Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 8/2014

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Thăm Nhật Bản

§ Vũ Văn An

Sóng thần khiến chuyến đi hồi tháng Tư năm ngoái của chúng tôi phải đổi hướng qua Hồng Kông, Thẩm Quyến và Quảng Châu. Năm nay, biến cố khiến chúng tôi tới Nhật là việc ông anh nhà tôi nằm bệnh viện ở Atsugi, thuộc Quận Kanagawa, một quận thuộc vùng Đại Tokyo (Greater Tokyo), để hóa trị, sau một thời gian xạ trị mong diệt tận gốc các tế bào xấu còn đang “lang thang” trong cơ thể ông, sau một cuộc giải phẫu dài lấy đi hai cục u to bằng quả trứng gà con so.

Người Việt tại Nhật

Ông anh nhà tôi được người con trai lớn bảo lãnh qua Nhật từ năm 1992. Sau thời gian học ngôn ngữ bản xứ, ông được một công ty Nhật cung cấp công ăn việc làm cho đến ngày về hưu cách nay ít năm. Cuộc sống của ông và gia đình, nhờ thế, khá ổn định. Ngoại trừ gia đình ông và gia đình con cái ông ra, trong thời gian ở đây, tôi ít gặp được ai là người Việt. Họa hiếm lắm, mới nghe được giọng nói Việt của những người không thuộc gia đình ông. Như hôm đi thăm Floating Garden (cao 173 thước) ở Osaka, trên đường đi ăn trưa, vừa lên hết thang máy ở khu nhà ga, tôi bỗng nghe tiếng một người con gái nói truyện bằng “xeo” phôn với một người nào đó: “gặp em lúc hai giờ nhé!”

Ấy thế nhưng, dựa vào tài liệu của Bộ Tư Pháp Nhật, Wikipedia cho hay: người Việt là cộng đồng cư dân ngoại quốc đông hàng thứ tám của Nhật vào năm 2004, hơn cả người Nam Dương, thua người Thái. Con số người Việt tại Nhật hồi đó là 26,018, trong đó, hết 50,6% (13,164 người) sống tại vùng Kanto (quanh Tokyo) và 20% (5,289 người) sống tại Osaka. Có thể nói, tôi không có duyên gặp được người Việt tại Nhật.

Người Việt bắt đầu chọn Nhật làm nơi cư trú từ đầu thế kỷ 20, một phần do sự thúc đẩy của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và Phong Trào Đông Du của Phan Bội Châu. Đến năm 1908, khoảng 200 du học sinh Việt Nam đã có mặt tại các đại học Nhật. Tuy nhiên, phải đợi tới thời chiến tranh Việt Nam chấm dứt vào cuối thế kỷ 20, con số người Việt tại Nhật mới đáng kể. Việc người Nhật nhận người tị nạn Việt Nam vào thời điểm này đã phá vỡ xu hướng đầy huyền thoại muốn coi Nhật như một quốc gia đồng nhất về chủng tộc của họ, một xu hướng khá mạnh xuất hiện thời hậu Thế Chiến II.

Cũng theo Wikipedia, phần đông người tị nạn Việt Nam tập trung tại các quận Kanagawa và Hyogo, vì đây là hai trung tâm dành cho việc định cư người Việt tị nạn. Sau đợt tị nạn là đợt di dân lao động vào đầu thập niên 1990, phần đông gồm những người hồi hương từ các quốc gia Đông Âu Cộng Sản trước đây. Đến cuối năm 1994, con số hàng năm những người Việt này tới Nhật lên tới 14,305 với chiếu khán tập nghề kỹ nghệ.

Nói về việc hội nhập, người tị nạn Việt Nam gặp nhiều khó khan khi phải thích ứng với xã hội Nhật Bản, nhất là trong hai lãnh vực giáo dục và nhân dụng. Tỷ lệ tham dự trường trung học của người Việt được ước chừng ở mức 40%, so với mức 96.6% của người dân Nhật, chắc chắn do khó khăn về ngôn ngữ. Ngôn ngữ này không hẳn dễ học như người ta tưởng. Tôi cố gắng lắm cũng chỉ nhớ được hai chữ arigato (cám ơn) và ohayo (chào buổi sáng) ngoài chữ sayonara (t ạm biệt) đã quá quen thuộc. Người Nhật có những phụ âm khiến người ta “phát cười”, như tên thành phố nương thân của tôi là Sydney, được người Nhật “tự động” đọc là Sít-đô-ni. Hỏi thì được giải thích là họ không có vần Đ mà chỉ có vần ĐÔ; hình như vần T cũng thế, bệnh stress (căng thẳng) được họ đọc rất “dài dòng văn tự” là stô-res-sư gì đó. Nói chung, tôi thấy ngôn ngữ Nhật có hơi dài dòng. Người Việt gặp trở ngại là việc đương nhiên. Người ta cũng “đổ lỗi” cho nhà trường Nhật thiếu khả năng thích ứng với thách đố giáo dục các trẻ em có hậu cảnh văn hóa dị biệt.

Ông anh tôi và phần lớn các con đã trưởng thành của ông không tránh khỏi khó khăn này. Chỉ có ba đứa con cuối của ông, khi đến Nhật, mới chớm vào tuổi thiếu niên, là vượt qua được trở ngại này để lên đại học và thông thạo Nhật Ngữ. Một cháu kết duyên với một thanh niên Nhật cùng tôn giáo Jehovah Witnesses. Một cháu hiện làm thông dịch viên cho Bộ Ngoại Thương Nhật mà công việc thường là giúp các phái đoàn tham quan của chính phủ Việt Nam, những ông bà cán bộ cao cấp, qua đây, tiếng là để “nghiên cứu”, nhưng thực chất, chỉ “tham quan” các cửa hàng mua sắm của con cháu Thái Dương Thần Nữ.

Chỉ thấy từ xa

Mỗi quốc gia đều có một biểu tượng thực tế mà nếu đã đến đó thì phải phải đích thân tìm tới chiêm ngưỡng tận mắt. Như qua Ai Cập, người Công Giáo nào cũng tìm tới Núi Sinai. Qua Paris, không thể không tới Tour Eiffel. Tới Hoa Thịnh Đốn, không thể không tới Abraham Lincoln Memorial. Tới Trung Hoa, không thể không thăm Vạn Lý Trường Thành: Bất đáo trường thành, phi hảo hán. Nên tới Nhật, không thể không tới Phú Sĩ Sơn. Khi chuyến QF21 của Qantas còn cách vùng trời Narita chừng 15 phút, các chiêu đãi viên của chuyến bay ồn ào cả lên và đổ xô về phía các cửa sổ cánh trái, là phía tôi ngồi. Hỏi thì họ cho hay: Mount Fuji! Tôi vội nhìn theo hướng của họ. Nhưng chính họ cũng không định vị được ngọn núi biểu tượng ấy. May nhờ một hành khách Úc, tôi được chiêm ngưỡng đỉnh Phú Sĩ Sơn xuất hiện bên trên làn mây dày đặc, như mọc lên từ tầng mây ấy. Phú Sĩ Sơn giống như một chiếc nón vĩ đại cân bằng với tuyết phủ đầu, tản mạn lan xuống phía dưới.

Sau khi thăm Yokohama, thành phố đông dân thứ hai của Nhật, sau Tokyo, chúng tôi được vợ chồng người cháu chở đi thăm Phú Sĩ Sơn. Trời hôm đó không những kéo mây mù, mà còn mưa và gió lớn nữa. Nhưng chúng tôi vẫn hy vọng tới nơi, “trời sẽ sáng”. Không ngờ, lúc bắt đầu leo dốc núi, trời bỗng chuyển ý, mưa và gió lớn hơn trước, xe phải mở đèn pha, và tiến thật thận trọng. Thỉnh thoảng lắm mới có một bóng xe khác cùng leo núi với mình. Khung trời thì hoàn toàn mù mịt, chỉ thấy những thân cây đầy lá lắc lư theo gió, dọc hai bên đường. Đến chạm thứ 5, là chạm cuối cùng, trước khi leo bộ lên đỉnh núi, ở độ cao 2,400 thước, trong tổng số gần 4,000 thước chiều cao của Núi, gió lại càng thổi mạnh hơn. Mưa lúc đó không còn mạnh nữa, nhưng gió lớn đủ quất nó vào người. Chạy vào chiếc quán bên đường, mới hay mình không phải là những người ngốc duy nhất của ngày hôm ấy. Rất nhiều du khách đã tới trước mình. Có người vẫn chuẩn bị để leo núi, dù tầm nhìn bị hạn chế ở khoảng 4, 5 thước. Có lên tới đỉnh, cũng khôngg thấy được gì, ngoại trừ những làn nước mưa trong gió hú. Đa số co ro trong áo mưa, quanh quẩn xem đồ kỷ niệm bày bán la liệt trong quán.

Về lại Atsugi, trời vẫn một mầu xám xịt. Phú Sĩ Sơn chỉ được dẵm lên một phần, còn cái hung vĩ của nó thì mãi mãi là một huyền nhiệm. Người cháu an ủi: cô chú sẽ thấy Phú Sĩ khi đáp “bullet train” đi Kyoto.

Chúng tôi đi Kyoto vào ngày hôm sau để thăm cố đô của Nhật, là thành phố được Bộ Trưởng Chiến Tranh Stimpson của Truman tranh đấu thành công loại được ra ngoài danh sách các thành phố chọn làm mục tiêu đánh bom nguyên tử. Nagasaki đã “được điền vào chỗ trống”. Kyoto rất may được Stimpson chọn làm nơi hưởng tuần trăng mật. Vị ngọt tình yêu đôi lứa của người Mỹ này có ngờ đâu mấy năm sau đã cứu được 400 năm lịch sử giầu chất Nhật Bản của Kyoto. Ngày nay, Kyoto vẫn còn giữ được hơn 1,000 đền miếu Phật Giáo và hơn 400 đền miếu Thần Giáo, biến nó thành nơi thu hút du khách năm châu nhiều nhất của Nhật. Nhưng đối với tôi, viễn tượng được thấy Phú Sĩ Sơn vẫn làm tôi nôn nao hơn cả. Tôi hỏi người cháu: đến khoảng nào thì có thể thấy Phú Sĩ Sơn. Cháu cho hay: từ Tokyo, sau khoảng nửa giờ “shinkansen” (bullet train), nhìn bên phải, là có thể thấy nó. Bất hạnh một điều, trời hôm đó vẫn một mầu mây đen dày đặc, đến những cột điện cách đó chứng vài trăm thước cũng chỉ có hình lờ mờ, khó thấy. Phú Sĩ Sơn lại một lần ẩn khuất khỏi con mắt tôi.

Phải đợi lúc từ Kyoto trở lại Tokyo, sau khi đi thăm Nara và Osaka, tôi mới lại được thấy Phú Sĩ Sơn một lần nữa. Dựa vào lời người cháu, còn cách Tokyo khoảng nửa tiếng, tôi bắt đầu nhìn về phía trái. Núi ở Nhật chắc chắn nhiều hơn cả đền miếu Phật và Thần Giáo: dọc đường từ Kyoto về lại Tokyo, núi non bao bọc cùng khắp, trùng trùng, điệp điệp, nhưng Phú Sĩ Sơn thì không thể lầm lẫn được. Nó vượt lên trên mọi ngọn núi và nằm ở một chỗ khoảng khoát khá dài, dù “bullet train” có chạy nhanh bao nhiêu, bạn cũng không thể nào lỡ dịp thấy nó, chỉ cần trời quang đãng đủ. Hôm nay kể là ngày quang đãng nhất trong thời gian ở Nhật. Bầu trời xanh rạng rỡ khắp nơi, không u ám như những ngày đầu, những ngày thật không khác gì Bắc Kinh ô nhiễm kỹ nghệ. Nhưng đợi hoài, vẫn không thấy Phú Sĩ Sơn đâu. Giữa lúc định bỏ cuộc, vì chỉ còn cách Tokyo khoảng non 20 phút, bỗng người con rể hô: “kìa, nó kìa”, ống kính của anh ta nháy lia lịa. Phải một hồi, mới thấy Phú Sĩ Sơn ở phía sau. Vì thấy cả chân và thân của nó, Phú Sĩ Sơn mất đi khá nhiều tính kỳ vĩ của nó, không như hôm ở trên chuyến QF21.

Tôi với Phú Sĩ Sơn quả chỉ có liên hệ được thấy nhau từ xa, dù đã đích thân được tiếp xúc bằng thể lý, với cả chân tay, mặt mũi, ngũ quan.

Bế quan hay không bế quan

Cái náo nức của tôi đối với Phú Sĩ Sơn hình như không được chính người Nhật chia sẻ. Lúc thấy bố con tôi vội vàng thu Núi vào cameracamcorder, các hành khách Nhật im lặng nhìn chúng tôi với một thái độ như muốn nói: tưởng gì chứ ! Tưởng gì? Dù sao, Phú Sĩ Sơn vẫn là ngọn núi cao nhất của Nhật (3,776.24 thước), một ngọn núi lửa thuộc loại hợp chất (stratovolcano) vẫn còn hoạt động, dù lần phun cuối đã xẩy ra hơn ba thế kỷ trước đây (1707-1708). Hình thù khối nón tuyệt đều với tuyết phủ phần lớn trong năm của nó đã trở thành biểu tượng quen thuộc của quí vị, và vốn được quí vị coi là một trong ba ngọn núi thánh thiêng mà! Phải chăng quí vị cũng “gần chùa gọi bụt bằng anh” đến quên cả việc thông báo trên hệ thống thông tri điện tử của “bullet train” rằng gần đến chỗ có thể thấy Phú Sĩ Sơn rồi, kính thưa quí khách! Để bố con tôi phải mỏi mắt tìm nó, và chỉ thấy nó ở phía sau!

Thực ra, đôi khi người Nhật khá khó hiểu. Họ coi mình đã chấm dứt chính sách bế quan từ ngày ký hiệp ước Yokohama với hải quân thiếu tướng Matthew Perry của Mỹ năm 1853-1854 để mở cửa cho ngoại nhân vào buôn bán. Nhờ thế, họ đã trở thành trù phú như ngày nay, đến độ, có lần đã bá chủ Đại Đông Á. Nhưng phần nào đó, họ vẫn tỏ ra nghi ngờ ngoại nhân. Ít nhất thì cũng trong tác phong thực tế. Mở đài truyền hình của các thành phố Nhật, du khách không thấy kênh nào dành cho tiếng nước ngoài. Kênh nào cũng bằng một ngôn ngữ mà du khách bình thường như tôi nghe như vịt nghe sấm. Đành chỉ mở kênh coi võ sumo với những anh võ sĩ nặng nề, khệ nệ, chậm chạp, cố gắng đẩy nhau ra khỏi vòng thi đấu. Rồi anh thắng “dâng” rượu sakê cho anh thua uống và nhận “bằng” thua trận. Đi tìm một tờ báo tiếng Anh tại các sạp báo là chuyện vô vọng, dù tôi có thấy The Japan Times, The Daily Yomiuri, The Washington Post được tách ra từng tờ rời, làm giấy gói đồ cho khách hàng của một 100 Yen Shop (Ninety Shop ở Mỹ, hay Two Dollars Shop ở Sydney). Thật khác xa với Hồng Kông, Hán Thành hay Đài Bắc, nơi có nhiều kênh truyền hình và tờ báo dành cho tiếng Anh.

Ấy thế nhưng bảo họ bài tiếng Anh thì không hẳn đúng. Tất cả các túi sách tay của phụ nữ đều mang nhãn hiệu hay một dòng chữ “têu tếu” nào đó bằng tiếng Anh. Các áo thung nào bất cứ của cả lớp trẻ “choai choai” lẫn lớp “sồn sồn” và cả cao niên nữa đều được in bằng tiếng Anh. Tôi chưa từng được thấy một chiếc áo thung in hình chữ Nhật nào ở Yohohama, ở Kyoto, ở Osaka và ở Tokyo.

Từ Tokyo, còn một kỳ

Vũ Văn An

Đọc nhiều nhất Bản in 18.07.2012. 19:37