ‘dù nghi can đã chết nhưng vẫn phải khởi tố để làm rõ nguyên nhân và kết luận vụ việc một cách thận trọng’. Cuối cùng, đến nay, gần 6 tháng, nội vụ đã rơi vào quên lãng, đúng như lời Chiêu ?}

Nhận được hung tin hai cậu chết đau đớn như vậy, Linh mục P.X Nguyễn Văn Thuận liền đến gặp mẹ, bà Ngô Ðình Thị Hiệp. Bà an ủi con bằng những ngôn từ chính xác để đưa con về với thực tế. Bà dẫn con đến bàn làm việc, mở ngăn bàn và rút ra một tờ giấy. Bà lại đưa con vào nơi cầu nguyện của gia đình và nhẹ nhàng nói : « Bây giờ chính là lúc con đọc tờ này mà mẹ đã cất giữ một thời gian dài ». Cha Thuận đứng lại để đọc và nhận ra ngay đó là chữ viết của cậu Diệm… Ðây là văn kiện ghi những lời mà cậu đã hứa, như một ‘oblat’ ngày 01.01.1954 tại tu viện André ở Bruges (Vương quốc Bĩ, Dòng Thánh Benoit). Văn kiện ghi rõ tên dòng là Odilon. Hai tay Cha bắt đầu run vì cậu đã chọn tên của Thánh được mừng lễ ngày đầu tháng giêng. Một sự chọn lựa mang tính tiên tri vì Thánh Odilon là Thánh Bổn Mạng cho những người Tị nạn và cậu Diệm đã nổ lực để chu toàn sứ nhiệm trong tám năm (1954-1962) việc tiếp đón và an cư lạc nghiệp cho hơn 800 ngàn người tìm Tự Do từ Bắc vô Nam… Bà Hiệp nói khẻ với con : « Cậu của con hiến trọn đời cho Ðất Nước. Như vậy, không có điều bất thường khi cậu phải chết vì lý tưởng đó. Vì là ẩn sĩ, cậu cũng đã hiến đời sống cho Thiên Chúa. Do đó, cũng không gì quá đáng khi cậu phải ra đi khi Người gọi cậu về Nhà Cha ».

III. PHẦN CHÚNG TA, HÃY NOI GƯƠNG NGƯỜI.

A. Trên Quê hương.

Sau ngày 30.04.1975, sự ra đời của cái gọi là Ðàn két, bao gồm các linh mục quốc doanh (những giáo sĩ, từ con người được đồng bào cho xuống hàng xí nghiệp để tạo lợi nhuận cho đảng và nhà nước cộng sản). Những tu sĩ (không có Thánh chức Linh mục) và giáo dân thì có giá ‘bèo’ hơn. Muốn phá đạo, cộng sản trả lương, bằng tiền thuế đồng bào đóng, để các linh mục vi phạm Giáo Luật, làm gương xấu cho giáo dân. Huỳnh công Minh cần gì phải để Lê Hiếu Ðằng, người quảng cáo cộng sản ở Ðại học Luật Sài gòn, chuẩn nhận rằng linh mục ‘hợp luật’ để làm đảng viên và đại biểu quốc hội. Trước khi lìa đời, ông Ðằng mới biết mình rao hàng giả : phi dân chủ, hèn với giặc, ác với dân…

Bao nhiêu bất công đã gởi tặng cho các Linh mục ‘chui’ khi một vị ‘gốc Huế’ được nhà nước cộng sản ‘o bế’ muốn bôi nhọ Cha Phan Văn Lợi bằng từ ‘Linh mục chui’ (khi giảng Tĩnh tâm 2000 tại Giáo triều, Ðức cha Thuận có kể chuyện này) khiến nhiều cựu sinh viên Công Giáo bị mắc bẩy lên tiếng chê các Linh mục ‘chui’ vì không cập nhật hóa hiện tình Giáo Hội đau thương Việt Nam, nên cần phải giải thích là tất cả những Linh mục được phong chức trước 30.04.1975 đều Linh mục ‘chui’, tức không có phép nhà nước cộng sản mà chỉ được chọn bởi Giám mục ban Bí Tích Truyền chức Thánh.

Ðó là một vài chuyện buồn và thật ‘đáng tiếc’ nơi Quê Nhà, nơi không có Sự Thật, Công Bằng, Tự Do và Bác Aùi. Không có 4 yếu tố này thì đừng nói Hòa Bình như Việt cộng tuyên truyền láo. Lời chê các Linh mục ‘chui’ là một hành động không Bác ái.

B. Nơi hải ngoại.

1. Lời tiên tri.

Biết sự tạo phản của các tướng được thuê mướn bởi bọn thực dân (những tên dùng tiền viện trợ nước mình cho nước khác, thường là những nước nghèo, để áp buộc chính phủ những nước này phải hành động theo ý chúng) Mỹ, Tổng thống Ngô Ðình Diệm tâm sự với những người thân tín, với giọng buồn tiếc ‘sau khi ông bị đảo chính, quân Mỹ sẽ được đưa vào Việt Nam và, khi họ thua, những người đảo chính cũng phải chạy theo’. Lời tiên đoán này đã xảy ra chẳng những đúng như vậy mà còn tệ và nguy hiễm hơn.

2. Sự phân hóa do Mỹ và cộng sản thả câu.

Các tướng Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm, sau khi từ chức Tổng thống và Thủ tướng, được CIA buộc rời Việt Nam ngày 25.04.1975 đến Ðài Bắc (Trung hoa Dân quốc hay Ðài Loan). Sau đó, Khiêm được đi Hoa kỳ và Thiệu đi Anh quốc, sau đó, mới đến Hoa kỳ và qua đời tại đây. Trong thời gian đầu, nhiều tướng khó tìm được việc làm do chính mình chê việc hay bị từ chối vì người Mỹ không thể mướn một tướng đi lái xe. Do đó, họ có giờ tranh luận về sự mất Quê hương. Chuyện tướng ‘hề’ (từng đứng ra ‘đã đão độc tài’ trong nhóm sinh viên chống ông) Nguyễn Khánh tố cáo ông Thiệu lấy và đem đi 16 tấn vàng, không phải từ Ngân khố mà được lưu trử ở Ngân hàng Quốc gia. Việt cộng đã lấy cắp số vàng này cho chúng hay gia cho Liên xô. CIA chia rẽ bằng cách tung tin tướng này hay tướng nọ được chúng liên lạc để làm việc này hay việc khác.

Sau đó, khi Việt cộng nhận được dồi dào mỹ kim do viện trợ hay đồng bào tị nạn gởi về. Chúng dùng số ngoại tệ này và, với Nghị quyết 36, để mua chuộc thành viên các hội đoàn để lũng đoạn các tập thể này. Tiếp theo, các Việt cộng to cở Bộ hay Thứ trưởng sang Mỹ để chiêu hồi những sĩ quan trung cấp tị nạn về giúp nước do đảng cộng sản lãnh đạo.

3. Ðem Ðạo vào Ðời để cứu Ðời.

Ðó là nguyên tắc chính đáng phải có, nhưng vẫn thấy những Cộng đoàn Công Giáo hiện hữu những hiện tượng và các giáo dân hành động đem ‘Ðời vào Ðạo’ là điều không phù họp và sai trái.

a. Giáo xứ hay Cộng đoàn không phải là một Hiệp hội.

Giáo xứ hay Cộng đoàn là một tập thể qui tụ các giáo dân Công Giáo đến khi hội đủ các điều kiện Giáo luật định, Giám mục Giáo phận cử Linh mục đến để tổ chức việc Sống Ðạo cho các giáo dân này. Cha Sở hay Tuyên Uùy, đồng dạng với Ðức Kitô, nhờ Ðức Tin, tuyên bố ‘Này là Mình Thầy và này là Máu Thầy’ để nuôi chúng ta. Linh mục được Thiên Chúa ban nhiều Hồng ân Người để chu toàn nhiệm vụ nặng hơn giáo dân. Thiên Chúa là Ðấng công bình tuyệt đối. Tại Hội đồng Mục vụ, ý kiến giáo dân hay Linh mục khác chỉ có tính cách cố vấn và ý kiến Cha Sở hay Tuyên Uùy mới có giá trị quyết định.

Hiệp hội được thành lập do ý chí như nhau của mọi hội viên, nên quyền và nghĩa vụ từng người ngang nhau. Các thành viên Ban Ðiều hành có quyền hành nhiều hơn là do các hội viên khác ủy nhiệm và có trách nhiệm lớn hơn.

b. Tuân thuận các phán quyết của thẩm quyền tài phán.

Khi nhờ một cơ quan tài phán phân xử tranh chấp giữa mình và đệ tam nhân thì khi phán quyết được đưa ra mình phải tuân thuận và thi hành. Những nhận xét hay lý do của mình thường có tính cách chủ quan hay không đủ hiểu biết chuyên môn…

c. Luật Ðạo phù hợp với luật Thiên nhiên, nên nếu đem áp dụng vào Ðời thì sẽ cứu được Ðời. Thí dụ : Tổng thống Mỹ Obama phản đối Tổng thống Phi luật tân Duterte đã để cảnh sát hạ sát kẻ buôn á phiện không xét xử. Ðó là điều chúng ta cũng phản đối. Nhưng, tại Hoa kỳ, chỉ cần luật được Lập pháp lưỡng viện thông qua thì người Mỹ có thể phá thai, nạo thai khi thai nhi đã thành nguyên hình người bằng bẻ tay, cắt đầu thì sao ? Ðó là tội ác trái luật Thiên nhiên. Do đó, bà Clinton, dù được Obama ‘hết thời’ ủng hộ ra mặt, vẫn bị thất cử Tổng thống không phải là điều lạ.

d. Tại nhiều Giáo xứ và Cộng đoàn tòng nhân, người Công Giáo Việt hải ngoại đã mang những nguyên tắc Ðời vào để giải quyết viêäc Ðạo như tranh chấp, nghi ngờ nhau về Ngân quỹ… Trong Năm Thánh Lòng Chúa Thương xót, người ta đọc kinh do Ðức Thánh Cha Phanxicô viết nhân dịp này đã nêu tên các ‘người không tốt’ như ông Giakêu và Matthiêu, người đàn bà ngoại tình và bà Mađalêna và ông Phêrô khóc than sau khi chối Chúa cùng người trộm lành biết thống hối… Tất cả đều được hưởng Lòng Thương xót Chúa nơi Thiên Ðàng và được tuyên phong Hiển Thánh như Phêrô, Mattiêu, Mađalêna.

Ðối với chúng ta, Thiên Chúa cũng chờ để tha thứ và Người cũng mong muốn chúng ta cũng sẳn sàng hòa giải và tha thứ với tha nhân đồng bào.

KẾT LUẬN.

Tại vài Giáo xứ và Cộng đoàn tòng nhân, trước kia, hàng năm, nhân dịp Lễ Chư Thánh Tử Ðạo Việt Nam, Thánh Lễ trọng thể được hiệp dâng bởi con cháu các Thánh, tiếng ca hát hợp với tâm tình người Việt. Ngày nay, vắng mặt nhiều tín hữu, Thánh Lễ vẫn trọng thể, nhưng sự thiếu lời ca ‘oai hùng’ để tán tụng các Thánh đã tưới máu Tử Ðạo trên QuêHương. Ngày 02.11.1963, các phản Tướng giết ông Ngô Ðình Diệm để trao Việt Nam Cộng cho Mỹ điều động ‘những nhân vật chính trị và quân sự tốt nhất’ (x. công điện số 243) để đưa đến ngày 30.04.1975. Không đoàn kết, tương trợ lẫn nhau… thời gian 2020 gần kề… nếu Việt Nam giống như Tây Tạng thì phải nhớ rằng, ngày nay, chúng ta có nghe đến Giáo Hội Tây Tạng không ?

Ngày 20.11.2016, Lễ Chúa Kitô Vua
Bế mạc Năm Thánh Lòng Thương Xót tại Vatican

Hà Minh Thảo

Đọc nhiều nhất Bản in 21.11.2016 18:34