Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 12/2014

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Linh đạo hôn nhân: Ý nghĩa của cam kết

§ Vũ Văn An

Lịch sử nhân loại cũng như lịch sử của bất cứ đời người nào cũng có thể được kể lại bằng những cam kết. Lịch sử văn minh có khuynh hướng được viết theo những khám phá, những phát minh, những cuộc chiến, những sáng tạo nghệ thuật, những đạo luật, những hình thức cai trị, những phong tục, việc cày cấy đất đai, và việc chiến thắng biển cả của con người. Tuy nhiên, giữa lòng cái lịch sử ấy đôi khi lại là những trình thuật kín đáo về những hứa hẹn, những đoan hứa, những thề thốt, những hiệp ước, những niềm xác tín và những dự phóng lâu dài. Giữa lòng lịch sử của mỗi cá nhân cũng thế, ta cũng thấy câu truyện về các cam kết của họ – dù là khôn hay dại, giữ hay không giữ, vụn vặt hay tích tụ thành một cái toàn diện.

Các hình thức cam kết

Tuy nhiên, chỉ thoáng nhìn cũng cho ta thấy khá nhiều hình thức, đôi khi chằng chịt với nhau, trong các cam kết của ta. Dĩ nhiên, có những cam kết đối với người khác – có cái minh nhiên có cái tiềm ẩn. Nhưng cũng có những loại cam kết khác. Như điều ta có thể gọi là những cam kết “trí thức” – đối với một số chân lý đặc thù nào đó, và đôi khi đối với “chân lý” nói chung (một cam kết sẽ theo đuổi sự thật bất cứ nơi nào có sự thật). Có những cam kết đối với các giá trị – giá trị của một định chế, hoặc lẽ sống của một gia đình, hay những giá trị tự cho là “trừu tượng” như công lý, cái đẹp, hòa bình. Có những cam kết đối với kế hoạch hành động, bất kể đó là một dự án nhất định hay những kế hoạch suốt đời như “sống theo Tin Mừng”, hoặc những kế hoạch trả thù, những cuộc cách mạng bất bạo động, hoặc “sẽ là bà mẹ tốt”.

Vóc dáng các cam kết trong đời ta còn rộng lớn hơn và nhiều sắc thái hơn thế và cũng mờ mờ ảo ảo hơn nhiều nếu ta muốn thu chúng vào một cái nhìn bao quát. Thí dụ, có những cam kết không được nhận ra, một thứ cam kết dùng làm bối cảnh quan yếu cho mọi điều ta làm. Ta không minh nhiên ý thức được nó (hoặc được chúng vì có rất nhiều những cam kết như thế). Ta không bao giờ đem được nó tới cõi ý thức để ta có thể suy tư về nó. Loại cam kết này dùng để tạo nên một phần cái chân trời mà dựa vào đó ta giải thích mọi sự. Đó có thể là thứ cam kết mà các tâm lý gia quen miêu tả là “sự tín thác căn bản” (basic trust), hoặc là thứ các triết gia đặt tên là “tiền đề” (presupposition). Đó có thể là thứ bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể nhận ra nếu và khi nó được trình ra dưới sự chú mục của ta – tỷ như đương nhiên chấp nhận rằng luật cần được tôn trọng, hoặc coi trọng, không cần thắc mắc, các tiến bộ trong việc giáo dục nhân bản, hoặc giả thiết rằng mọi vật đều “có nghĩa” dù ta có hiểu chúng hay không. Những loại cam kết này, vốn có trước bất cứ sự nhìn nhận minh nhiên nào của ý thức ta, có thể gọi là những cam kết “tiền suy tư”.

Nhưng nếu “cam kết” có mặt trong mọi hình thức trên, thì điều gì thực sự là ý nghĩa chung nhất khiến nó không rơi vào chỗ rỗng tuếch? Một vài dấu hiệu đã thấy thấp thoáng qua những trình bầy trên đây. Trong ngôn ngữ của ta, cam kết dường như bao hàm ý niệm sẵn sàng làm một cái gì đối với hoặc về bất cứ điều gì ta đã cam kết sẽ làm (ít nhất để bảo vệ nó hoặc để khẳng nhận nó khi nó bị đe doạ). Giả thiết, chẳng hạn, tôi hỏi tôi cam kết đối với những sự thật nào. Tôi liền khám phá ra có nhiều sự thật được tôi tôn trọng, khẳng nhận và tin chắc, nhưng tôi không có “cam kết” với chúng. Điều này có nghĩa là gì? Có thể nói được rằng, nhờ một cái nhìn sâu sắc nào đó của chính tôi hoặc một xác tín nào đó về tình trạng sự vật hoặc chiều hướng phải theo, tôi thấy “tôi chưa thể dính kết đời tôi vào nó”. Điều ấy có thể có nghĩa tôi chưa hoàn toàn chắc chắn về nó. Hoặc cũng có nghĩa rằng dù tôi đã chắc chắn về nó, nhưng chỉ vì nó chẳng đủ quan trọng khiến tôi phải làm một cái gì đó đối với nó. Nó chẳng đủ quan trọng khiến tôi phải từ bỏ bất cứ điều gì đó vì nó (huống hồ là hy sinh mạng sống tôi vì nó); nó cũng chẳng quan trọng khiến tôi phải phí sức mà bênh vực nó bằng lý luận.

Như thế, xem ra việc sẵn sàng làm một cái gì đó phải được bổ túc bằng cảm thức ta bị trói buộc vào bất cứ người nào hoặc bất cứ điều gì ta cam kết. Chính cái bản thân ta (hoặc ít hoặc nhiều) bị dính cứng vào cái đối tượng kia, đến độ ta không chỉ trân qúi hoặc ước ao nó, mà còn “đồng nhất” với nó theo một nghĩa nào đó nữa. Sự liêm chính (integrity) của ta, trong một số hoàn cảnh, đòi ta phải làm một cái gì đó. Đối tượng cam kết của ta có quyền đòi hỏi nơi ta, không phải thứ đòi hỏi cưỡng chế, nhưng là thứ đòi hỏi ngỏ với chính tự do của ta. Ngay cả khi ta không cảm thấy tự do chút nào đối với cái cam kết của mình, trái lại cảm thấy như bị bó buộc “bất kể bản thân ta” hoặc cuỡng lại chính các ý thích của ta, ta vẫn thấy một cảm thức trong đó sáng kiến của ta có dự phần vào khi ta hành động vì cam kết của mình.

Cam kết tiên khởi

Ta có thể tiếp tục khảo sát nhiều hình thức cam kết khác và khám phá ra các yếu tố chung cho tất cả các hình thức cam kết ấy. Ta cần tìm hiểu hơn mối tương quan giữa sự chọn lựa tự do đối với cam kết và tầm quan trọng của những cam kết tiền suy tư đối với những cam kết mà ta chọn lựa một cách có ý thức. Tuy nhiên giờ đây có thể là lúc hữu ích để dùng cái ngọn đèn ẩn dụ mà đi vào những vùng sâu thẳm nhất của một hình thức cam kết duy nhất mà thôi. Để làm điều đó, ta cần nhận dạng ra một loại “trường hợp tiên khởi”, một hình thức cam kết có tính trung tâm – một hình thức cam kết mà các hình thức khác phải rút tỉa ý nghĩa từ đó. Cam kết đối với những con người, khi minh nhiên và được phát biểu ra, quả đã mang lại cho ta cái “trường hợp tiên khởi” nói trên.

“Lời hứa phải giữ...”

Khi nói đến các cam kết minh nhiên, được phát biểu ra, và có tính liên bản ngã, ta có ý nói đến các lời hứa hẹn, các khế ước, các giao ước và các lời khấn thề... Những cam kết này cho ta một trường hợp đầu hết để hiểu mọi hình thức cam kết khác vì các yếu tố của cam kết thấy rất rõ trong chúng. Ta nhận ra việc bó buộc phải hành động cách nào đó bên trong các cam kết này thường hơn là bên trong các cam kết khác. Hơn nữa, ở đây ta thường phải đối diện với thế lưỡng nan hơn hết và việc không thể tránh mà không đưa ra những kết luận xé lòng. Chính trong những cam kết này mà các vấn đề như yêu thương, thời gian và thay đổi, những trách nhiệm trái ngược nhau, xem ra gay gắt hơn hết. Chính sự minh nhiên của các lời hứa hẹn, của các giao ước và khế ước đã làm nổi bật kinh nghiệm cam kết và giúp ta cơ hội hiểu nó hơn.

Dĩ nhiên có những cam kết liên bản ngã nhưng không được minh nhiên phát biểu ra (ít nhất lúc tạo ra chúng). Thí dụ một số vai trò ta phải đảm nhiệm hay một số liên hệ ta tham dự vào tự chúng đem lại những cam kết, và những cam kết này trở thành cam kết của ta dù nguyên thủy ta không chọn chúng. Ta sinh ra đời đã đóng vai tuồng là con gái hay con trai, là anh hay chị. Một số tình bạn xuất hiện cách tự phát và xem ra chẳng cần hứa hẹn chi hết. Các vai trò khác được ta đảm nhiệm qua chọn lựa minh nhiên và thường qua một phát biểu bên ngoài – các vai trò trong gia đình như làm chồng làm vợ, đôi khi làm mẹ làm cha, và các vai trò nghề nghiệp như y sĩ và thầy cô giáo. Tuy vậy, ngay những vai trò không phải ta đã chọn trước nhất cũng có thể hiểu được một phần lớn qua việc hiểu những vai trò ta đã chọn một cách minh nhiên; vì vai trò nào đến một lúc nào đó cũng đòi phải được tự do và minh nhiên “phê chuẩn” hay “chấp nhận”.

Việc tạo ra các hứa hẹn

Việc đầu tiên phải làm khi tìm hiểu về các cam kết minh nhiên và được phát biểu ra là hỏi xem “Điều gì xẩy ra khi ta cam kết như thế?” Hương Lan thực sự đã làm gì khi cưới Đỗ Huân? Chuyện gì thực sự sẽ xẩy ra lúc Khánh Linh tuyên hứa sẽ sống đời sống độc thân và giản đơn trong cộng đoàn những người hiến thân cho Chúa? Chuyện gì thực sự có hiệu quả khi Duyên ký một khế ước làm ăn? Điều gì xẩy ra khi Thành đọc lời thề Hippocrate lúc chàng bắt đầu hành nghề bác sĩ? Chuyện gì xẩy ra khi các nguyên thủ quốc gia đặt bút ký thỏa hiệp quốc tế liên quan đến luật biển? Điều gì xẩy ra khi Tâm và Thủy thề hưá yêu nhau suốt đời? Bích và Thịnh đã làm gì khi họ để tên họ vào một hợp đồng thuê căn nhà họ đang thuê một năm? Bất cứ ai trong chúng ta đã làm gì khi cam kết, khi hứa hẹn, khi đi vào hoặc chuẩn nhận một giao ước?

Ta có thể hỏi câu hỏi ấy trong những trường hợp như nạp tiền xin tại ngoại hầu tra hoặc trao đổi nhẫn cưới. Điều gì đã xẩy ra trong các trường hợp như thế? Trong cả hai trường hợp, tôi đang “đưa ra lời cam đoan” sẽ làm một cái gì đó trong tương lai. Nhưng “đưa ra lời cam đoan” nghĩa là gì? Chắc chắn đó không phải như những chuyện khác tôi có thể làm liên quan đến các hành động trong tương lai của mình. Thí dụ như không phải là lời tiên đoán chẳng hạn. Vì nếu là lời tiên đoán, tôi đâu có chịu trách nhiệm về điều thực sự sẽ xẩy ra trong tương lai cho cái mà tôi đã tiên đoán (ngoại trừ trường hợp tiên đoán thời tiết, dù không chịu trách nhiệm theo nghĩa là kiểm soát được thời tiết, nhưng có thể bị coi là vô trách nhiệm nếu tỏ ra thiếu khả năng chuyên môn). “Đưa ra lời cam đoan” cũng không có nghĩa là “hạ quyết tâm”; vì với việc hạ quết tâm, tôi có thể thấy mình có trách nhiệm phải làm điều mình đã quyết tâm, nhưng trách nhiệm ấy chỉ là đối với riêng mình tôi mà thôi (để chứng tỏ là mình nhất quán trong việc thi hành các quyết định của chính mình), chứ đâu có ăn nhằm gì tới người khác.

Khi tôi nạp tiền tại ngoại hầu tra, tôi cam đoan là tôi sẽ trở lui để chịu xử án. Tôi công bố với ai đó rằng tôi sẽ làm chuyện đó trong tương lai, và tôi buộc mình phải làm điều ấy bằng cách nạp một số tiền làm thế chấp cho lời nói của tôi. Khi hai người trao nhẫn cưới cho nhau trong hôn lễ, họ cam đoan với nhau ý định họ sẽ hành xử và hiện hữu với nhau như thế nào trong tương lai, và họ trao cho nhau chiếc nhẫn để làm bằng chứng rằng họ đã nói như thế và bắt buộc họ sẽ làm như vậy.

Đưa ra lời cam đoan như thế là “đặt” một phần bản thân tôi, hoặc một cái gì đó thuộc về tôi, vào tay người khác “giữ”. Là cho người khác cái quyền đòi hỏi đối với tôi, đòi tôi phải thi hành cái hành động mà tôi đã cam kết sẽ thi hành(1). Khi tôi “đưa ra lời cam đoan”, không phải là tôi chỉ đưa cái lời ấy ra khỏi tôi. Nó không được đưa ra như một quà tặng (hoặc như một thứ tiền nạp phạt), nhưng như một của làm tin (pledge). Nó vẫn thuộc về tôi, nhưng hiện bị người khác nắm giữ, người mà tôi đã trao gửi. Nó đòi sự tín trung, trứơc sau như một của tôi, không phải chỉ vì tôi đã nói điều ấy với tôi mà thôi, mà là vì hiện nay cái người khác đã nhận nó đang lên tiếng đòi hỏi. Tiền của tôi vẫn là tiền của tôi khi tôi đưa ra để xin tại ngoại hầu tra. Chính vì thế mà tôi buộc phải trở lại để ra tòa, kẻo số tiền ấy không còn là của tôi nữa. Chiếc nhẫn cưới đâu có “cho đi đứt luôn” đâu. Theo một cách nào đó, nó thuộc cả hai vợ chồng, vì nó biểu hiệu rằng lời nói kia là “sự thực” trong miệng người nói, được sinh ra (begotten), được nói lên, đầu hết từ chính trái tim. Vì thuộc người nói, lời nói kia nay được người nghe nó và giữ nó lên tiếng đòi hỏi. “Điều của anh đã thành của em” nhưng đồng thời vẫn là của anh. Nó vẫn là của anh, hay nó vẫn là chính anh, mặc dầu anh đã ủy thác nó cho một người khác. Chính vì thế anh bị nó trói buộc, anh bị trói buộc vào nó, và vào người khác kia.

Cam kết với ai là ngụ cư trong họ

Như thế, điều xẩy ra khi tôi cam kết là chính việc tôi bước vào một hình thức liên hệ mới. Theo nguyên ngữ Latinh, cái gốc của cam kết (commitment) là chữ mittere – có nghĩa là gửi. Tôi gửi lời tôi đến một người khác. Những cách dùng thông thường trong từ điển về chữ commitment bao gồm “đặt vị trí” ở một nơi nào đó (như trong cách nói chạm tới đất (to commit to the earth), tống vào nhà tù (to commit to prison) hoặc ghi vào trí nhớ (to commit to memory) ; và “ủy cho ai”, “ủy thác” “trao cho ai săn sóc” (như khi nói ủy thác mọi lắng lo cho Chúa). Khi tôi cam kết với một người khác là tôi ngụ cư trong họ bằng lời nói của mình.

Cái mà ta gửi đi thường là lời nói, chứ không phải tiền bạc, tuế nhuyễn cũng như những biểu hiệu đặc biệt để “thay thế” cho ta. Tuy thế, vì chỉ có lời nói, nên ta luôn nghĩ cách “nhập thể”, “cụ thể hóa”, làm chính lời nói ấy trở thành rờ mó được. Như thể ta cần nhìn thấy thực tế điều sẽ xẩy ra. Thí dụ, ta ký tên chẳng hạn. Lời nói của ta trong khế ước được đóng ấn bằng việc ta tự đặt ta – dưới hình thức cái tên của ta, được viết bằng chính tay ta- vào văn bản. Trong hình thức ký giao ước bằng máu xưa của người Syria, người ta yêu cầu người ký giao ước phải tự tay lấy máu viết tên mình vào bản giao ước, bản giao ước này sau đó được gói vào da và đeo vào tay người ký giao ước với mình (2). Các nghi thức ký giao ước bằng máu khác còn đi xa hơn bằng cách hòa lẫn máu của hai người vào với nhau. Vì máu là biểu hiệu của sự sống, và chính sự sống của một người được ủy ký cho người kia trong các nghi thức cam kết thánh thiêng.

Khi lời nói xem ra không đủ sức chuyên chở toàn diện ý nghĩa của cam kết, đôi khi người ta phải nại tới tụng niệm (chants), như thể nếu cứ lặp đi lặp lại, lời nói sẽ cứng cáp hơn, thấy rõ hơn. Trong các bộ lạc miền Berber, có một nghi thức đính hôn cổ trong đó hai người đính hôn thay nhau hát bài hát sau đây trong bốn tiếng đồng hồ:

"Anh đã xin em, anh đã xin em, anh đã xin Chúa và xin em.
Anh đã cho em, anh đã cho em, anh đã cho em, liệu em có nhận điều kiện của anh.
Em đã chấp nhận, em đã chấp nhận, em đã chấp nhận và đã bằng lòng..."
(3).

Như thế, cam kết bao hàm một liên hệ mới trong hiện tại – một liên hệ đang trói buộc và đang bị trói buộc, đang đòi hỏi và đang bị đòi hỏi. Nhưng cam kết ấy chỉ về tương lai. Toàn bộ lý lẽ biện minh cho liên hệ hiện nay như cái gì “đang trói buộc” là để ảnh hưởng đến tương lai, là để bắt ta phải thực hiện cái hành động ta hiện có ý định làm và hứa hẹn. Vì ta không thể hoàn toàn loại trừ được tự do tính của ta trong tương lai (hãy nghĩ đến anh chàng mê cờ bạc cứ phải lựa chọn đi lựa chọn lại giữa việc giữ lời hứa hay không), nên qua cam kết, ta ráng trói buộc tự do của chính ta, dù không hoàn toàn tiêu hủy được nó. Làm thế nào cam kết thực hiện được điều đó?

Khi nhường cho người khác cái quyền đòi hỏi đối với các hành động tự do của tôi trong tương lai, tôi đã trao cho người ấy quyền được hạn chế sự tự do trong tương lai ấy của tôi. Sự hạn chế hệ ở sự kiện này là tôi liều mình sẽ để mất điều tôi đã đưa ra như của làm tin nếu tôi không trung thành với lời hứa của mình. Tôi liều mình để mất tài sản thế chấp, hoặc tiền tại ngoại hầu tra tôi đã nạp, hoặc quyền tự do đi lại nếu tôi vào tù vì đã vi phạm các thỏa thuận hợp pháp. Tôi liều mình để mất thanh danh, hoặc sự tín nhiệm của người khác hoặc lòng tự trọng chính mình, nếu tôi không chịu giữ ngay một lời hứa hẹn tầm thường, vô nghĩa lý. Tôi liều mình để mất tình yêu của người khác, hoặc nhà cửa, sự nâng đỡ nhiệt tình của gia đình, cảm thức trung thực và liêm khiết, hoặc cảm thức liên tục trong một nền văn hóa hay tôn giáo, nếu tôi phản bội hoặc phá hủy một cam kết sâu sắc từng giữ vai trò trung tâm đối với đời tôi. Tôi liều phá hoại hạnh phúc của người tôi yêu, nếu lòng thủy chung của tôi bị một cam kết với người thứ ba khác giật mất. Đôi khi ta biết rất rõ điều ta liều mình sẽ mất, cái gì trói buộc ta vào các cam kết của ta; đôi khi ta chỉ biết được nó là cái gì và đã ra sao khi lòng thủy chung của ta bị chất vấn nghiêm trọng. Rõ một điều là các cam kết của ta không giống nhau, đến độ có những cam kết ta chỉ liều mất chút ít, nhưng có những cam kết ta liều mất mọi sự. Tuy thế, trên hết, vì ta coi trọng lời nói của mình, nên lúc nào ta cũng liều mất một phần bản thân khi ta phản bội lời nói ấy (4).

Cam kết để cam kết?

Nếu ta ngừng ở đây, chấp nhận đó như là ý nghĩa đầy đủ của cam kết, ta hẳn sẽ chịu trách nhiệm về mọi nguy cơ đối với việc cam kết. Vì một đàng, ta có thể chỉ thấy những khía cạnh huy hoàng của cam kết – gom tương lai mình vào một mối tình lớn, hoặc thuộc về người khác cách chan hòa say đắm; và đo đó có thể vội vã bước vào cam kết chỉ để mà cam kết. Làm như thế, mối cam kết lớn duy nhất của ta có thể kết cục chỉ là cường điệu hoa sói, nhưng rỗng tuếch và nguy hại. Đàng khác, ý nghĩ phải trao cho người khác quyền được đòi hỏi trên ta, dù lớn dù nhỏ, cũng có thể làm ta hoảng sợ, sợ rằng cái cam kết ta đang làm đây có thể sẽ thu nhỏ các khả năng của ta lại, khiến ta không còn “lối thoát”, làm ta chết ngạt với một cuộc sống bị bao vây như nêm cối với những trách nhiệm và bổn phận.
Những yếu tố chính của một cam kết liên bản ngã là chính cái ý định liên quan đến hành động trong tương lai và nhận lãnh bổn phận đối với người khác liên quan đến hành động kia. Nhưng để tìm ra vị trí hợp lý của nó trong đời sống ta, và có thể phân định xem cái cam kết kia bắt buộc ra sao và bắt buộc khi nào trong những hoàn cảnh cá biệt, ta cần nghĩ đến các mục đích nó có thể thực hiện được cách hợp lý và những giới hạn mà chắc chắn nó sẽ gặp phải.

Còn một kỳ

Vũ Văn An

Đọc nhiều nhất Bản in 22.12.2012. 18:57