Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 1/2014

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Thăm Nhật Bản (4)

§ Vũ Văn An

Công Giáo tại Nhật ngày nay

Điều lý thú là tại Lâu Đài Osaka, mà cả hai dòng tộc chủ nhân liên tiếp đều là những người tích cực ra lệnh cấm đạo trong hai thế kỷ 16 và 17, lần đầu tiên chúng tôi thấy bộ áo dòng Công Giáo. Không những trên bức tranh trưng bày trên tường Lâu Đài tường thuật lại việc các nhà truyền giáo Tây Phương tới giảng đạo vào thế kỷ 16, mà còn trên người một nữ tu Nhật nhỏ bé trong đoàn người lũ lượt kéo nhau vào thăm Lâu Đài. Hình ảnh ấy thật hiếm hoi trong thời gian viếng các thành phố Atsugi, Yokohama, Phú Sĩ Sơn, Kyoto, Nara, Osaka và Tokyo của chúng tôi. Trong tất cả những dinh thự, cao ốc của Nhật, lúc nào chúng tôi cũng cố nhận diện một tòa nhà với cây Thánh Giá trên đó, nhưng thật hiếm hoi, chỉ vào khoảng 3 tòa, trong đó, tôi nhớ rõ nhất là tòa ở Nagoya, bên trái con đường shinkansen (xe lửa cao tốc) từ Tokyo đi Kyoto.

Điều ấy cũng dễ hiểu vì mục đích của chúng tôi không nhằm đi thăm các cơ sở Công Giáo của Nhật. Vả lại các giáo xứ Nhật có qui mô không lớn, nên chắc chắn các nhà thờ của họ bị chìm ngập giữa biển dinh thự đại qui mô của nền kinh tế đứng hàng ba thế giới. Chứ thực ra Nhật có tới 16 giáo phận, với 848 giáo xứ, qui tụ trong ba giáo tỉnh Nagasaki, Osaka và Tokyo. Các thành phố chúng tôi đi qua đều có nhiều nhà thờ: Kyoto 57 giáo xứ, Osaka 77 giáo xứ, Tokyo 75 giáo xứ, trong đó có các giáo xứ tại Shinjuku và Shubya.

Đến Kyoto nhằm chiều thứ sáu, việc đầu tiên của chúng tôi là tìm ra nhà thờ để đi lễ cuối tuần. Nhà thờ thì tìm ra ở khu trung tâm thành phố rất gần với con phố sẽ diễn ra cuộc diễn hành vĩ đại vào ngày 17/7 sắp tới. Nhưng lễ thì không có đối với chúng tôi, vì hai lễ 6 giờ 30 chiều thứ bẩy và 6 giờ 30 chiều chúa nhật đều bị hủy bỏ, không biết vì lý do gì. Do lịch trình đi tour, chúng tôi chỉ có thể tham dự thánh lễ vào giờ bị hủy bỏ đó.

Qui mô các giáo xứ không lớn, thường số giáo dân chỉ vào khoảng tối đa hơn 1 ngàn người (như giáo xứ Shubya). Có giáo xứ chỉ có khoảng 3, 4 trăm giáo dân. Chính vì thế khi tái tổ chức các giáo xứ tại Tokyo, tài liệu nhấn mạnh tới tính liên thuộc, và đề cao tính giáo phận trong hoạt động mục vụ, để có đủ nhân sự và tài nguyên. Đọc các tài liệu này, người ta thấy Giáo Hội Nhật hướng nhiều về bên trong tuy không quên hướng ra bên ngoài.

Thực vậy , trong diễn văn đầu năm 2009 với toàn thể tổng giáo phận Tokyo, Đức TGM Peter Okada Takeo, Dòng Tên, có nhắc lại lời “Cầu Nguyện cho Nhà Thờ Chánh Tòa Và Tổng Giáo Phận Tokyo” trong đó ngài nhấn mạnh tới câu: “Lạy Chúa, xin ban cho chúng con thuộc Tổng Giáo Phận Tokyo ơn chữa lành, dậy men và khích lệ, đem hy vọng và tình đồng hành đến cho nhiều người đang gặp nguy biến và đang đau khổ trong hoang địa của thời hiện đại”. Sau khi cho rằng “hoang địa” cũng là từ được Đức Bênêđíctô XVI sử dụng trong lễ đăng quang, Đức Tổng Giám Mục muốn thấy giáo Hội Tokyo trở thành ốc đảo trong hoang địa ấy. Chỉ có điều, theo ngài, chính tín hữu của Tổng Giáo Phận cũng đang thấy mình chơi vơi trong hoang địa này. Bởi thế, ngài đưa ra ba mục tiêu ưu tiên sau đây cho Tổng Giáo Phận:

Thứ nhất: sự lớn mạnh về tâm linh của mọi tín hữu dấn thân vào sứ mệnh phúc âm hóa của Giáo Hội.
Thứ hai: sự lớn mạnh của tổng giáo phận trong tư cách một giáo hội đa quốc biết hỗ trợ lẫn nhau.
Thứ ba: tình đồng hành với những người đang đau khổ vì các nan đề tâm lý sâu xa.

Về mục tiêu thứ nhất, ngài nhấn mạnh tới các phương pháp chia sẻ học hỏi Thánh Kinh làm phương tiện lớn mạnh về tâm linh, nhất là vì năm 2009 đã được dành làm Năm Thánh Phaolô. Ngài cũng nhấn mạnh tới mối tương quan và sự hợp tác giữa hàng linh mục và giáo dân.

Về mục tiêu thứ hai, Tổng GP Tokyo vốn có Trung Tâm Công Giáo Quốc Tế nhằm cố vấn, trợ giúp và chăm sóc mục vụ cho di dân, người tị nạn và công dân các nước ngoài đến đây tạm trú đang gặp khó khăn. Trung tâm này đã được thiết lập từ thập niên 1990. Ngài muốn các dịch vụ này cũng được mọi giáo xứ chia sẻ.

Về mục tiêu thứ ba, Đức Cha Takeo nhắc đến lịch sử 2000 năm qua của Giáo Hội nói chung vốn trợ giúp những người đang gặp nan đề tâm lý hay các xáo trộn tâm thần bằng cách chữa lành họ, hay cung cấp cho họ sự nâng đỡ tâm linh. Ngài cho hay lý do đặt mục tiêu này thành ưu tiên, vì rõ ràng đây là “dấu chỉ thời đại”. Nhiều người ngày nay đang bị căng thẳng cực độ, đang chịu những vết thương tâm lý sâu xa, đang mất hướng, đang khủng hoảng tuyệt vọng. Giáo Hội cần trở nên một dòng suối và một ốc đảo cho họ trong cảnh hoang dã này.

Các mục tiêu trên đây quả là cần thiết. Hiện tượng đâm đầu vào xe lửa đang chạy ngược chiều để tự tử khá phổ thông ở Nhật ngày nay đến độ JR phải đưa ra biện pháp buộc gia đình người tự tử bồi thường thiệt hại cho mình. Không ai muốn đưa ra một biện pháp cực đoan đến thế, nếu khủng hoảng tâm lý nơi người Nhật không trở thành một vấn đề nan giải.

Tuy nhiên, không thấy ngài nhắc đến việc trực tiếp “rao giảng” Tin Mừng. Có lẽ việc này được ngầm lồng vào cả ba mục tiêu trên chăng? Như trong lời đề tựa cho dự án “Sống Thực Sứ Mệnh Tin Mừng” của Tổng Giáo Phận, ngài viết “Giáo Hội cần được tái sinh luôn luôn, nghĩa là trở về với nguồn cội, với Chúa Giêsu Kitô, Đấng luôn hết lòng quan tâm tới người đau khổ, người bị xâm phạm, và bị chà đạp. Khi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu luôn đến với người nghèo trước tiên, ngài trở thành bạn của họ, cùng đi một đường với họ. Sứ mệnh của Giáo Hội phải là đem sự sống mới vào sứ mệnh của Chúa Giêsu Kitô. Trong xã hội Nhật Bản, người ta đang nghe được nhiều tiếng kêu cứu và khu vực Tokyo của chúng ta không thiếu những tiếng kêu cứu ấy. Giáo Hội ta phải đáp ứng những tiếng kêu cứu ấy ra sao? Há chúng ta không đang nhắm mắt trước lời kêu cứu của những con người đang lo lắng đến chết vì các nan đề kinh niên của gia đình?... Đó là điều ta phải quan tâm, đó là ưu tiên ta cần giải quyết”.

Căn cứ vào đường hướng ấy, chương trình “Sống Thực Sứ Mệnh Tin Mừng” của Tổng GP Tokyo đã có nhận định “triệt để” như sau về ý nghĩa của từ phúc âm hóa: “Phúc âm hóa không phải chỉ có nghĩa là ‘công bố tin mừng của Chúa, tuyên xưng các giáo huấn của Chúa Kitô cho những ai không biết danh Người, và ban phép rửa tội’, mà còn có nghĩa sống thực ‘sứ mệnh Giáo Hội đã nhận được từ Chúa Kitô phục sinh’.

Nhưng sứ mệnh này là sứ mệnh nào? Rõ ràng là “hãy ra đi và làm cho muôn dân thành môn đệ Thầy”. Chiều hướng trên có điều tích cực là muốn vực hàng ngũ giáo dân và giáo sĩ của Tokyo ra khỏi cơn khủng hoảng hiện nay bị ám ảnh bởi tiền bạc, tính dục và lạm dụng, đến quên cả sứ mệnh Tin Mừng của mình. Nhưng người ta sợ rằng chiều hướng này quá nghiêng về khía cạnh xã hội, ít chú trọng tới rao giảng hướng ra bên ngoài.

Có lẽ cũng vì vậy, Giáo Hội Nhật chú trọng tới các đại học. Ít nhất ta cũng thấy có 7 đại học hay cao đẳng mà quan trọng hơn cả là đại học Nanzan của Dòng Ngôi Lời tại Nagoya (hơn 9 ngàn sinh viên) và đại học Sophia của Dòng Tên tại Tokyo ( 10,000 sinh viên cử nhân, 1,000 sinh viên cao học), một đại học đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước như thủ tướng thứ 79 là Morihiro Hosokawa và nhiều dân biểu nghị sĩ quốc hội, được xếp hạng cao trong danh sách các đại học Nhật. Vào được Sophia không dễ: tỷ lệ thu nhận chỉ là 18.1% (24,531 đơn, chỉ 1,357 đơn thành công).

Nhưng ảnh hưởng lớn lao ấy không phản ảnh nơi con số người Công Giáo Nhật, hiện chỉ chiếm chưa tới 0.5% dân số. Họ có thể đông hơn ở Miền Nam, nơi người Công Giáo Bồ Đào Nha từng lập ra thành phố Nagasaki, thành phố đã được Hoa Kỳ chọn thay thế Kyoto nhiều chùa chiền Phật Giáo và Thần Đạo để “lãnh” bom nguyên tử kết thúc Thế Chiến II ở Viễn Đông. Giáo Phận Nagasaki chỉ rộng 4,192 cây số vuông nhưng có tới 72 giáo xứ; trong khi Giáo phận Tokyo tuy có 75 giáo xứ nhưng với diện tích 7,316 cây số vuông. Hơn nữa tỷ lệ giáo dân của Nagasaki so với dân số trong vùng hơn hẳn tỷ lệ ấy tại Tokyo: số giáo dân của Nagasaki là 67,728 người trong tổng số 1,500,249 dân (4.5%) trong khi số giáo dân của Tokyo tuy có cao hơn Nagasaki là 89,409 người nhưng dân số Tokyo lên tới 18,408,577 (0.5%).

Việc đạo vì thế sầm uất hơn tại các giáo phận miền Nam. Theo ký giả Norimitsu Onishi của tờ The New York Times, số ngày 6 tháng 4 năm 2008, riêng tại quần đảo Goto, cực nam của Nhật, gần Nagasaki, đã có tới 29 nhà thờ Công Giáo. Đây là nơi người Công Giáo Nhật tới tránh nạn thời bách hại trước đây. Từ đó, họ thiết lập ra các làng toàn tòng Công Giáo, không có tại bất cứ nơi nào khác của Nhật. Ở đây mọi sinh hoạt đều xoay quanh giáo xứ và cả trường học cũng theo lịch của Giáo Hội.

Hiện nay, một phần tư số 25,000 cư dân của vùng gồm 7 đảo có người ở và 60 đảo hoang là người Công Giáo, một tỷ lệ hiếm hoi trong một xứ sở mà Kitô Giáo khó bén rễ được. Nhưng cũng giống như Đạo Công Giáo nói chung tại Nhật, tỷ lệ này đang bị đe dọa do những lý do khá quen thuộc với người Công Giáo ở các nước giầu có khác và riêng tại Nhật. Người trẻ Công Giáo ở đây đang lỏng dần sợi giây nối kết họ với Giáo Hội và tìm cách thoả mãn các nhu cầu tâm linh của họ ở nơi khác. Những người rời bỏ quê hương lên thành phố có khuynh hướng kết hôn với người không Công Giáo và đang bị chìm dần vào nền văn hóa phi Kitô Giáo.

Nhiều nhà thờ bị đóng cửa trong các năm gần đây vì số giáo dân lớn tuổi dần và giảm thiểu tại nhiều nhà thờ trong số 29 nhà thờ của vùng, nhất là tại các nhà thờ xa xôi của đảo. Cha Shigeshi Oyama, 61 tuổi, vì thiếu linh mục, phải coi tới hai giáo xứ, cho hay “Tình huống ở đây khá khắc nghiệt, vấn đề là không biết rồi ra tới nhà thờ nào bị đóng cửa”. Tại nhà thờ Hiyamizu, sau thánh lễ 7 giờ sáng, Toshiyuki Mori, 40 tuổi, cho ký giả Onishi hay: anh đi nhà thờ khá thất thường, tuy thời niên thiếu của anh tập trung vào giáo xứ và đã cưới một người vợ cùng tín ngưỡng. Nhưng không giống bố mẹ, hai vợ chồng trẻ này không còn thói quen cầu nguyện trước bữa ăn hay tham dự thánh lễ nữa, không phải vì bận bịu làm ăn mà “tôi đoán rằng đức tin của tôi dần dần tàn lụi đi”. Anh cho hay anh sẽ không buộc con trai anh phải tiếp tục là người Công Giáo “Khi đã hiểu biết đôi chút, nó có thể bỏ đạo nếu nó muốn”. Cho đến nay, con trai anh vẫn thích đến trường hơn đến nhà thờ vì “Cha Oyama cho chúng em kẹo. Hôm kia, ngài còn cho chúng em ăn kem nữa, mọi học sinh cho tới lớp sáu”.

Còn Cha Ritsuo Hisashi, phát ngôn viên của Hội Đồng Giám Mục Nhật ở Tokyo, thì tin rằng dân số Công Giáo ở Nhật đã lên đến cực điềm rồi. Và Giáo Hội đang phải đương đầu với các vấn đề như thiếu các linh mục và nữ tu trẻ. Theo Cha Hisashi, tại giáo phận Naha, thuộc đảo Okinawa, các linh mục từ Việt Nam và Phi Luật Tân đang tới để trám lỗ hổng.

Điều nghịch lý, theo Cha Hisashi, là đạo Công Giáo tại Nhật từng sống thoát nhiều cuộc bách hại nặng nề thời tướng quân Tokugawa: suốt trong hai thế kỷ, những “Kitô hữu dấu mặt” (Kakure Kirishitan) tiếp tục sống đạo trong bí mật, không cần đến các giáo sĩ, cho tới tận lúc Hoa Kỳ buộc Nhật phải mở cửa cuối thế kỷ 19. Đây quả là bằng chứng của sức bật đức tin nơi người Công Giáo Nhật. “Xét theo bối cảnh lịch sử ấy, người ta càng ngạc nhiên không biết tại sao có quá ít tín hữu vào lúc này”, Cha Hisashi thắc mắc như thế.

Tại Shinkamigoto, thủ phủ của Goto, nhiều người tin rằng sự giầu có mỗi ngày một gia tăng đã làm cạn dần đức tin của người ta. Trước đây, người Công Giáo nghèo hơn người không Công Giáo nhiều, phải ở những căn làng khắc nghiệt, tận bờ biển phía tây, nhiều làng chỉ có thể đến bằng thủy lộ. Bắt đầu từ ba thập niên trước đây, đường xá bắt đầu được xây dựng tới các làng hẻo lánh nhất. Nhờ thế, người Công Giáo thực hiện được những bước tiến đáng kể về kinh tế, xóa bỏ được khoảng cách với người không Công Giáo. Và cũng vì thế, họ ít quan tâm tới nhà thờ hơn.

Cha Yasuhiko Hamasaki, một linh mục thuộc Trung Tâm Công Giáo Kamigot ở đây cho hay: “điều đó cũng đã xẩy ra tại Âu Châu. Khi bắt đầu khấm khá về của cải vật chất, người ta thường đi tìm tiện nghi và phương thuốc nơi của cải vật chất ấy”. Thêm vào đó là sinh xuất giảm và việc người trẻ ra thành phố kiếm việc làm. Nhiều người không bao giờ trở lui, và đã mời cha mẹ già ra đó ở với họ.

Để đối phó với hiện tượng ấy, nhiều người nghĩ tới việc biến các nhà thờ của họ thành địa điểm thu hút du khách: hai trong số nhà thờ của họ đã được UNESCO liệt kê trong danh sách di sản thế giới. Nhiều người không tin vào giải pháp trần tục này. Tại Tokyo, Giáo Hội nghĩ đến việc phải cải tổ phụng vụ cho có chất Nhật nhiều hơn để lôi cuốn người trẻ. Điều này bị Đức Cha Koda, phụ tá giám mục Tokyo bác bỏ. Chả lẽ đưa nhạc kịch Noh hay nghi lễ dùng trà trên chiếu tatami vào phụng vụ. Ngày nay có ai còn ngồi chiếu tatami nữa đâu! Phần lớn người ta không lưu ý tới nhạc kịch Noh hay nghi lễ dùng trà nữa rồi. Đưa chúng vào Thánh Lễ, đâu có gì là tự nhiên nữa. Ngài đồng ý phải cải tiến phụng vụ cho có chất Nhật nhiều hơn. Nhưng việc này không dễ được Rôma ưng thuận, như gương của Pháp, Ý, Anh. Ngài cũng thấy cuộc đối thoại với Phật Giáo là điều khó khăn: “ta không có thì giờ cho việc ấy”. Dù ngài cho rằng giáo thuyết của Chân Tịnh Độ Tông có nhiều điểm rất quen thuộc với Kitô Giáo. Như có lần Kashiwami Reiho, một nhà sư của phái này, tới tham dự một buổi hội thảo của Công Giáo. Dịp này, ông ta cho hay: Chân Tịnh Độ Tông có 3 điều chính yếu: phải xem xét con người nhân bản của ta để đừng vị kỷ, phải ý thức sự hiện hữu của Phật Di Đà, Đấng cứu ta và hộ trì ta; phải liên kết với người khác, săn sóc những người ta gặp, sống với họ theo hết khả năng của ta. Những điều đó có khác gì giáo lý Kitô Giáo. Ngài bảo Phật Di Đà khá giống với Chúa Kitô. Trên bình diện căn bản, hai tôn giáo có nhiều điểm chung với nhau. Để đương đầu với các vấn đề xã hội, hai tín ngưỡng nên tìm hiểu nhau, có thiện cảm với nhau. Thay vì đối thoại thần học hay linh đạo, nên tập trung vào các vấn đề thực tiễn.

Và nếu lôi cuốn người Phật Giáo và Thần Đạo là việc khó khăn ít được nghĩ tới, thì Giáo Hội Nhật đang chú ý tới người Công Giáo ngoại quốc. Hiện họ đang làm con số giáo dân Công Giáo tại Nhật gia tăng. Điều khó khăn là đa số các giáo sĩ Nhật không biết nói tiếng nước ngoài, do đó, tại nhiều giáo xứ, không có sự thông đạt tốt giữa linh mục và giáo dân ngoại kiều. Hiện Hội Đồng Giám Mục Nhật có Ủy Ban Di Dân, Tị Nạn và Người Đang Di Chuyển để chăm sóc ngoại kiều. Có điều, Giáo Hội Nhật vẫn không muốn có nhiều thánh lễ bằng ngoại ngữ kể cả tiếng Anh.

Về các vấn đề xã hội như bạo hành gia đình, tự tử, thối nát chính trị, ảnh hưởng chính trị của các tổ chức cánh hữu, và hiện tượng bất bình đẳng xã hội mỗi ngày một gia tăng, Đức Cha Koda cho hay: Giáo Hội Công Giáo vẫn còn rất nhỏ, nên khả năng nói về các vấn đề ấy rất yếu. Vả lại, trong suốt hai năm làm giám mục vừa qua, ngài chưa thấy một động thái nào của Giáo Hội về phương diện này. Ngoại trừ tuyên bố “Trọng Kính Sự Sống” mấy năm trước đây của các giám mục và một tuyên bố khác về hòa bình.

Theo ngài, các hoạt động xã hội của Công Giáo trước đây phần lớn do các dòng tu đảm trách, nay con số thành viên của họ giảm đi nhiều, nên phần lớn những hoạt động này nay do các tổ chức phi chính phủ đảm trách với sự tham gia của cả Công Giáo, Thệ Phản và Phật Giáo. Khi được hỏi về vấn đề môi sinh, Đức Cha Koda nhắc lại điệp khúc quen thuộc “việc ấy khó vì Giáo Hội Nhật Bản chỉ là một nhóm nhỏ trong xã hội”. Về các nhà truyền giáo ngoại quốc, liệu Giáo Hội Nhật có chào đón họ hay không, câu trả lời của Đức Cha Koda có điều đáng lưu ý. Ngài khởi đầu bằng cách cho hay về phương diện lịch sử, Nhật là một nước khá khó tính: từng ra lệnh trục xuất các nhà truyền giáo ngoại quốc. Rồi từ thời Showa (hiện đại hóa), Nhật mỗi ngày một quân phiệt và có tinh thần duy quốc gia hơn, nên các nhà truyền giáo lại tiếp tục bị từ khước. Ngày nay, xu hướng bài ngoại vẫn có nguy cơ trỗi dậy, xu hướng quân phiệt vẫn lẩn khuất đâu đó, không những nơi chính phủ mà cả trong tâm thức người dân nữa. Nhưng theo ngài, đức tin Công Giáo vượt quá quốc gia và nòi giống, liên hệ đến mọi dân tộc trên thế giới, nên ngài hoan nghênh các nhà truyền giáo ngoại quốc miễn là phải cho họ thấy những nét đặc trưng của Giáo Hội Nhật và của xã hội Nhật, “không hẳn chỉ vì ta thiếu linh mục… hay ta muốn truyền bá Kitô Giáo hơn nữa cho người Nhật, nhưng là để Giáo Hội Nhật không trở thành cô lập”. Truyền bá Đạo hình như không hẳn là ưu tiên hàng đầu của việc hoan nghênh các nhà truyền giáo ngoại quốc, mà chỉ là để khỏi bị cô lập.

Với câu hỏi ngài nghĩ gì về tương lai Giáo Hội Nhật, Đức Cha Koda đề cập ngay tới các vấn đề xã hội: bạo lực, tội ác, tự tử, phát sinh do sự sụp đổ của cộng đồng truyền thống. Nhưng làm sao để xoay ngược tình thế, thì ngài bảo “Tôi không biết”. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh xã hội này, ngài bảo ta phải xây dựng cộng đồng, vì đức tin Công Giáo là đức tin ta thừa hưởng từ chính cộng đồng. Bắt đầu với những cộng đồng nhỏ: ngài muốn thấy người Công Giáo tụ họp với nhau, đọc Thánh Kinh và cầu nguyện với nhau.

Tóm lại, h́ình như Giáo Hội Nhật chỉ quan tâm tới việc duy trì nội bộ, làm sao nuôi dưỡng niềm tin của những người đã gia nhập Giáo Hội. Khối người mênh mông ở bên ngoài Giáo Hội kia dường như nằm quá xa vòng với của Giáo Hội này, đến nỗi phát ngôn viên của Hội Đồng Giám Mục Nhật phải coi con số giáo dân Nhật hiện nay như đạt tới tuyệt đỉnh rồi. Trái với người Công Giáo Đại Hàn, tuy có một nền văn hóa tương tự như người Nhật (có người còn cho rằng đa số người Nhật có nguồn gốc Đại Hàn), và con số giáo dân hiện nay lên tới 5,309,364 người, vẫn cho rằng con số ấy chưa phải là đỉnh điểm: mỗi cursullista có nhiệm vụ phải mang một người về với Chúa. Phải chăng người Công Giáo Nhật, từng sống thoát nhiều cuộc bách hại dữ dằn, nay phải đầu hàng trước chủ nghĩa duy tục.

Theo Wikipedia, tuy con số chính thức vẫn cho rằng có từ 84 tới 96 phần trăm dân Nhật theo Phật Giáo hay Thần Đạo, nhưng đây là con số do các chùa chiền và đền thờ cung cấp, chứ không hẳn là con số các tín hữu thực sự. Một cuộc nghiên cứu mới đây của Kato, Mariko (24 February 2009) tựa là "Christianity's long history in the margins" đăng trên Japan Times, cho hay chỉ vào khoảng 30% dân số coi mình thuộc một tôn giáo. Điều này tương ứng với khám phá của Edwin Reischauer và Marius Jansen, theo đó, có đến 70-80 phần trăm dân Nhật thường xuyên gọi cho các nhà thăm dò, cho biết mình không thuộc bất cứ tôn giáo nào (Clarke, Peter, ed. (1993). The World's religions : understanding the living faiths. Reader's Digest. p. 208). Khuynh hướng duy tục này, thực ra đã phát sinh ở Nhật từ rất lâu rồi. Lafcadio Hearn, một tác giả cổ điển viết về khuynh hướng này như sau trong “Glimpses Of Unfamiliar Japan” xuất bản năm 1894 (hơn 100 năm nay): “Các ý niệm bình dân về tôn giáo, nhất là các ý niệm rút ra từ Phật Giáo… rất ít được giới có học của Tân Nhật Bản chia sẻ. Giai cấp này vẫn có đặc điểm dửng dưng đối với các ý niệm trừu tượng nói chung và việc luận suy siêu hình nói riêng, họ hầu như chỉ đứng trên bình diện thuần trí thức của những người có học tại Paris hay Boston. Ngoài ra, họ tỏ ý khinh mạn mọi quan niệm về siêu nhiên và hoàn toàn lãnh cảm đối với các vấn đề tôn giáo lớn hiện nay… Giới trí thức Nhật Bản trở thành bất khả tri chỉ trong vòng mấy thập niên… Họ tỏ ra gần như bất khoan dung đối với Phật Giáo” (Lời Nói Đầu). Ta biết rằng cái giới có học này, vào năm 1894, còn ít, chứ trong xã hội Nhật Bản hiện nay, họ chiếm đại đa số. Do đó, hiển nhiên thái độ thờ ơ, thậm chí bất khoan dung, với tôn giáo là điều hẳn rất phổ biến tại đất nước vốn tin rằng mình là con cháu của Thái Dương Thần Nữ.

Một tác giả cổ điển khác về Nhật là Engelbert Kaempfer (1651 – 1716), trong “Lịch Sử Nhật Bản”, xuất bản năm 1727, sau khi ông qua đời, cho ta một lý do khác. Ông viết: “Trong lãnh vực thực hành đức hạnh, trong cái tinh ròng của cuộc sống và lòng sùng kính bên ngoài, người Nhật hơn hẳn các Kitô Hữu”. Phải chăng Giáo Hội Công Giáo ở Nhật hiện nay nhất trí với nhận định này, một nhận định từng dẫn những người bất khả tri như Hearn đến chỗ cho rằng: “Xác tín của riêng tôi và của nhiều quan sát viên vô tư và nhiều kinh nghiệm hơn về cuộc sống Nhật Bản là: Nhật Bản không được bất cứ lợi lộc nào khi trở lại Kitô Giáo, cả về phương diện luân lý lẫn các phương diện khác, mà chỉ mất mát rất nhiều mà thôi”.

Những nhận định bi quan trên có thể phiến diện vì chỉ căn cứ vào một thời gian quan sát rất ngắn và dựa vào một số tài liệu tiêu cực. Nhưng con số nhỏ nhoi các giáo dân, các nhà thờ và hàng ngũ linh mục, tu sĩ và đà gia tăng gần như không có, thậm chí, xét theo đà gia tăng dân số nói chung, nó còn đi thụt lùi là đàng khác, là một thực tế, và thực tế này, hẳn đặt ra cho Giáo Hội Nhật rất nhiều dấu hỏi lớn. Những dấu hỏi này, tiếc thay, đã không được người phỏng vấn đức cha Koda lưu tâm nêu ra.

Vũ Văn An

Đọc nhiều nhất Bản in 30.07.2012. 18:54