Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 7/2014

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Linh đạo hôn nhân: Ý nghĩa của cam kết (2)

§ Vũ Văn An

(tiếp theo bài 1)

Một phương thuốc và tiền đánh cuộc

Mục đích đệ nhất đẳng của các cam kết minh nhiên và được nói ra giữa những con người với nhau là đem lại đôi chút chắc chắn cho những hoài mong vào các hành động của những con người có tự do, nhưng với một ý chí luôn bị lung lay. Nó đưa lại một ít cơ sở để ta có thể tin tưởng lẫn nhau. Như Hannah Arendt nhận xét, “Trong khả năng biết đưa ra và cố giữ các lời hứa, người ta tìm được phương thuốc chữa cái bệnh bất khả tiên đoán, cũng như cái bệnh không chắc chắn chút nào đối với tương lai” (5). Cam kết, như đang xuất hiện trong cộng đồng nhân loại, hàm nghĩa một hiện trạng sự vật trong đó có sự hoài nghi về các hành động tương lai của ta. Nó hàm nghĩa rất có thể có thất bại trong việc thực thi các hành động hiện đang được hoạch định, dù hết sức nóng bỏng và cương quyết bao nhiêu đi chăng nữa. “Nếu không bị bó buộc phải thực thi các lời đã hứa, ta sẽ không khi nào duy trì được các căn tính của ta; ta bó buộc phải phiêu du cách vô vọng và không định hướng trong bóng đêm tấm lòng đơn côi của mỗi cá nhân, bị giằng xé bởi đủ thứ mâu thuẫn...” (6). Tấm lòng ấy đâu có bị biệt loại theo bản năng và hành động theo hướng đã định như loài vật vì thiếu tự do; tấm lòng ấy không đi theo chiều đi bất lay chuyển vì ta có tự do Thiên Chúa phú ban.

Vì ý chí ta thực sự dễ bị lung lay, nên ta cần một phương cách để bảo đảm với người khác rằng ta nhất định nhất tâm với lời ta nói. Vì ta biết rõ những thất thường của mình, nên ta cần một phương cách để tăng cường quyết tâm của chính ta trong việc thể hiện các ý định của ta hiện nay trong một tương lai chẳng có chi là chắc chắn. Trao cho người khác quyền được đòi hỏi các hành động tương lai của ta sẽ đem lại cho ta một rào cản chống lại những đợt đổi thay thất thường trong trái tim ta, chống lại những trệch đường trệch lối, những yếu đuối và nước đôi của ta. Nhờ cam kết, ta tự đem đến cho mình những trói buộc (và người khác những quyền hành) bắt ta phải làm điều thực sự ta muốn làm trong tương lai, mà lẽ ra ta không có khả năng làm. Là phương thuốc chữa bệnh thất thường và không chắc chắn, cam kết cũng là tiền đánh cuộc (wager) trên sự thật của điều ta nhìn ra hiện nay và của niềm hy vọng vào tình yêu hiện nay của ta.

Bao lâu việc đưa ra hứa hẹn đem đảm bảo đến cho người khác và đem sức mạnh đến cho chính ta, nó sẽ làm dễ dàng nhiều khía cạnh quan trọng của đời người. Nó là phương tiện để các mối liên hệ bản thân dựa vào (dưới hình thức này hay hình thức khác) và đời sống chính trị (không phải chế độ chuyên chế và độc tài bạo lực) đòi hỏi. Nó nâng đỡ chính khả năng thông đạt của con người, vì nó chính là yếu tố mặc nhiên đảm bảo cho việc nói thật. Như Erik Erikson đã nhấn mạnh, “Một lời nói ra là một hiệp ước. Có một khía cạnh cam kết bất phản hồi trong bất cứ lời phát biểu nào được người khác ghi nhớ...” (7). Chính các cam kết liên bản ngã (trong một khế ước xã hội dù loại này hay loại khác) đã từng là khí cụ tạo nên các cơ cấu đã được hoạch định một cách tiêu cực để bảo vệ lẫn nhau – người này chống người nọ hay nhóm này chống các đe dọa của nhóm kia; hoặc được hoạch định cách tích cực để giúp nhau có lợi – lợi về kinh tế hay văn hóa, qua việc chia sẻ lao động hay vật tư, chia sẻ kiến thức hay thưởng lãm nghệ thuật. Ta không cần phải lặp lại rằng chính các cam kết đôi khi dẫn khỡi và nâng đỡ tình đồng chí và tình yêu. Cũng chính cam kết đã có mặt giữa lòng lịch sử của nhiều tôn giáo, hoặc dưới hình thức những mặc cả bán khai với các thần minh đầy hãi sợ và dấu mặt hoặc dưới hình thức những giao ước được ngỏ giữa các bản vị:Thiên Chúa đưa ra cam kết, đảm bảo với dân bằng một ý chí thần linh không bao giờ lay chuyển, kêu gọi con người nhất tâm bước theo trong tự do và yêu thương.

Các giới hạn trong việc trói buộc

Nếu có bao giờ ta phải ấn định xem ta bị các cam kết trói buộc ra sao và khi nào, thì ta phải có cách nào đó xác định ra các giới hạn của chúng. Thí dụ như Hương Lan chẳng hạn, chỉ trừ nàng nhất định rằng không có cách chi, không có hoàn cảnh nào có thể biện minh được việc nàng ly dị Đỗ Huân, thì nàng cần phải hiểu rõ nàng bị trói buộc đối với chàng và đối với cuộc hôn nhân với chàng đến mức nào. Nếu mọi cam kết của ta đều trói buộc ta cách tuyệt đối, thì ta nên thúc thủ ngồi chờ chúng tràn ngập ta với các đòi hỏi trái ngược nhau của chúng, chẳng còn cách chi giải quyết hết, hoặc, oái oăm thay, có thể yên ổn sống trung thành với chúng.

Hiển nhiên, đối với ta, không phải mọi cam kết của ta đều có tầm quan trọng như nhau hoặc các đòi hỏi của chúng đều hiểu được như nhau. Ta quả có đặt ra những giới hạn cho các trói buộc mà ta cam kết. Thí dụ hầu như mọi cam kết của ta đều tạm thời theo một nghĩa nào đó; hầu như tất cả đều cục bộ, có điều kiện, tương đối. Thực tế là như vậy. Thực vậy, ta có quyền hỏi xem có bao giờ (ít nhất là ở một lúc nhất định nào đó) có một cam kết được coi là tuyệt đối mà không mâu thuẫn hay không.

Đôi khi có những giới hạn ngay bên trong các cam kết mà ta không biết đến. Nghĩa là có thể có việc ta lầm tưởng rằng ta hoàn toàn cam kết đối với sự vật hoặc người nào đó, mà thực ra thì không phải như vậy; hoặc chiều sâu của các cam kết của ta thực ra không sâu như ta tưởng. Ta từng gặp những hoàn cảnh trong đó, như tông đồ Phêrô, ta ngạc nhiên thấy mình dễ dàng phản bội điều ta tưởng như là cam kết dứt khoát của mình. Ngược lại, đôi khi ta ngạc nhiên, như Giuđa chẳng hạn, thấy mình cam kết với một ai đó và bị trói buộc vào họ quá điều ta có thể hiểu; vì điều ta giả thiết là hời hợt hoặc ở bên lề cuộc sống mình thực sự lại hết sức sâu sắc và không thể nào quên được. Ở cả hai trường hợp đó, ta đều có thể phải khóc nức nở khi khám phá ra sự thật, với lòng hối tiếc hoặc biết ơn vì sự thật ấy.

Có lẽ chả có thuốc nào chữa được những sai sót trong sự hiểu biết về chính mình ngoại trừ thời gian và kinh nghiệm. Tuy nhiên, ta có thể suy tư nhiều hơn về những giới hạn ta có ý định đặt để trong các cam kết của mình. Hiểu các giới hạn không phải lúc nào cũng làm giảm đi một cam kết nhưng đúng hơn giúp ta chú tâm vào nó, giúp nó dự phần vào cái năng lực và mối hy vọng toàn diện của một đời cam kết.

Thật là quá sớm nếu ta muốn tìm hiểu mọi cách thế trong đó những trói buộc cam kết của ta liên hệ với nhau. Nhưng về phương diện này, ta có thể thấy một vài cách thế tổng quát, và đồng thời hiểu được những giới hạn có thể có trong các cam kết. Những hạn từ khá hữu dụng là các hạn từ như “có điều kiện” và “vô điều kiện”, “cục bộ” và “toàn diện”, “tương đối” và “tuyệt đối”. Các cặp hạn từ này không hoàn toàn loại trừ lẫn nhau, trái lại chúng có thể hòa lẫn vào nhau được. Dù sao, chúng cũng giúp ta hiểu rõ ta có thể ủy thác cho người khác bao nhiêu quyền đòi hỏi.

Nếu một cam kết nào đó có điều kiện, chúng chỉ trói buộc dưới một số điều kiện nào đó mà thôi. Đôi khi ta đưa ra các cam kết trong đó ta có thể qui định rõ ràng các điều kiện qua đó chúng bị trói buộc. Thí dụ, tôi hứa làm điều gì đó chỉ khi nào anh cũng hứa như vậy; hay chỉ khi nào qui tắc xây dựng được tôn trọng; hay chỉ đến khi một nhân viên khác được thuyên chuyển đến đây; hay chỉ trừ khi hợp đồng bảo hiểm của tôi chịu trả hết các chi phí. Một cam kết vô điều kiện đương nhiên là một cam kết trong đó tôi cam kết với ai đó “bất kể “ điều kiện nào hết. Như thế, tôi có thể cam kết “đi bất cứ nơi đâu em đi và dừng lại bất cứ nơi nào em dừng lại”, tôi không thể trưng ra bất cứ điều kiện gì để biện minh cho việc thay dạ đổi lòng hoặc cảm thức bị bắt buộc của mình. Ta có thể thấy rằng mặc dù bản tính của cam kết là khước từ các điều kiện có mục đích biện minh cho cho việc thay đổi cam kết, ấy thế nhưng phần lớn các cam kết của ta ít nhất cũng lệ thuộc điều kiện này là chúng chỉ có khả thể được thực thi (chứ không chắc chắn 100%).

Một cam kết có thể là cục bộ hoặc toàn diện tùy theo điều được ủy cho người khác đòi hỏi. Cục bộ có thể do thời gian: cho đến tuần tới hoặc cho đến lúc thời tiết thay đổi, hay khi tôi tới tuổi về hưu. Cục bộ cũng có thể vì là một “phần” của một cái gì lớn hơn – như lời khấn khó nghèo là một phần trong cam kết toàn diện muốn phục vụ anh em. Cục bộ cũng có thể vì tôi chỉ ủy cái quyền đòi hỏi trên tài sản tôi chứ không trên chính con người của tôi.

Ta nghĩ đến cam kết như là toàn diện khi nó bao hàm trọn vẹn bản thân người cam kết. Đây chính là những cam kết tạo nên những chọn lựa căn bản của đời người. Chúng có thể là những cam kết ta làm để yêu thương người khác. Tuy nhiên, khi ta ráng miêu tả những cam kết loại này, ta liền gặp khó khăn trong việc phát biểu các cảm nghiệm phức tạp của mình. Thí dụ, làm sao diễn tả được sự cam kết yêu một người khác phát sinh từ toàn bộ con người ta, nghĩa là một cam kết được ta khẳng nhận toàn diện bằng chính cuộc đời mình, mà lại không hàm nghĩa là ta phải hoàn toàn sẵn sàng có đó (total availability) đối với họ chỉ vì nghĩa yêu đương? Ta ngần ngại không muốn gọi một cam kết như thế là cục bộ, và sự ngần ngại này tự nó đã nói lên sự thật rất phong phú.

Ý niệm tương đối tuyệt đối có thể rất có ích để hiểu bản chất và các giới hạn trong các cam kết của ta. Nhưng cả chúng nữa cũng có những khả thể khác nhau mà không phải lúc nào cũng hiểu rõ được. Như thế, một cam kết tương đối là một cam kết có tương quan với một cam kết khác. Nó tùy thuộc cam kết kia để có ý nghĩa riêng, ít nhất đến một mức nào đó. Nó có thể được rút ra từ (derivative), là phương tiện của, hoặc tham dự vào một cam kết khác. Nhưng ngay những hạn từ này, vốn dùng để miêu tả những cách thế tương quan giữa các cam kết với nhau, cũng chứa đựng những khả thể khá phức tạp.

Thí dụ, có sự khác biệt rất lớn giữa những cam kết hoàn toàn có tính phương tiện (chỉ dùng như những phương tiện đạt các mục tiêu khác, tức các cam kết lớn hơn) và các cam kết yêu một ai đó được coi như chính mục đích, dù đó chỉ là một mục đích (chứ không phải phương tiện) mà thực tại sâu thẳm nhất chỉ có khi đặt mình trong tương quan với Chúa. Thí dụ, Đỗ Huân có thể chỉ cam kết với vợ con vì họ cần thiết đối với anh để anh duy trì một vị thế kinh doanh nào đó đối với các người hùn hạp. Hay anh có thể cam kết với họ vì anh thấy anh là một người chồng và một người cha đáng tin cậy, có trách nhiệm, và chàng biết vợ con chàng cần đến sự nâng đỡ về tài chánh và về bản thân của chính chàng. Hay chàng cam kết với họ vì chàng yêu họ vì chính con người của họ; nhưng vì chàng tin rằng họ “sống, cử động và hiện hữu” trong tương quan với Chúa, nên cam kết của chàng đối với họ là một phần nội tại trong cam kết của chàng đối với Chúa.
Cách dễ nhất để hiểu một cam kết “tuyệt đối” là ví nó với một cam kết “vô điều kiện”. Tuy nhiên theo nghĩa này, một số cam kết tương đối cũng có thể gọi là tuyệt đối (nếu điều tương quan với nó là đối tượng của một cam kết vô điều kiện, và nếu mối tương quan ấy là mối tương quan nội tại và tất yếu). Có lẽ ta cũng có thể ví các cam kết tuyệt đối với các cam kết “toàn diện”; nhưng ở đây ta cũng gặp cùng một thứ không chắc chắn như trường hợp các cam kết cục bộ và toàn diện vậy. Để cho chính xác hơn, thiết tưởng ta chỉ nên coi chúng như những cam kết vừa vô điều kiện vừa toàn diện. Có lẽ đó là loại cam kết mà Gabriel Marcel đã mô tả như là cam kết mà “toàn bộ bản ngã tôi đã bước vào, hay ít nhất cũng là cái gì đó chân thực trong tôi mà nếu ruồng rẫy nó là ruồng rẫy cả con người tôi – và là điều có thể được ngỏ với toàn bộ Hữu Thể và được thể hiện trước mặt cái toàn bộ ấy” (8). Dù cách miêu tả của Marcel có làm ta ngạc nhiên, nhưng ta vẫn nắm được cái trọng điểm của những gì ông mô tả.

Những phân biệt mà chúng tôi đã trình bày từ trước đến nay xem ra đã quá chẻ sợi tóc ra làm tư rồi trong khi ta chỉ cần phải sống thực các cam kết của mình một cách trung thành mà thôi hoặc nhận ra khi nào các cam kết ấy không còn trói buộc ta nữa. Tuy nhiên, lòng thủy chung và sự bội bạc không phải là những vấn đế đơn giản và người ta đã chứng tỏ rằng đời sống ta phức tạp hơn là điều ta mong muốn. Không phải bất cứ cam kết nào của ta đối với người khác cũng ủy quyền một cách vô giới hạn để họ có quyền đòi hỏi nơi ta một cách vô giới hạn. Cũng không phải cam kết nào của ta cũng có giới hạn như những lời hứa mơ hồ “nay mai sẽ ghé thăm” của ta đối với một cố tri. Qua những phân biệt trên đây, có thể ta sẽ ngạc nhiên tìm ra những khoảng sáng đơn giản trong khu rừng phức tạp.

Cam kết và yêu thương

Giống như bất cứ cam kết nào khác, cam kết yêu thương không phải là lời tiên đoán, cũng không phải là một quyết tâm. Nó là một ủy quyền để đòi hỏi, một việc đưa ra lời tuyên bố, đối với người tôi yêu – nhưng mà hứa gì đây? Chỉ có thể là lời hứa hẹn rằng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để giữ sống mối tình của tôi và hành động một cách thủy chung theo tình yêu ấy. Giống như bất cứ cam kết nào khác, mục đích của nó là đảm bảo với người tôi yêu rằng tôi luôn luôn yêu họ và sẽ làm tôi kiên định hơn trong việc thực sự yêu họ. Vì những thách đố ta đã thấy đối với sự khôn ngoan, nếu không muốn nói đến khả thể, của cam kết yêu thương, nên mục đích kia cần được khảo sát đầy đủ hơn.

Các mục đích của cam kết yêu thương

Tại sao tôi cần đến cam kết nếu tình yêu là cái gì bộc phát, và nếu lúc nào tôi cũng có thể đồng nhất với nó qua tự do của tôi? Tại sao tôi lại phải hứa hẹn yêu thương nếu chính tình yêu sẽ bị rủi ro khi biến nó thành vấn đề trói buộc? Chỉ có cái gì đó từ chính giữa lòng cảm nghiệm yêu đương mới giải thích được điều này.

Có một số mối tình mà nguyên sức mạnh của chúng nơi ta khiến ta phải cam kết. “Các lý lẽ của tình yêu” khiến ta phải cam kết ít nhất có ba, và ta có thể diễn tả chúng như sau. Thứ nhất, giống như mọi cam kết, cam kết yêu thương tìm cách giữ an toàn chống lại những thất thường của chính ta, nói cách khác chống lại việc ta có thể sa sẩy. Nếu ta không ngây thơ tin tưởng rằng tình yêu của ta không bao giờ kết thúc, ta sẽ cảm thấy những nguy cơ như quên lãng, như các thèm muốn phá thối, như các gián đoạn và gẫy vỡ ngay trong những mối tình lớn nhất. Ta cũng sẽ cảm thấy những xung lực mạnh mẽ từ chính môi trường của ta – những áp lực xã hội và kinh tế đang giành giật chống lại cũng như hỗ trợ tình yêu của ta. Ta cần đến và muốn có một cách để chịu trách nhiệm trước lời nói phát xuất từ sâu thẳm bản ngã ta, một cách để cản ngăn chính ta khỏi hủy diệt mọi sự trong những giây phút không thể tránh được khi ta ít tránh được như thế. Cam đoan với người ta yêu, trao cho chàng hay nàng cái quyền đòi hỏi trên tình yêu của ta sẽ đem lại cách thế đó.

Tuy thế, tình yêu tìm nhiều hơn thế. Ta biết rằng tự do không thể nhất đán xác định được các khẳng nhận yêu đương trong tương lai. Không một lựa chọn tự do nào có thể giải quyết mọi lựa chọn tự do trong tương lai giúp ta tiếp tục yêu đương được. Ấy thế mà đôi lúc ta lại yêu một cách khiến ta khao khát gom trọn tương lai lại và đặt nó vào việc ta chọn người ta yêu. Dù ta biết điều đó là điều không thể có được vì đời ta trải dài theo thời gian, nhưng ta vẫn khao khát niêm phong tình yêu của ta ngay lúc này và mãi mãi. Qua cam kết yêu vô điều kiện, ta ráng làm cho tình yêu trở thành bất phản hồi và thông đạt ra như thế. Đây là một trong những điều ta có thể làm: dẫn khởi vào hiện tại một hình thức liên hệ mới sẽ kéo dài dưới hình thức lòng thủy chung hay bội bạc. Ta thực hiện được điều ấy bằng cách ban hành một luật mới cho tình yêu của ta. Kierkegaard chỉ rõ điều ấy khi ông viết, “Muốn nói một cách hết sức long trọng, ta không nói về hai người bạn: họ yêu nhau; nhưng nói: họ cam đoan chung thuỷ với nhau hay họ cam đoan làm bạn với nhau “ (9). Cam kết là cách yêu của một toàn diện trong khi vẫn đang triển nở để thành toàn diện.

Cuối cùng, đôi khi tình yêu muốn có cam kết vì tình yêu muốn phát biểu ra ngoài một cách càng rõ càng hay. Cam kết sẽ có hại nếu nó chỉ nhằm mang lại một phương thuốc đề phòng bất tín trong một liên hệ yêu thương. Trái lại nó có thể là cơ sở cho tín trung nếu mục tiêu của nó là lòng trung thực trong ý định, là thông đạt cho biết những thiệt hại sẽ lớn như thế nào nếu ý định kia thất bại. Quyết định đưa ra lời cam đoan về tình yêu trong tương lai của mình có thể là một phần trong việc làm đổi thay (converting) trái tim tôi, một phần trong việc ra khỏi tôi thực sự để gặp gỡ người tôi yêu (chứ không phải một phần làm chai cứng trái tim tôi vì quá sợ bị chế tài khi tôi vi phạm giới luật tôi đã đưa ra đối với tình yêu của mình). Như thế, lời hứa của tôi không những bảo đảm bằng lời nói với người tôi yêu rằng tôi sẽ kiên vững(trong tình yêu), nhưng còn giúp thể hiện điều nó bảo đảm nữa.

Viết theo Margaret Farley, Personal Commitment, San Francisco: Harper & Row, 1986

Chú Thích

1. Dĩ nhiên, không phải tất cả các lý thuyết gia đều miêu tả ý nghĩa cam kết, hay ý nghĩa việc hứa hẹn, theo lối ở đây. Định nghĩa của lời hứa có liên hệ mật thiết với quan điểm mỗi người về cách nó trói buộc. Về vấn đề này, có ít nhất ba quan điểm chính từng xuất hiện trong lịch sử triết học và trong cuộc tranh luận hiện nay về lời hứa: (a) trách nhiệm giữ lời hứa hoàn toàn có tính cách ước lệ – một thỏa thuận dựa trên “tập tục” hay “luật chơi” của một cộng đồng, có khi là giả thiết cho đến lúc được coi như chuyện đương nhiên và được mọi người tin theo (Hume), có khi là kỷ luật cường bạo cho đến lúc nhờ điều kiện hóa về tác phong mà có được tư thế lâu dài (Nietzche); (b) sự trói buộc là do chính lời hứa, vì chữ hứa có tính cách “thực thi” (performative) hay “can dự ” (commissive), nghĩa là thực sự làm điều mình nói (Austin, Searle, Melden, Sartre); (c) việc trói buộc phải giữ lời hứa tựu chung dựa trên sự trói buộc có tính cách tổng quát hơn đó là lòng kính trọng người khác, hoặc bảo vệ cái cộng đồng tinh thần của mình v.v.... (Aquinas, Kant, Hegel, Hare). Nhiều triết gia chủ trương một tổng hợp những quan điểm trên – thí dụ như quả quyết rằng hứa hẹn tự nó đẻ ra trói buộc, nhưng chỉ trong bối cảnh trong đó các ước lệ mạnh đến độ làm điều đó có thể xẩy ra (nói cách khác, tính “thực thi” tùy thuộc việc có một “tập tục” hứa hẹn). Lối miêu tả ở đây về điều “xẩy đến” khi ta đưa ra lời hứa hẹn có thể hiểu cam kết như có tính “thực thi”. Nhưng, nó cũng giả thiết phải có một cơ sở căn bản về trách nhiệm luân lý trong thực tại con người. Những bàn luận chủ chốt về các vấn đề này gồm những công trình có tính lịch sử như David Hume, Treatise of Human Nature (Khảo Luận về Bản Tính Con Người) do L. A. Selby-Bigge nhuận sắc (Oxford, Clarendon Press, 1968), Cuốn III, Phần 2, Tiết 5; George Hegel, Philosophy of Right (Triết lý về Cái Đúng), Bản dịch của T. M. Knox (New York, Oxford University Press, 1867), tr.57-63; Friedrich Nietzche, On a Genealogy of Morals (Bàn về Gia Phả Những Hữu Thể Luân Lý), Bản dịch của Kaufman và R. J. Hollingdale (New York, Vintage Books, 1967, tr.57-61; những nghiên cứu ngữ học như J. L. Austin, How To Do Things With Words (Làm Các Sự Vật Như Thế Nào Bằng Lời Nói), do J. O. Urmson nhuận sắc (New York, Oxford University Press, 1962); John R. Searle, Speech Arts (Nghệ Thuật Lời Nói) (Cambridge, University Press, 1970), nhất là các chương 2 và 3; các cuộc tranh luận triết học hiện nay như Pall S. Ardal, “And That’s a Promise” (Và Đó là Lời Hứa) và “Reply to New on Promises” (Trả Lời bài Điều Mới về Lời Hứa) trong The Philosophical Quarterly số 18 và 19 (Tháng 7 năm 1968 và tháng 7 năm 1969); John Rawls, “Two Concepts of Rules” (Hai Ý Niệm Về Qui Luật) trong Philosophical Review 64 (1955) 3-32; Joseph Raz, “Promises and Obligations” (Lời hứa và Trói buộc) trong Law, Morality and Society: Essays in Honour of H. L. A. Hart, chủ biên P.M.S. Hacker và J. Raz (Oxford, 1977); G.J. Warnock, The Object of Morality (Đối tượng của Luân lý) (London 1971), chương 7; liên quan đến luật khế ước: Patrick Atiyah, The Rise and Fall of Freedom of Contract (Sự Thăng Trầm của Tự Do Khế Ước) (Oxfprd Clarendon Press, 1979); Charles Fried, Contract as Promise: A Theory of Contractual Obligation (Khế Ước như Lời hứa: Một Lý thuyết về Sự Trói buộc của Khế ước) (Cambridge, Harvard University Press, 1981). Một khảo luận chủ yếu quan trọng đối với toàn thể vấn đề đưa ra hứa hẹn và tuân giữ hứa hẹn là tác phẩm cổ điển của Josiah Royce về lòng trung thành: The Philosophy of Loyalty (Triết lý về Lòng trung thành) (New York, Macmllan 1924).
2. H. Clay Trumbull, Blood Covenant: A primitive Rite and Its Bearings on Scripture (Giao ước bằng Máu: Một Nghi lễ Tiền sử và Tương quan của nó đối với Kinh thánh) (London, George Redway, 1887).
3. Như đã trích trong Edward Westermack, Marriage Ceremonies in Morocco (Các Nghi lễ Hôn phối tại Morocco) (London, Macmillan 1914), 40-41. Cùng một kiểu lặp đi lặp lại này đã được áp dụng trong các nghi thức khấn dòng của Giáo Hội Công giáo Lamã trước năm 1965. “Lạy Chúa, Xin thương nhận con” (Suscipe me, Domine) được lặp đi lặp lại ba lần bởi chính người khấn.
4. Chương 7 sẽ thảo luận nhiều hơn về bản chất của sự trói buộc này, và về những gì người ta liều mình sẽ mất.
5. Hannah Arendt, The Human Condition (Thân phận Con người) (Chicago, University of Chicago Press, 1958), 237.
6. Arendt, đã dẫn
7. Erik Erikson, Identity, Youth and Crisis (Bản sắc, Tuổui trẻ và Khủng hoảng) (New York, Norton 1968), 162.
8. Gabriel Marcel, Being and Having (Hiện hữu và Sở hữu) (New York, Harper Torchbooks, 1965) 45-46.
9. Soren Kierkegaard, Works of Love (Công trình của Tình yêu), bản dịch của Howard và Edna Hong (New York, Harper Torchbooks, 1962), 45.

Vũ Văn An

Đọc nhiều nhất Bản in 25.12.2012. 17:44