Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 10/2014

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Thăm Nhật Bản (3)

§ Vũ Văn An

Đền chùa

Kyoto được mệnh danh là thành phố du lịch, vì còn giữ nguyên được các đền chùa đình miếu và lâu đài trước Thế Chiến II. Chúng tôi tới đó bằng xe lửa cao tốc (shinkansen), và ở lại 3 đêm 4 ngày, ngụ tại một khách sạn theo lối cổ không xa ga chính bao nhiêu. Từ Kyoto, chúng tôi “booked” các chuyến viếng thăm Kyoto, Nara và Osaka.

Tại Kyoto, chúng tôi đến thăm hợp thể Nishi Honwanji, gồm hai ngôi chùa chạy dài hết cả một khu phố khá gần Kyoto Tower. Chùa thẳng từ cổng vào thờ Phật Di Đà, chùa bên trái, xem ra được chăm sóc và trang hoàng đẹp đẽ hơn dành cho Shinran (Thân Loan), vị sáng lập ra phái Jodo Shinshu cũng gọi là Shin Buddhism hay phái Chân Tịnh Độ Tông. Chùa thờ Phật Di Đà trông tối tăm hơn, một phần vì ít nến đèn một phần vì tượng Phật Di Đà, dù có danh là Đấng Vô Lượng Quang, nhưng lại mang mầu đen khó thấy. Trái lại, khi chúng tôi tới thăm, thì chùa thờ Thân Loan đèn đuốc sáng láng, mâm quả hậu hĩnh vì một vị sư của phái Chân Tịnh Độ Tông đang cử hành khóa lễ buổi sáng. Ngoại trừ bộ áo mà trông qua có dáng dấp kimono, vị sư chủ lễ hoàn toàn giống một người trần tục. Phải chăng, cũng như Thân Loan, các tu sĩ của Chân Tịnh Độ Tông đều có vợ con? Hai ngôi chùa này đều làm bằng gỗ được tẩm chất chống cháy và được cho là có từ thế kỷ 13. Trước mỗi ngôi chùa, đều có cây ginkgo (bạch quả), xum xuê lá cành, được người tour guide cho là để chống cháy.

Phái Chân Tịnh Độ Tông hiện là phái Phật Giáo được thực hành nhiều nhất tại Nhật hiện nay, mà đường hướng dường như muốn canh tân Phật Giáo để nó có tính thực tiễn nhiều hơn. Thân Loan từ bỏ phái Phật Giáo Thiên Đài hay Thiên Thai (Tendai) truyền từ Trung Hoa qua cũng vì thấy phái này không thực tiễn lắm. Chính vì thế, khi Nhật được thống nhất thời Edo, Chân Tịnh Độ Tông của ông đã, cùng với nhiều phái khác của Phật Giáo Nhật, thích ứng bằng cách cung cấp các khóa lễ tưởng niệm và chôn cất cho các thành viên có đăng ký của mình, vừa để tuân hành lệnh của Tướng Quân Tokugawa, vừa để ngăn chặn sự bành trướng của Kitô Giáo. Hệ thống đăng ký thành viên này ngày nay vẫn còn được duy trì, dù không chặt chẽ như trước. Nhiều người gọi Phật Giáo Nhật là “Phật Giáo Chôn Cất” vì việc chôn cất đã trở thành chức năng hàng đầu của các chùa Phật Giáo ở đây. Điều trùng hợp, là người tour guide Nhật của chúng tôi tự diễn dịch Phật Giáo như một tôn giáo cho việc đời sau, chứ không cho việc đời này. Theo bà, người Nhật phần đông theo Phật Giáo nhưng họ ít đi chùa là vì thế.

Tuy thế, Chân Tịnh Độ Tông đã có công tạo nên một truyền thống học thuật rất đáng nể, dẫn tới việc thành lập ra Đại Học Ryukoku năm 1639 ngay tại Kyoto. Nguyên thủy, nó là trường đào tạo các vị sư của tông phái, sau được thế tục hóa vào năm 1876. Các giáo sư và sinh viên của trường cho xuất bản tạp chí nổi tiếng Chuokoron vào năm 1887. Số sinh viên hiện nay là 11,900 học trong 7 phân khoa từ nhân văn tới khoa học tự nhiên.

Từ Hongwanji, chúng tôi đi thăm Lâu Đài Nijo, nơi cư trú xưa của các tướng quân nhà Togukawa, được xây năm 1626, do tiền đóng góp của các lãnh chúa trong vùng. Được sử dụng từ đó tới tận năm 1939, lúc được tặng cho Thành Phố Kyoto để mở cho dân chúng vào xem. Lâu đài gồm hai hệ thống tường hào đồng tâm bao bọc. Tường ngoài gồm 3 cổng, tường trong 2 cổng. Điện Honmaru nằm trong tường trong, trong khi điện Ninomaru nằm giữa hai bức tường. Điều đặc biệt nhất của điện Ninomaru là chiếc “sàn họa mi” ở hành lang. Để che chở chủ nhân khỏi bị kẻ sát nhân tấn công bất ngờ, các thợ xây đã xây chiếc sàn ở đây một cách khéo léo đến nỗi ai đi trên sàn, nó cũng như phát ra tiếng họa mi kêu báo động. Nhiều phòng tiếp khách đủ loại của Lâu Đài cũng có những chiếc cửa đặc biệt để vệ binh kịp thời can thiệp cứu giá. Lâu đài Nijo gồm nhiều bức tranh giá trị mà diễn trình tái tạo hiện nay cần 15 năm mới hoàn thành. Những tranh này rõ nét đi từ đe dọa (các lãnh chúa) tới thư giãn (nơi ở của tướng quân và gia đình). Có khu riêng của tướng quân, trong đó, chỉ các nữ gia nhân mới được lui tới. Khác với chùa, lâu đài không cho phép du khách chụp hình hay quay phim.

Tuy nhiên tại Kinkakuji, Đền Vàng, tuy cũng là ngôi chùa của Phật Giáo Thiền Tông Nhật, nhưng không du khách nào được bước vào trong, có lẽ vì người ta muốn họ chiêm ngưỡng phong cách thiết kế ngôi vườn tại đây. Ngôi vườn này được coi là điển hình của phong cách thiết kế vườn Nhật Bản có từ thời Muromachi (1337-1573), nhằm phối hợp giữa tòa nhà và khung cảnh chung quanh. Nó được liệt kê trong danh sách Di Sản Thế Giới và là một trong các địa điểm được nhiều người thăm viếng nhất của Nhật. Tòa nguyên thủy xây từ năm 1398, sau nhiều hư hại vì hỏa hoạn và hư hao, nó được tái tại vào năm 1987. Gọi là đền vàng vì hai tầng trên của nó được bọc bằng vàng lá nguyên chất, trông óng ánh dù không có mặt trời. Tầng thứ nhất gọi là Phòng Thủy Pháp (Chamber of Dharma Waters), xây theo kiến trúc shinden (thế kỷ thứ 10). Tầng thứ hai gọi là Tháp Âm Ba (Tower of Sound Waves) xây theo kiến trúc võ sĩ quí tộc. Tầng này có bàn thờ Quan Âm Bồ Tát (Kannon). Tầng ba xây theo kiến trúc thiền. Bên cạnh đền là tu viện Phật Giáo với chùm cây cắt tỉa thành con thuyền hướng về chiếc hồ đàng trước, ý muốn vượt sóng tới tây thiên cực lạc.

Cuộc du ngoạn buổi sáng chấm dứt tại một nhà hàng Nhật Bản với bữa trưa hoàn toàn theo lối Nhật, ngoại trừ không phải ngồi trên chiếu. Mỗi thực khách một mâm riêng với những món gia vị và rau dưa nhỏ xíu, bày biện công phu, và một chiếc lò riêng trên đó có nồi canh lót giấy. Người đủ quốc tịch ai cũng biến mâm cơm thành sạch bách.

Buổi chiều, chúng tôi đáp xe bus đi Nara, cách Kyoto chừng 40 cây số, vốn là cựu thủ đô của Nhật, trước Kyoto, để thăm Chùa Todaiji của Phật Giáo Kegon (Hoa Nghiêm), có từ thế kỷ thứ 8, dù sau đó, được trùng tu nhiều lần; hình thức như hiện nay có từ năm 1709, dài 57 mét, rộng 50 mét, nhỏ hơn cỡ nguyên thủy tới 30%. Chùa này nằm bên cạnh công viên nai hươu. Hàng ngàn con nai tự do đi lại trong công viên, được du khách cho ăn với những chiếc bánh mua tại chỗ, chúng lang thang vào tận phía ngoài Todaiji. Mùi nai hươu không hẳn là điều đáng khuyến khích. Dù nhiều nhân viên được sử dụng để thường xuyên thu lượm những cục phân tí hon của chúng, nhưng người không quen, vẫn cảm thấy mũi mình không ổn. Khổ một điều, đối với Thần Đạo, chúng chính là sứ giả của thần phật.

Todaiji được Hoàng Đế Shomu cho xây để trừ khử mọi điều xấu lúc ấy dồn dập xẩy ra cho xứ sở. Nó gồm nhiều dinh thự, nhưng đáng kể nhất chính là niệm phật đường, nằm phía sau hai cổng lớn, cách nhau cả hàng trăm mét. Tới cổng thứ hai, Todaiji xuất hiện thật hùng vĩ, vốn là niệm phật đường bằng gỗ lớn nhất thế giới. Trong điện có tượng Phật Tỳ Lô Xá Na (Vairocana) bằng đồng lớn nhất thế giới, cho tới lúc bị Tượng Phật ở Lantau, Hồng Kông qua mặt năm 1993. Tượng Phật tại Hồng Kông cao 34 mét, nặng 2,500 tấn; trong khi, tượng Phật ở Todaiji chỉ cao 14.98 mét, nặng 500 tấn. Tuy nhiên, các tài liệu chính thức vẫn "lờ" sự kiện này và vẫn ghi: đây là tượng Phật bằng đồng lớn nhất thế giới. Vì đồng hồi đó khan hiếm, nên hầu hết tài nguyên đồng của cả nước đã được dồn vào việc đúc tượng Phật này. Người Nhật đơn giản gọi tượng này là Daibutsu (Đại Bụt).

Điều đáng để ý là Todaiji từng xuất hiện trong phim The Barbarian and the Geisha của John Wayne trong thập niên 1950 khi Nam Đại Môn của chùa được coi là cổng kinh thành. Nó cũng là địa điểm tổ chức đại nhạc hội The Great Music Experience năm 1994 với sự góp mặt của INXS, Bon Jovi, Bob Dylan… và ban hợp ca của các tu sĩ Phật Giáo, được phát đi cùng một lúc tới 55 quốc gia, do nhà đạo diễn Anh Tony Hollingsworth tổ chức.

Cuộc viếng Nara của chúng tôi chấm dứt với việc viếng thăm đền Thần Đạo Kasuga Taisha, một ngôi đền được xây dựng cùng thời với lúc Nara được chọn làm thủ đô (thế kỷ thứ 8) và sau đó được trùng tu nhiều lần. Nó cũng nằm không xa công viên nai hươu. Đền Thần Đạo được đánh dấu bằng chiếc cổng đơn giản gồm hai cột thẳng theo hình thang và hai cột ngang cong ở hai đầu, thường có mầu cam. Ở cổng vào Đền Thần Đạo, thường có một dẫy chum rượu sakê được xếp ngay ngắn thành nhiều tầng. Người tour guide cho hay đây là điểm dị biệt về giáo huấn giữa Phật Giáo và Thần Đạo: Thần Đạo không những không cấm rượu mà còn coi rượu là “nước thánh”, nước của các vị thần. Nghĩ cho cùng thì điều này hợp luận lý vì Thần Đạo vốn đã có, trước khi Phật Giáo du nhập Nhật theo ngả Triều Tiên. Chủ yếu của Thần Đạo là các niềm tin bình dân nặng về vật linh (animism) và thờ cúng tổ tiên, trong đó bông lúa và các sản phẩm của nó được coi trọng, mà sakê là rượu làm từ gạo. Trong đền, không có gì trổi vượt ngoại trừ khoảng không, sự im lặng, và gợi nhớ quá khứ. Bàn thờ trong cùng được phủ màn, trong đó có thể là một tấm gương khung đồng, một lưỡi kiếm xưa hay một đồ vật gì đó gói kỹ nhiều lớp. Chỉ có thế. Lâu đời hơn chính ảnh tượng, tín ngưỡng này không cần đến chúng, các vị thần của nó chỉ là các bóng ma; và cảnh yên tĩnh hoang sơ của nó tạo nên nhiều tôn kính hơn các biểu tượng hữu hình. Người tour guide của chúng tôi đốt nhang, rồi một mình ngả mũ bái lạy “không khí” trước mặt.

Dẫy nhà phía trái treo rất nhiều đèn bằng đồng của khách thập phương dâng cúng. Đền nổi tiếng vì những chiếc đèn này cũng như những chiếc đèn to nhỏ bằng đá đặt dọc theo lối vào đền, có khi hơn một ngàn chiếc. Vào các dịp đại lễ Setsubun Mantoro (2-4 tháng Hai) và Obon Mantoro (14-15 tháng Tám), những chiếc đèn này sẽ được đốt lên cùng một lúc. Mái đền được làm bằng một thứ gỗ rất mỏng, trông giống như vỏ cây. Người ta trưng bày nhiều bó gỗ này ngay trước bàn thờ chính và một tấm hình lớn diễn tả các thợ trùng tu đang sửa lại mái bằng thứ gỗ này.

Ngày hôm sau, chúng tôi đáp xe lửa tốc hành từ Kyoto đi thăm Osaka. Đây là thành phố lớn thứ ba của Nhật, sau Tokyo và Yokohama. Trong thành ngữ bình dân, Osaka có tới 808 cây cầu. Con số này là cách thông thường để chỉ một lượng vô số không thể đếm xuể. Chứ thực ra, vào năm 1925, Osaka có tới 1,629 cây cầu. Do việc lắp sông rạch, con số này giảm xuống còn 872 vào năm 2003. Đứng trên đỉnh tòa nhà Floating Garden, mà tiếng Nhật gọi là Kuchu Teien Tenbodai tại khu Shin Umeda, cao 173 mét, nhìn xuống con sông Yodo phía xa xa chẩy vào vịnh Osaka, người ta đếm được không dưới 20 cây cầu trong tầm nhìn một phía. Hỏi liệu Osaka có tới hàng trăm cây cầu hay không, thì người tour guide hôm ấy vẫn theo lệ thường trả lời rằng Osaka có tới 800 cây cầu.

Xuống khỏi đỉnh tòa nhà, là khu bán đồ kỷ niệm. Khu này có trưng bày 48 tòa tháp khắp thế giới biểu tượng cho hòai bão của con người muốn càng ngày càng xây dựng được những tòa nhà cao hơn, “chạm tới trời”. Điều lạ là họ gọi tòa tháp này là chiếc Vườn Nổi có lẽ để gợi nhớ lại cố gắng đầu tiên của con người trong việc tạo ra những thửa vườn không dính liền với đất tại Babylon xưa. Tương tự như thế, đài quan sát, cũng 360 độ, ở tầng 69 trên đỉnh Landmark Tower của Yokohama (cao hơn Floating Garden của Osaka đúng 100 mét), nơi chúng tôi tới thăm trước đây ít ngày, cũng được gọi là Sky Garden (Vườn Trên Trời). Những “vườn” này không hề trồng cây. Vườn Nổi của Osaka là một tòa nhà biệt lập gồm ba tầng, trông giống một thửa vườn được gắn trên đỉnh, lơ lửng giữa hai tòa tháp đôi khổng lồ. Và để bổ túc cho hình ảnh “vườn” ấy, bên cạnh chân Vườn, là một khu vườn vào khoảng một mẫu tây, trồng đủ mọi sản phẩm nông nghiệp của Nhật từ trà xanh, lúa gạo tới những bụi trúc nhỏ. Người tour guide không quên giới thiệu thửa vườn này với chúng tôi. Phía dưới hầm Vườn Nổi là khu bán đồ kỷ niệm khác có tính truyền thống hơn. Khu này dựng lại một khu phố xưa, thời nước Nhật bắt đầu hiện đại hóa, gồm nhiều dẫy phố hẹp, với đủ các cửa tiệm, trong đó, có quán ăn, được nhiều du khách chiếu cố.

Buổi trưa, chúng tôi dùng bữa tại Khách Sạn Granvia. Đoàn du khách gồm 10 người chúng tôi (gia đình tôi 6 người, 2 vợ chồng trẻ người Ý và hai vợ chồng cũng trẻ người Hung Gia Lợi) được mời vào một phòng ăn nhỏ. Ở đấy, các món ăn theo kiểu tây phương đã được dọn lên. Mỗi món, ngay cả soup, cũng được chiêu đãi viên long trọng giới thiệu, kiểu các thí sinh của chương trình Master Chef giới thiệu món nấu của mình với các giám khảo. Các chiêu đãi viên này rất thông thạo tiếng Anh, không như phần lớn người Nhật, tuy hiểu, nhưng không trả lời bằng tiếng Anh, chỉ dùng tay chỉ chỏ, mỗi lần mình hỏi đường đi nước bước. Người Nhật không niềm nở với du khách bao nhiêu. Trong suốt thời gian ở Nhật, tôi chỉ được một thanh niên Nhật ở Tokyo, trên chuyến xe lửa đưa chúng tôi tới Tokyo Tower, “tự động” lên tiếng hỏi: Where are you from (ông từ đâu tới) ? Khi biết tôi từ Sydney tới, anh ta tỏ vẻ lưu ý và bắt chuyện một hồi. Nói cho ngay, người Nhật có vẻ sống cho riêng họ nhiều. Trên xe lửa, hầu hết các hành khách đều dí mắt vào một cuốn sách, một iphone, hay một ipod, ít khi nói chuyện với nhau. Và khá nhiều người thiếp ngủ. Nói đến thiếp ngủ, một giáo sư Tây Phương của Đại Học Tokyo viết một cuốn sách, kể lại câu truyện: có lần, ông thấy một phụ nữ ngủ ngon lành trên một chuyến xe lửa nội thành. Thế mà đến trạm phải xuống, bà ta bước ra rất tỉnh táo và đúng lúc.

Sau bữa trưa khá thịnh soạn, chúng tôi đáp xe lửa tới ga Tenmabashi và từ đó, cuốc bộ tới Lâu Đài Osaka. Đây là một trong các lâu đài nổi tiếng và lớn nhất của Nhật, tọa lạc trên một khu đất rộng hơn 60,000 mét vuông. Tòa nhà chính, bên ngoài gồm 5 tầng, bên trong gồm 8 tấng, nằm cao trên một đỉnh đồi, mà vừa bước ra khỏi ga Tenmabashi, chúng tôi đã thấy nó óng ánh dưới nắng buổi trưa. Lâu đài được xây dựng bắt đầu từ năm 1583 và hoàn tất năm 1597. Năm 1620, nó được chủ nhân mới thuộc nhà Tokugawa trùng tu. Rồi sau nhiều tai ương, và nhiều cuộc trùng tu khác, hình thức như hiện nay do chính quyền thành phố đứng ra tái thiết năm 1995. Công trình tái thiết này hoàn tất vào năm 1997. Do đó, tòa nhà chính trông rất mới với lớp sơn óng ả từ xa. Các bức tường thành cao gần 30 mét của nó được xây dựng bằng những phiến đá rất lớn. Trong đó có hai phiến lớn hơn cả: phiến Higoishi, có diện tích 54.17 mét vuông, đặt tại cửa Kyobashi-guchi, và phiến Takoishi, có diện tích 59.43 mét vuông, nặng 108 tấn, đặt ngay bên trong cổng Sakuramon, lối vào chính của Lâu Đài Osaka. Những phiến đá này được mài dũa bằng phẳng và được đặt lên nhau không cần vôi vữa. Chúng được chuyên chở về Osaka từ hàng trăm cây số cách xa. Trên lầu 8, có vọng quan sát, mà từ đó, du khách có thể chiêm ngưỡng hầu hết thành phố Osaka. Cũng như tại Lâu Đài Nijo, du khách không được chụp hình hay quay phim bên trong Lâu Đài, nơi có bảo tàng viện lịch sử, thuật lại mọi biến cố liên quan tới Lâu Đài như cuộc đời của tướng quân Hideyoshi Toyotomi, chủ nhân đầu tiên, trận đánh Osaka giữa nhà Toyotomi và nhà Tokugawa, người đánh bại và tiêu diệt nhà Toyotomi để trở thành chủ nhân mới của Lâu Đài…

Từ lâu đài Osaka, chúng tôi lại cuốc bộ dưới trời nắng, băng qua âm nhạc viện để tới bờ sông gần đó đáp tầu ngao du trên sông. Hôm ấy nhằm ngày có ca sĩ nổi tiếng của Nhật trình diễn tại âm nhạc viện, nên rất đông thanh thiếu niên Nhật kiên nhẫn xếp hàng thật dài để vào xem. Gần đó, là buổi sinh hoạt rất náo động gọi là Đại Hội Mùa Hè, với những người tham dự rất trẻ. Họ lũ lượt kéo nhau từng nhóm hướng về hai địa điểm này, thỉnh thoảng dừng lại tại một bóng râm để nghỉ ngơi, lau mồ hôi nhễ nhãi trên người. Rất ít người có cha mẹ hay người giám hộ đi theo. Buổi du ngoạn trên sông của chúng tôi hôm đó được chứng kiến cuộc đua thuyền đầy hào hứng của khoảng hơn chục chiếc thuyền tham dự. Tầu đi một vòng quanh khu vực Nakanoshima (Đảo Giữa) nằm giữa hai con sông Dojimagawa và Tosaborigawa, trong gần một giờ, đủ để du khách quan sát các dinh thự quan trọng của Osaka. Giống cuộc du ngoạn bằng tầu trên sông Seine ở Paris, chỉ khác, cuộc du ngoạn này không cho phép du khách lên bờ ở từng trạm để quan sát các dinh thự lịch sử trên bờ.

Cuộc du ngoạn trên sông đã chấm dứt một ngày của chúng tôi tại Osaka. Trở về Kyoto, ngày hôm sau, chúng tôi đáp shinkansen trở lại Tokyo, ngụ tại Khách Sạn Washington thuộc khu Shinjuku, chỉ cách Tòa Đô Chính một khoảng đi bộ chừng 3 phút. Theo các cháu vào Disneyland một ngày, các ngày còn lại, phần lớn là vãng cảnh và đi mua sắm. Nói đến mua sắm, phải nhận người Nhật có mãi lực đáng nể. Người ta đi mua sắm bất kể ngày nào trong tuần. Các gian hàng (không to lắm) lúc nào cũng có người vào ra. Và đã vào thì khi ra phần lớn ai cũng có một túi xách trên tay. Vì đã đi thăm khá nhiều chùa chiền ở khu vực Kyoto và vùng phụ cận, nên tại Tokyo, chúng tôi chủ ý không đi thăm một chùa chiền hay đình miếu nào, kể cả Đền Minh Trị ở Shubya và Chùa Phật Giáo nổi tiếng Sensoji, thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, tại Asakusa. Chúng tôi chỉ đi thăm Tòa Đô Chính, cao 243 mét, một dinh thự có dáng rất gô-tích. Tại lầu 45 (cao 202 mét) của tòa nhà này, có vọng quan sát 360 độ, từ đó, có thể quan sát trọn vẹn thành phố Tokyo, và nếu trời thật trong, du khách còn có thể thấy Phú Sĩ Sơn ở xa xa. Điều đáng nói là vọng quan sát này hoàn toàn miễn phí và mở cửa ngày đêm (tới tận 11 giờ đêm). Toà nhà thứ hai là Tokyo Tower xây theo mô hình Tour Eiffel của Paris, sơn mầu trắng và mầu cam theo đòi hỏi của Viễn Thông, cao (315 mét) và nổi tiếng hơn Tòa Đô Chính nhiều vì đã được sử dụng từ thập niên 1960. Từ đó, đã có 150 triệu người tới thăm, vì ở đây cũng có hai vọng quan sát. Chủ yếu của Tháp là phát tuyến truyền hình và ăngten cho truyền thanh. Nhưng vì thiếu khả năng phát tuyết kỹ thuật số khắp trái đất, nên một tháp phát tuyến mới, Tokyo Skytree (cao 634 mét), đã được xây dựng và bắt đầu đưa vào hoạt động từ giữa năm nay (2012). Vào thăm Tháp Skytree này hiện đòi phải đăng ký cả một năm trước, nên không có trong hành trình của chúng tôi. Nơi thăm nản nhất là Hoàng Cung. Nản vì không được vào bên trong, ngoại trừ phải đăng ký trước với Cơ Quan Quản Trị Hoàng Cung. Nhật Hoàng chỉ mở Cung cho dân chúng mỗi năm hai lần vào ngày sinh nhật của ông (tháng 12) và ngày tân niên (2 tháng Giêng). Thậm chí chiếc cầu đôi Nijubashi dẫn vào cổng chính của hoàng cung cũng chỉ được thấy từ xa. Hàng dẫy “ngựa” sắt được bố trí dọc theo chiều dài của cầu tới tận chỗ người lính gác lúc nào cũng đứng nghiêm chỉnh như tượng gỗ. Tôi rất lạ khi có người bảo: người ta mệnh danh cầu này là cầu nhân duyên. Tên của nó thực ra chỉ có nghĩa là cầu đôi, cầu kép, chẳng liên quan gì tới nhân duyên. Hay tại cái chữ đôi, chữ kép mà những cặp nhân duyên đua nhau tới đây lấy nó làm phông chụp hình? Cái nản thứ hai, là Vườn phía Đông của Hoàng Cung được mở cửa cho dân chúng tự do ra vào. Nhưng những người vào đó và “tạm cư” tại đó phần lớn là người vô gia cư. Họ tự do trải bạt, trải chiếu lên những thảm cỏ xanh mượt và nằm đó suy nghĩ sự đời, suy nghĩ số phận hẩm hiu của mình giữa lòng một xã hội giầu có, văn minh vào hàng thứ nhất trên thế giới. Không ai lưu ý tới họ, kể cả cảnh sát. Tôi cũng đã thấy sự dửng dưng ấy đối với người vô gia cư ở khu Shinjuku. Họ chia nhau mấy ghế đá đặt giọc theo các dẫy phố buôn bán tấp nập. Họ không lưu ý tới khối người ngược xuôi đang lướt qua họ hàng trăm hàng nghìn, mà hàng trăm hàng nghìn người qua lại này, cũng không ai lưu ý tới họ. Nói cho ngay, chính họ cũng không lưu ý gì tới nhau, giữ cho mình một thế giới riêng, như phần đông hành khách trên những chuyến xe lửa liên khu phố hay liên thành phố khắp đất nước.

Người Nhật tự hào về quá khứ của họ. Nên “tour” du lịch nào cũng chủ ý để giới thiệu các di tích lịch sử. Phần đông các di tích này là chùa chiền, đền miếu, lâu đài tướng quân, những người thực sự nắm quyền chính trị tại Nhật Bản xưa, cho tới ngày Minh Trị Thiên Hoàng thu hồi được quyền lực vào cuối thế kỷ 19 và bắt đầu thời kỳ phát triển rực rỡ của Nhật. Họ tự hào có được những tòa dinh thự đồ sộ và cổ kính vào bậc nhất thế giới từ thế kỷ thứ 8, không thua các dinh thự của Pháp, của Anh hay của bất cứ nước nào trên thế giới. Chỉ tiếc một điều: các di tích ấy phần lớn là di sản quí giá của các tôn giáo, Phật Giáo và Thần Đạo, nhưng người Nhật hiện nay ít đi chùa chiền, đền miếu, ngoại trừ vì mục đích du lịch như chúng tôi. Đến nỗi người tour guide của chúng tôi, trong chuyến viếng Chùa Honwanji, đã cho rằng: "đa số người Nhật theo Phật Giáo, nhưng chúng tôi ít đi chùa, vì Phật Giáo là tôn giáo lo chuyện đời sau", chôn cất, như trên đã nhắc. Sự dửng dưng, thờ ơ với tôn giáo này quả là điều đáng ngại, biến Nhật thành một nước tục hóa vào bậc nhất thế giới.

Niềm tự hào về quá khứ của người Nhật cũng được đọc thấy trong cách sắp xếp thực tiễn. Tại các nơi công cộng, kể cả các khách sạn, và trên các chuyến xe lửa shinkansen, bên cạnh các bàn cầu tân tiến, sử dụng hệ thống rửa tự động sau khi ta phóng uế, thường cũng có những bàn cầu cổ điển, trên đó, người phóng uế ngồi theo “kiểu nước lụt”. Chỉ khác các bàn cầu cổ điển tại một số nơi ở Trung Hoa hiện nay, như Thẩm Quyến chẳng hạn, các bàn cầu cổ điển của Nhật có tấm che cho nước tiểu khỏi văng xa, và có cán nắm phía trước mặt, để người phóng uế khỏi mỏi chân và dễ đứng dậy. Dù rất ít người sử dụng loại bàn cầu này, nhưng người Nhật nhất định duy trì chúng, đủ chứng tỏ cái não trạng tự hào về quá khứ của họ.

Vũ Văn An

Đọc nhiều nhất Bản in 29.07.2012. 18:46