Trích từ Dân Chúa

Bài 38: Nói Về Tình Dục... Các Em Ở Lứa Tuổi Thanh Thiếu Niên Sẽ Lắng Nghe Ai?

Anthony Lê

Dẫn Nhập

Sự mâu thuẩn trong việc giáo dục về tình dục giới tính nơi các trường công lập ở Hoa Kỳ là một trong những trận chiến cay đắng, quyết liệt và nhiều thử thách nhất trong cuộc chiến tranh về nền văn hóa, vốn gây ra sự chia rẽ nơi các nhà lập pháp tiểu bang, các cộng đồng, và các ủy ban điều hành trường học tại địa phương.

Không có giải pháp nào là đơn giản hay rõ ràng cả khi mấu chốt của vấn đề là nhằm giải quyết về nạn quan hệ tình dục bừa bãi nơi các em ở lứa tuổi thanh thiếu niên, cùng với vô số những hậu quả khó lường của chuyện quan hệ dục tính này mang lại. Trong cả hai chương trình giáo dục cho các em về “tiết dục” (abstinence) - vốn khuyến khích các em biết kiên nhẫn để đợi chờ hôn nhân lẫn chương trình giáo dục về “tình dục an toàn” (safe-sex) – vốn hoàn toàn phụ thuộc vào việc sử dụng bao cao su; thì chẳng có chương trình nào có thể đưa ra những giải pháp rõ ràng và đơn giản cả.

Tuy nhiên, trong cuộc chiến tranh dành về liệu đâu là những vấn đề cần phải giảng dạy cho các em tại trường học về tình dục giới tính, thì nền văn hóa của chúng ta dường như đã quên hẳn một điều hết sức hiển nhiên và rất quan trọng chính là: nơi tốt nhất để giáo dục cho các em về đạo đức luân lý tình dục không phải là ở trường học, mà chính là ngay tại gia đình và xứ đạo của từng người trong chúng ta. Chấm Hết.

Chương Trình “Giáo Dục Về Tiết Dục” (Abstinence Education) – Phải Chăng Đó Chính Là Một Cứu Cánh?

TeenChart2.jpgGia Đình và Những Giảng Dạy Của Giáo Hội Rất Quan Trọng Nơi Các Em

Thành thật mà nói không đúng hẳn như vậy!

Công bằng mà nói, đã có rất nhiều cuộc nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc giáo dục tiết dục cho các em nơi các trường công lập, thì kết quả tìm được cho thấy: chương trình này không thể giải quyết rốt ráo hết được những mối ngờ vực.

Lấy ví dụ như, ngay trang bìa chính của tờ Newsweek trong số ra của năm 2003, vốn cuốn hút ngay sự chú ý của rất nhiều người, qua việc dẫn chứng về dữ liệu thu thập được bởi nhà nghiên cứu Stan Weed, người đã kiểm nghiệm về tính hiệu quả của 4 chương trình giáo dục về tiết dục tại các trường công lập thuộc tiểu bang Virgina.

Weed tìm thấy rằng: chỉ có hai chương trình mới thật sự giúp làm giảm tỉ lệ thất tiết nơi các em ở lứa tuổi thanh thiếu niên xuống còn 65%, so với 98% như trước đây; trong khi đó thì hai chương trình giáo dục còn lại, dường như chẳng mang lại kết quả rõ ràng và khác biệt nào cả.

Tại sao vậy?

Thưa, cái khó trong việc đề cao giá trị của các chương trình giáo dục về tiết dục chính là ở chổ, không phải tất cả những thông điệp về tiết dục gởi ra cho các em học sinh đều giống nhau cả. Trong khi đó thì có một số sách báo và các tài liệu bên ngoài giảng dạy cho các em ở lứa tuổi thanh thiếu niên biết cách thức tiết dục đúng đắn và lành mạnh hòng kiên nhẫn chờ đợi đến hôn nhân; còn đại đa số các nguồn tài liệu khác còn lại vốn xem tiết dục như là việc chỉ thiếu mất đi hành động quan hệ ân ái tình dục mà thôi, và dĩ nhiên, đó chính là điều hoàn toàn sai lầm!

Các tài liệu “bệnh hoạn” này thậm chí còn đề nghị đến “việc quan hệ tình dục bên ngoài” (outercourse thay vì intercourse) (nghĩa là cùng làm tình trong khi cả hai vẫn còn mặt quần áo ở bên ngoài), và động trời hơn nữa, họ lại đề nghị ra cách cùng nhau thủ dâm (mutual masturbation) như là một phần của bức thông điệp về sự tiết dục mà họ muốn gởi ra cho giới trẻ!?

Thêm vào đó, những chương trình giảng dạy này đã thẳng thừng bỏ ra ngoài các chiều kích về tôn giáo, về đạo đức luân lý của Giáo Hội Công Giáo, vốn là yếu tố cơ bản để hình thành nên nhân bản vị chính của con người, cộng với việc những người giảng dạy ra các chương trình này, lại là những người đã từng có quá khứ hay lối sống đạo đức luân lý không mấy được lành mạnh cho lắm, nếu không muốn nói là quá buôn thã và suy đồi.

Tuy nhiên, kết quả của những cuộc nghiên cứu vừa mới đây đã bắt đầu cho thấy càng ngày càng có nhiều người ủng hộ cho chương trình giáo dục về tiết dục cho các em.

Vào năm 2004, Tập San Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Journal of Sociology) đã cho xuất bản ra một nghiên cứu được tài trợ từ ngân sách của chính phủ về các em thuộc lứa tuổi thanh thiếu niên quyết định giữ trọn trinh tiết của mình. Các nhà nghiên cứu từ hai trường đại học lớn của Hoa Kỳ là Columbia và Yale đã tìm thấy rằng: những em nào quyết tâm trung thành với việc tiết dục đã thật sự trì hoãn việc giao hợp đầu tiên của các em ít nhất là 3 năm so với những em nào không đưa ra bất kỳ sự cam kết nào cả.

Theo Tạp Chí Thế Giới (World Magazine), thậm chí ngay cả Học Viện Alan Guttmacher, vốn là tổ chức nghiên cứu chính, thuộc cánh tay phải của Tổ Chức Kế Hoạch Hóa Gia Đình Hoa Kỳ, cũng đã phải cùng đường và nhắm mắt mũi để nhìn nhận rằng: chương trình giáo dục tiết dục nơi học đường thực sự là có hiệu quả.

Bằng việc nghiên cứu riêng của mình, Học Viện này khám phá ra rằng một chương trình giáo dục về tiết dục được triển khai tại các trường công lập ở thành phố Atlanta thuộc tiểu bang Georgia, đã giảm tỉ lệ quan hệ tình dục lần đầu tiên trong số các em học lớp 8 là 60% đối với các em nam sinh; và 95% đối với các em nữ sinh.

Vào Tháng 4/2006, Hiệp Hội Các Bác Sĩ (Physicians Consortium), một nhóm tập hợp các bác sĩ tại khắp tiểu bang ở Hoa Kỳ, vốn đại diện cho hơn 20,000 bác sĩ, đã cho xuất bản ra cuộc nghiên cứu 4 năm về sự tiết dục trong Tạp Chí Thanh Thiếu Niên và Sức Khỏe Gia Đình (Journal of Adolescent and Family Health). Cuộc nghiên cứu giám định các dữ liệu có liên quan đế sự giảm xuống về tỉ lệ sinh đẻ và mang thai nơi các em thuộc lứa tuổi thanh thiếu niên trong khoảng từ năm 1991-1995, và đã tìm thấy rằng: “chính chương trình giáo dục về sự tiết dục đã 100% giúp làm giảm xuống tỉ lệ sinh đẻ, và 67% giúp làm giảm xuống tỉ lệ mang thai nơi các em thuộc lứa tuổi thanh thiếu niên, vốn là những người hãy còn độc thân” trong suốt thời điểm kể trên.

Thế Đâu Mới Là Cốt Lõi Chính Của Chương Trình Tiết Dục?

TeenChart.jpgNhững Yếu Tố Gây Ra Sự Ảnh Hưởng Nơi Người Trẻ

Thành thực mà nói, vượt ra ngoài phạm vi của những gì mà trẻ em được giảng dạy nơi học đường, tuy nhiên, điều mà các em thật sự được giảng dạy và học hỏi lại chính là từ môi trường của gia đình và xứ đạo. Hay nói cách khác từ cha-mẹ, các cha cố cùng các tu sĩ nam nữ nơi xứ đạo và những người lãnh đạo tinh thần gương mẫu, đứng đắn và lành mạnh của các em.

Dựa theo rất nhiều cuộc nghiên cứu, một điều hết sức gây thú vị cho những nhà nghiên cứu vốn là vô thần này, thì họ càng ngày càng nhận thấy được rằng: chính cha-mẹ cùng với niềm tin tôn giáo - được thể hiện qua vai trò của các cha cố, các nam/nữ tu sĩ - mới thật sự là hai sự phối hợp chính vốn có khả năng ảnh hưởng đến quyết định của các con trẻ trong việc có nên hay không nên “phá rào” hoặc tự động “ăn cơm trước kẻng” hay không.

Một cuộc nghiên cứu được tiến hành tại trường Đại Học Fordham của các Cha Dòng Tên, chẳng hạn, đã cho thấy được có một mối quan hệ rất rõ ràng giữa sức mạnh của đức tin Công Giáo nơi em sinh viên năm thứ nhất và việc thử nghiệm về tình dục.

Cuộc nghiên cứu, được xuất bản trong số ra năm 2000 của Tạp Chí Dành Cho Tuổi Mới Lớn (Journal of Adolesence), đã tìm thấy rằng các sinh viên nào “vốn hiểu biết rất rõ về những giảng dạy và truyền thống của Giáo Hội Công Giáo về mặt luân lý đạo đức” thì đó mới chính là những em “rất ít khi muốn lao vào cuộc thử nghiệm nguy hiểm về mặt tình dục.”

Một cuộc nghiên cứu khác được thực hiện tại trường Đại Học Otago ở Tân Tây Lan cũng đã tìm ra một mối quan hệ tương tự như vừa đề cập ở trên. Bằng việc điều tra và kiểm nghiệm lại tất cả mọi dữ liệu thu thập được trên hơn 10, 000 nam và nữ thanh niên, các nhà nghiên cứu đã không thể nào tìm ra được bất kỳ những sự khác biệt nào cả giữa một em 21 tuổi - người vốn duy trì lối sống tiết dục, và những em có đời sống ân ái tình dục năng động, ngoại trừ một lý do khác biệt duy nhất đó là: đức tin tôn giáo.

Dựa theo kết quả nghiên cứu của Học Viện Nghiên Cứu về Gia Đình tại Hoa Kỳ, cuộc nghiên cứu tìm thấy rằng “các em càng tham gia vào các hoạt động niềm tin nơi xứ đạo nhiều bao nhiêu, thì các em càng vững vàng và dám dũng cảm xa lánh thái độ hay cung cách sống suy đồi nhiều bấy nhiêu, bằng việc luôn biết cẩn thận giữ mình, để duy trì một lối sống tiết dục lành mạnh.”

Pat Ware thuộc Chiến Dịch Quốc Gia Nhằm Giúp Ngăn Ngừa Việc Mang Thai Nơi Các Em Ở Lứa Tuổi Thanh Thiếu Niên (National Campaign to Prevent Teen Pregnancy) hoàn toàn đồng ý với kết luận trên.

Bằng việc dẫn chứng ra một bản báo cáo vừa cho xuất bản ra của Tổ Chức này, Ware nói, “Chúng tôi tìm thấy rằng tôn giáo đóng một vai trò rất tích cực trong đời sống của những người trẻ - và đó là điều mà chúng tôi gọi là ‘yếu tố bảo vệ.’ Các em càng tham dự những buổi cử hành phụng vụ Thánh Lễ nhiều bao nhiêu, thì các em càng trì hoãn và giữ cho mình càng ít bị dính vào các hoạt động suy đồi về tình dục nhiều bấy nhiêu.”

Một cuộc nhiên cứu vừa mới được cho xuất bản ra vào năm này của Học Viện Sức Khỏe Quốc Gia (National Institutes of Health hay NIH) cũng đã tìm ra sự liên kết tương tự. Dựa theo buổi họp báo của NIH, cuộc nghiên cứu đã tìm thấy rằng: “tôn giáo đã giúp làm giảm xuống tình trạng mà các em ở tuổi mới lớn dính dáng quá sớm vào chuyện tình dục bằng việc giúp hình thành nên nơi các em những thái độ cùng với sự hiểu biết đúng đắn về tình dục, và về hôn nhân.”

Lý do tại sao vậy? - như một nhà báo vô thần đã vội hỏi…

Theo trả lời của NIH cho biết rằng: lý do chính là “phần lớn các quan điểm của tôn giáo giúp hướng dẫn và giải nghĩa cho các em hiểu rõ được hậu quả của việc quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, vốn làm biến dạng đi hình ảnh, dung mạo, và phẩm giá cao đẹp của con người do chính Thiên Chúa tạo dựng ra.”

Ngoài lý do về tôn giáo, vốn theo suy nghĩ của riêng tôi – người tổng hợp và viết ra bài này – là lý do chính hiển nhiên, còn có thêm một yếu tố quan trọng khác không kém chính là vai trò của những người làm cha, làm mẹ trong gia đình, và sự dính liếu hoặc quan tâm của họ trong đời sống trưởng thành của các con cái họ.

Một cuộc nghiên cứu được xuất bản bởi Học Viện Alan Guttmacher thuộc Hội Kế Hoạch Hóa Gia Đình (Planned Parenthood) đã cho thấy rằng: sở dĩ có sự giảm xuống trong vấn đề trẻ mới lớn mang thai và quan hệ tình dục sớm, ngoài lý do tôn giáo ra, chính là việc can dự của các bậc làm cha-mẹ trong việc giữ gìn cho con cái của họ tránh trở thành những người có đời sống tình dục năng động như các trẻ khác ngoài xã hội, bằng việc thực hiện bốn điều sau:

(1) duy trì một mối quan hệ cảm thông, yêu thương, gắn bó, chia sẽ và tình cảm mất thiết với các con cái của họ;

(2) giáo dục và phân tích thiệt / hơn cho các con cái của họ biết rằng chúng nên giữ mình và đợi cho đến mối quan hệ hôn nhân rồi hãy thực hiện chuyện vợ-chồng đó;

(3) tránh không bao giờ thảo luận đến việc ngừa thai với các con của họ; và

(4) giữ cho môi trường sống trong gia đình được lành mạnh, không có sự can dự của các báo chí, các chương trình truyền hình/truyền thanh độc hại xâm nhập vào gia đình, cũng như việc bảo vệ con cái khỏi sự nguy hiểm trên mạng Internet.

Giáo Sư Tâm Lý Học James Jaccard thuộc trường Đại Học của Tiểu Bang New York tại thành phố Albany và những nhà nghiên cứu đồng sự của Ông đã tìm thấy rằng: một trong 4 hành động kể trên, có sức công phá gấp đôi trong việc các em quyết định từ chối chuyện quan hệ tình dục ngay khi ở tuổi mới lớn và đợi cho đến khi có đủ sự chững chạc và chính chắn. Và dĩ nhiên, tất cả những phụ huynh nào thực hiện 4 điều kể trên, thì phần lớn các con cái của họ vẫn còn trinh nguyên cho đến lúc kết hôn với người bạn đời mà chúng yêu mến.

Hai cuộc nghiên cứu được xuất bản vào năm ngoái trong Tạp Chí Sức Khỏe Thanh Thiếu Niên (Journal of Adolescent Health), cũng đã tìm ra mối quan hệ tương tự giữa những mối quan hệ của cha mẹ và các em ở tuổi mới lớn và tình dục nơi các em ở lứa tuổi thanh thiếu niên.

Trong một cuộc nghiên cứu khác, các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại Học Minnesota giám định về dữ liệu thu thập được từ Cuộc Nghiên Cứu Theo Chiều Dọc Quốc Gia về Sức Khỏe Thanh Thiếu Niên (National Longitudinal Study of Adolescent Health), một cuộc nghiên cứu thường xuyên thuộc chính phủ liên bang Hoa Kỳ vốn bao gồm cả trăm ngàn thanh thiếu niên Hoa Kỳ.

Kết quả cho thấy rằng: những em gái nào gần gũi với mẹ của các em hơn – và những người mẹ nào truyền thông và diễn đạt đầy đủ và rõ ràng về quan điểm của họ đối với việc quan hệ tình dục sớm và ngoài phạm vi của hôn nhân ở lứa tuổi thanh thiếu niên – thì đó là những em vẫn còn gìn giữ sự trinh tiết mãi cho đến hôn nhân. Cả hai cuộc nghiên cứu không có xem xét đến ảnh hưởng của những người làm cha nơi các cô con gái của họ.

Một cuộc nghiên cứu khác, được Cuộc Nghiên Cứu Theo Chiều Dọc Quốc Gia về Sức Khỏe Thanh Thiếu Niên thực hiện vào năm 2000, cũng đã cho thấy kết quả tương tự, như được đề cập ở trên. Cuộc nghiên cứu mới quyết định ra rằng: những người mẹ của những cô con gái vẫn còn trinh nguyên thường có khuynh hướng biết rất rõ được con gái của họ ở đâu, khi chúng không có mặt ở nhà; biết rõ được các bạn bè của con gái họ; và vẫn thường có những hoạt động mang tính chất gia đình, thí dụ như: cùng ăn cơm chung trong gia đình, cùng đọc kinh chung trong gia đình, cùng đọc sách hay xem truyền hình chung với gia đình, hay cùng đi cắm trại hay tham quan một nơi nào đó cùng với gia đình và trong phạm vi của gia đình, vân vân…

Bình luận về những kết luận được đưa ra một cách tương tự nhau, như đã dẫn chứng ở trên, trong báo cáo của năm 2000 của Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Trừ Bệnh Dịch Hoa Kỳ (U.S. Centers for Disease Control and Prevention hay CDC), nhà tâm lý Daniel Whitaker nói rằng: “Rất nhiều cha-mẹ ngại ngùng đề cập và phân tích thiệt / hơn trong chuyện tình dục ở lứa tuổi thanh thiếu niên vì họ nghĩ rằng họ sẽ nói ra những điều không đúng. Thế nhưng, qua cuộc nghiên cứu này cho thấy các bậc làm cha-mẹ nên nói chuyện cởi mở với con cái của họ về tình dục qua cái nhìn của tôn giáo.”

Sự can dự của các bậc làm cha-mẹ trong việc giảng dạy và giải nghĩa rõ ràng cho con cái của họ hay về những lầm lạc của chuyện quan hệ tình dục sớm, sẽ thậm chí làm tăng hiệu quả hơn khi các em được tiếp cận với những chương trình giảng dạy về sự tiết dục nơi học đường.

Các nhà nghiên cứu, dẫn đầu bởi Susan M. Blake thuộc trường Đại Học Y Khoa George Washington, đã tách hơn 350 em học sinh lớp 8 ra thành hai nhóm. Một nhóm thì nhận được 5 bài giảng về sự tiết dục nơi học đường; còn nhóm kia cũng nhận được sự giáo dục tương tự trong trường học, nhưng lại nhận thêm các bài tập có liên quan đến tính dục tại nhà, vốn phải được hoàn tất với sự trợ giúp của các bậc làm cha-mẹ.

Theo tờ USA Today, các kết quả được xuất bản trong phần có liên quan đến Các Khía Cạnh Của Gia Đình (Family Perspectives), đã cho thấy rằng những trẻ em nào nhận được sự trợ giúp của cha-mẹ chúng thì cho biết rằng chúng cảm thấy được chuẩn bị một cách kỹ càng hơn để chống lại với bất kỳ áp lực nào có liên quan đến tình dục, và chúng rất tâm quyết hoặc cứng rắn hơn trong việc quyết định gìn giữ trinh tiết và không nên quan hệ tình dục quá sớm, so với nhóm các em không nhận được sự giúp đỡ nào cả của các bậc làm cha-mẹ.

Đúng ra, một số cách tiếp cận rất thành công của chương trình giảng dạy về tiết dục thật sự dạy cho các em một điều hết sức giản đơn chính là, “Chỉ cần nói KHÔNG với tình dục mà thôi" (Just say NO to sex). Thêm vào bức thông điệp mạnh mẽ có liên quan đến sự tiết dục đó, những chương trình này còn giáo huấn cho các em về nhân cách, về tính kỷ luật và trách nhiệm, cũng như cung cấp cho các em các thông tin làm thế nào để biết đưa ra những lời cam kết lành mạnh và chống lại những áp lực từ chúng bạn, xã hội và các phương tiện truyền thông đại chúng. Thì đây chính là những điều mà các con trẻ có thể học biết được với sự can dự, dõi theo, động viên và hổ trợ của các bậc làm cha-mẹ.

Những cuộc nghiên cứu kể trên cho thấy rằng: những cha-mẹ nào thật sự quan tâm đến cuộc sống của con cái họ, và vững vàng rao truyền những giá trị về đạo đức luân lý lẫn tôn giáo cho các con của họ từng ngày, thì thường rất là thành công trong việc giúp con cái họ biết tránh xa và không hề bị lây nhiễm bởi những kiểu hành vi nguy hiểm và suy đồi của chúng bạn và của xã hội.

Hiện thực đó nhằm muốn nói lên rằng những cuộc chiến vốn đang được diễn ra nơi các trường công lập về việc giáo dục tình dục giới tính cho các em học sinh, trông có vẽ là quan trọng thật đấy, thế nhưng rũi thay, chúng lại mất đi một điểm rất ư là quan trọng, đó là vai trò không thể chối cãi được của tôn giáo và của các bậc làm cha-mẹ.

Suy cho cùng, những vấn đề có liên quan đến tình dục bên ngoài phạm vi của hôn nhân, chính là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến đạo đức luân lý – và chỉ có hai nơi có thể thực hiện điều này một cách thành công mà thôi, đó là: xứ đạogia đình.

Thế Còn Chương Trình Giáo Dục Về “Tình Dục An Toàn” (Safe-Sex) Thì Sao?

Khi các em thuộc lứa tuổi thanh thiếu niên học đòi (dabble) cung cách yêu đương ve vãn về tình dục (sexual dalliances), thì cái giá mà các em phải trả về mặt thể lý, tình cảm và tâm linh quả là rất đắt và rất trầm trọng.

Và cái giá rất phải trả này, không riêng gì cho riêng bản thân của các em không thôi, mà toàn thể gia đình của các em sẽ phải cùng chia sớt những gánh nặng đớn đau không lường trước được của việc mang thai khi “vắt mũi chưa sạch” hoặc tự mình gánh vào những căn bệnh có tính hũy diệt hết sức tàn bạo như: HIV, AIDS, HPV, vân vân…một khi giấc mơ, hoài bão, và tuổi thanh xuân, hồn nhiên, yêu đời chưa trọn, mới vừa trổi lên mà nay đã vội vụt tàn, tàn theo mây khói.

Không nhưng chỉ có thế, mà xã hội cùng các chi phí khác về y tế, phúc lợi cộng đồng,. .. cứ thế mà tăng vọt lên, và thậm chí cả một nền văn hóa phải diện đối với những hậu quả hết sức tai hại mà các tổ chức phá thai mang lại, và chính “con người lại tự mình diệt chủng đi con người,” một tội ác tày trời, bất luân và dã man nhất của hành tinh!

Và rồi, là không biết bao nhiêu thứ bệnh khác, cứ thế mà nảy nở ra…. Theo CDC, có khoảng hơn 85% những em nào có đời sống tình dục năng động thì bị lây nhiễm STD (Sexual Transmitted Diseases – tức những bệnh lây lan qua đường tình dục) mỗi năm, và thậm chí có hơn 95% những em bị lây nhiễm STD lại không hề hay biết rằng là các em đang bị STD hoành hành nơi thể lý của các em, và vì không hề hay biết, các em lại lan truyền những căn bệnh này cho những bạn tình khác. Và khi nói đến bệnh AIDS, thì dữ liệu đưa ra thậm chí còn kinh khủng và chóng mặt hơn nữa: trong số những người bị lây nhiễm HIV, khốn nạn thay, đã có hơn 60% là những em từ 25 tuổi trở xuống.

Cái cách tiếp cận thông dụng nhất tại các trường công lập đối với những vấn nạn có liên quan đến tình dục nơi lứa tuổi thanh thiếu niên, và những hậu quả khó lường của nó, chính là cách khuyến khích và mạnh mẽ khuyên bảo các em rằng: “Nếu các em chuẩn bị quan hệ tình dục, thì các em phải nhớ đến ‘tình dục an toàn’ – có nghĩa là dùng bao cao su các em nhé!” Thế nhưng, phải chăng việc dùng bao cao su có khiến cho quan hệ tình dục của các em có được an toàn không? Quả đúng là một cách giáo dục mang tính sáo rỗng, và vô trách nhiệm!

Câu trả lời đơn giản là Không. Việc dùng bao cao su trong quan hệ tình dục, không bao giờ là an toàn cả. Chúng ta cần phải giúp cho các con em chúng ta “Hãy bỏ từ đi cái não trạng và cách suy nghĩ hời hợt này!”

Như đã được đề cập trong Bài Viết đầu tiên trong loạt bài mang tính giáo dục trẻ em và người trẻ của tác giả, bài viết có nhan đề “Ngành Kinh Doanh Nguy Hiểm” (Risky Business), Nữ Bác Sĩ Margaret J. Meek dẫn chứng cho biết như sau:

Theo số liệu hiện thời của CDC cho thấy thì mỗi năm có từ 3 đến 4 triệu thanh thiếu niên bị lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục. Mỗi ngày, tại Hoa Kỳ, có hơn 10,000 em ở lứa tuổi thanh thiếu niên được chuẩn đoán bị lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục hay STDs. Có hơn 56% các em gái ở lứa tuổi vị thành niên bị lây nhiễm với STDs ngay lần đầu quan hệ tình dục với bạn trai. Có hơn 30 thứ bệnh STDs khác nhau lan truyền qua hơn 3 triệu thanh thiếu niên thuộc độ tuổi từ 11 đến 18 tuổi.

Một trong những người cổ võ mạnh mẽ nhất cho “tình dục an toàn,” đó là một tổ chức có tên Hội Đồng Giáo Dục và Thông Tin Tình Dục Hoa Kỳ (Sexuality Information and Education Council of the United States hay SIECUS), khi bàn thảo đến bao cao su (condoms) và STDs trong phần có liên quan đến sự thật về bao cao su, tổ chức này viết ra như sau:

“Bao cao su được dùng với mong muốn làm giảm các mức độ nguy hiểm khác nhau cho rất nhiều loại bệnh STDs. Thế nhưng không có một cuộc nghiên cứu nào dám kết luận một cách rõ ràng và dứt khoát về tính hiệu quả của việc dùng bao cao su để làm giảm những rũi ro của các căn bệnh STDs cả.”

Thế nhưng, trong những thông báo khác được đưa ra của tổ chức này, những nhà giáo dục luân lý lành mạnh, lại nhanh chóng chỉ ra được những điều hết sức mâu thuẩn mà tổ chức này đang cố cổ võ một cách tuyệt vọng về “tình dục an toàn.”

Điều này cho thấy đang có sự ô uế và nhiễm trùng nặng nơi những tổ chức như thế này, và ngay cả với CDC, vốn cố tình nhắm mắt và làm ngơ đến những mối nguy hiểm và hậu quả khó lường của việc quan hệ tình dục sớm và bừa bãi nơi các em ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Vì sự lơ là này của các cơ quan hữu trách, mà cái giá phải trả chính là mạng sống của các em, và phong cách sống “bất cần đời” hay chỉ biết “ta mới chính là cái rốn của vũ trụ” mà thôi, để từ đó mặc sức làm những gì mà mình mong muốn, dẫu có suy đồi đến luân lý cấp mấy…

Và hiện nay với hơn 20 triệu người Hoa Kỳ đã bị nhiểm căn bệnh HPV (hay human papillomavirus tức một loại bệnh khó chữa có liên quan đến việc ung thư đốt sống cổ) rồi, và thêm 5.5 triệu người nữa bị dính vào căn bệnh này hằng năm, thì rõ ràng cho thấy được rằng căn bệnh này không chỉ đơn giản là một cơn đại dịch của việc lây nhiễm qua đường tình dục không thôi đâu.

Theo Bác Sĩ David Hager thuộc Khoa Y của trường Đại Học Kentucky, một số cuộc nhiên cứu đề nghị rằng có đến 40-45% các em sinh viên đã bị lây nhiễm HPV dương tính.

Bác Sĩ John Whiffen thuộc Trung Tâm Bác Sĩ Quốc Gia (National Physicians Center), một nhóm bao gồm 400 Bác Sĩ, vốn đang đề nghị tiết dục như là cách tiếp cận chính cho việc giáo dục về tình dục cho các em học sinh, đã nói với kênh truyền hình FOX News rằng: “Việc dùng bao cao su là hoàn toàn chẳng mang lại hiệu quả gì cả trong việc chống lại 6 căn bệnh thường thấy của STDs.”

Bác Sĩ Whiffen nói tiếp: “Để nói với một đứa trẻ rằng việc dùng bao cao su có thể bảo vệ chúng khỏi bị lây nhiễm các bệnh lây lan qua đường tình dục (STDs) trong khi thực tế cho thấy nó chỉ bảo vệ chưa đầy 30%, thì tôi nghĩ, đơn giản câu nói này là quá hời hợt và vô trách nhiệm.”

Và rủi thay, đó lại chính là cách lập luận hay giọng điệu chính mà SIECUS vẫn cứ mãi ca bài ca bất hủ của mình trong việc làm băng hoại đến đời sống luân lý của các em, qua cái được gọi là “tình dục an toàn” mà tổ chức này cố tình đẩy vào các trường công lập, để làm ô nhiễm đi suy nghĩ và nhận thức đúng đắn của các em.

Đã đến lúc các bậc phụ huynh phải lên tiếng và bảo vệ con em của chúng ta khỏi những kiểu giáo dục mang tính giáo điều, trống rỗng và khuôn sáo này!

Các tư liệu của Bài Viết được tác giả trích từ nhiều nguồn khác nhau như: Bác Sĩ Margaret J. Meek, Hội Gia Đình Hoa Kỳ, Trung Tâm Bác Sĩ Quốc Gia, Newsweek, Học Viện Sức Khỏe Quốc Gia, và các cây viết chuyên về lãnh vực gia đình như: Ed Vitagliano, Maggie Gallagher, và Linda Chavez…

Mời các bậc phu huynh hãy tiếp tục dõi theo bài viết ngày mai có nhan đề “Sex... Before Marriage… Consider The Consequences…”

Anthony Lê

URL: http://danchuausa.net/luu/noi-ve-tinh-duc-cac-em-o-lua-tuoi-thanh-thieu-nien-se-lang-nghe-ai/