Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 11/2014

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Thăm Nhật Bản (2)

§ Vũ Văn An

Đông Kinh

Đến Sài Gòn, du khách bị ngộp vì lượng xe gắn máy và xe đạp thế nào, thì đến Tokyo, họ bị ngộp vì lượng người ngược xuôi khắp ngả như thế. Đông ơi là đông, đông đến phát kinh (Đông Kinh), nhất là tại các nhà ga xe lửa (điện). Tôi vẫn có thói quen đứng lâu tại các ngõ ra vào trong đường hầm các nhà ga để thu hình đoàn người lũ lượt, hối hả, chạy đua với thời gian, mọi nơi, mọi lúc. Lúc nào nhà ga xe lửa cũng đông nghẹt người, kể cả những lúc được kể là không cao điểm. Dĩ nhiên cao điểm có đó, nhưng cao điểm này không hẳn chỉ giới hạn ở khúc 9 giờ sáng tới 5 giờ chiều. Có hôm, mãi 9 giờ 30 đêm, đoàn người hối hả kia vẫn đông như lúc 9 giờ 30 sáng. Hôm nào có được một ghế ngồi trên xe lửa, hôm ấy kể là gặp hên. Nhưng cảnh đông người và trông vui nhộn nhất phải là ngã tư hay ngã năm bên ngoài Ga Shibuya. Đây là khu thời trang của người trẻ và là một trong những khu vực sinh hoạt về đêm. Nó cũng là nơi có Đền Minh Trị Thiên Hoàng, và là nơi diễn ra cuộc đua marathon của thế vận hội Đông Kinh năm 1964. Chúng tôi đáp 3 trạm xe lửa từ Shinjuku tới Shibuya vào lúc chập choạng tối. Vừa ra khỏi nhà ga về phía hai tòa nhà thời trang Shibuya 109, một cho con trai, một cho con gái, đã thấy khối người như nêm cối đang vận chuyển ngược xuôi, một cách khá vội vã. Chúng tôi hòa mình vào đám đông để tới lầu hai của quán cà phê Starbucks. Từ cao nhìn xuống, cảnh tượng của ngã tư hay ngã năm này còn thú vị hơn nữa. Cứ khoảng 5, 6 phút, xe cộ dừng lại để khối người như nêm cối từ khắp ngả trao chỗ cho nhau và sau đó, tản vào những con phố lân cận. Và rồi khối người khác lại tụ họp ở các ngả để 5,6 phút sau, cảnh trao chỗ cho nhau lại diễn ra bất tận. Người ta thường ví ngã tư hay ngã năm này như Times Square ở New York. Nó thường được lồng vào các phim hay chương trình truyền hình nhắc đến Tokyo như Lost in Translation The Fast and the Furious: Tokyo Drift

Bên trong ga Shibuya, người đông không kém. Điều này đủ nói lên sự hữu hiệu của hệ thống xe lửa Nhật nói chung và của thành phố Tokyo nói riêng. Nó lại rẻ tiền và rất đáng tin về độ đúng giờ. Khiến cho việc kinh doanh của JR (Japan Railways) hết sức phồn thịnh, họ làm chủ luôn các nhà ga mênh mông, gồm nhiều đường hầm vào ra khắp ngả với độ dài có khi dài hơn từ quầy “check-in” tới phòng đợi lên máy bay tại phi trường quốc tế Sydney; dọc đó, là các cửa hàng và quán ăn. Những đường hầm vào ra này thuộc nhiều tầng và ngả khác nhau mà nếu không lưu tâm, bạn khó trở về khách sạn một cách nhẹ nhõm được.

Nhật có tất cả 27,268 cây số đường hỏa xa khắp nước, trong đó JR nắm quyền kiểm soát 20,135 cây số vào năm 1996. Số 7,133 cây số còn lại nằm trong tay các công ty tư địa phương. Hệ thống hỏa xa Nhật chuyên chở 395.9 tỉ hành khách trong tài khóa 2006, so với Đức là nước, tuy có hơn 40,000 cây số đường hỏa xa, nhưng chỉ chuyên chở 2.2 tỉ hành khách một năm. Phần đông các hành khách của hỏa xa Nhật du hành trên các chuyến xe tại các khu vực đô thị nối liền các thị trấn với nhau. Nhật cũng là nước đi tiên phong về shinkansen (xe lửa với vận tốc 300 cây số giờ). Vận tốc thực tế của loại xe lửa này có chậm hơn: đáp chuyến shinkansen từ Tokyo tới Kyoto phải mất 2 tiếng đồng hồ cho khoảng đường dài 460 cây số, với một trạm ngừng ngắn tại Nagoya.

Trở lại với vấn đề dân số. Về diện tích, Việt Nam chỉ thua Nhật rất ít: 329,560 cây số vuông so với 377,835 cây số vuông, nhưng về dân số thì thua khá xa: năm 2006, dân số Việt Nam là 84,156,000 người so với dân số Nhật là 127,463,610 người. Với mật độ 323 người trên 1 cây số vuông, dân số Nhật đứng hàng thứ 9 trên thế giới. Tuy nhiên, mật độ trên không đồng nhất ở mọi nơi. Tại các vùng núi và thôn quê của hai đảo Honshu và Hokkaido, dân số khá thưa thớt. Nhưng tại các vùng duyên hải, mật độ này rất cao, nhất là tại các thành phố lớn. Với mật độ 13,000 người một cây số vuông, Tokyo hiện là một trong các thành phố đông dân nhất thế giới. Nếu tính cả các vùng phụ cận, Đại Tokyo hiện có số dân hơn 35 triệu, biến nó thành khu vực đô thị lớn nhất thế giới. Theo tờ The Economist, bất chấp mức giảm dân số đáng lo ngại hiện nay của Nhật, phải nhiều thập niên nữa, Mumbai hay Mexico City mới có thể chiếm được vương miện của Tokyo. Trong khi đó, phạm vi và sự hiệu năng của việc chuyển vận người trong đô thị hàng ngày cho ta thấy quả là một tương phản rõ nét giữa Tokyo và hai thành phố đang cạnh tranh với nó về dân số này.

Trở lại với đường xe điện của Tokyo: mỗi buổi sáng, hệ thống vĩ đại gồm 45 đường xe cao tốc (bullet), đường xe chính và đường xe ngoại ô ngầm dưới đất, cộng với 13 đường xe ngầm khác, đã chuyên chở 4 triệu 100 ngàn hành khách dùng thẻ vào các phường trong trung tâm Tokyo mà thôi, một cách gọn nhẹ và hoàn toàn chính xác.

Trạm Shinjuku, là khu vực có Toà Đô Chính, nơi có Khách Sạn Washington Hotel (chúng tôi ngụ tại khách sạn này, với giá rẻ không ngờ: phòng 3 người, chỉ hơn 200 dollars một đêm), mỗi buổi sáng “nhả” ra 900,000 hành khách để rồi buổi chiều lại “hút” hết số người này đem về các vùng ngoại ô gần đó.

Xe lửa Tokyo, nói chung, được điều hành bằng một tính chuyên nghiệp và tinh thần đồng đội hoàn toàn đồng nhất, khiến cho khuôn thước Thụy Sĩ cũng phải lui vào bóng tối. Chỉ những trận động đất hay tấn công của khủng bố mới gây được gián đoạn (cuộc tấn công bằng hơi độc sarin của giáo phái Aum Shinriko năm 1995 đã sát hại hàng tá hành khách và nhân viên hỏa xa). Một gián đoạn khác đối với tính chuyên nghiệp kia được người Nhật gọi là jinshin jiko (nghĩa đen: tai nạn do xác người). Đó là những người lao vào xe lửa chạy ngược chiều để tự sát do trầm cảm hay xấu hổ vì mất việc làm hoặc nợ nần như chúa chổm. Hiện tượng này không hẳn hoạ hiếm. Người cháu của tôi cho hay: lộ Atsugi hàng năm ít nhất cũng có 15 vụ jinshin jiko xẩy ra. Nhưng cả trong các trường hợp này, hoả xa Nhật cũng chỉ cần 15 phút là giải quyết được sự gián đoạn, sau khi đã trao cho hành khách một thư xin lỗi để trình cho chủ nhân làm bằng chứng đi trễ. Tuy nhiên, gia đình jinshin jiko có thể phải chịu một khoản tiền phạt lên đến 3 triệu yen (34 ngàn dollars) để bồi thường thiệt hại cho công ty hỏa xa.

Ở Osaka, chúng tôi có thấy một yết thị bằng tiếng Anh và một đường dành riêng cho phụ nữ lên xe lửa trong những chuyến xe sớm từ 5 giờ tới 9 giờ sáng. Lý do: để tránh những anh chàng chikan (sàm sỡ). Hàng năm, vào khoảng 2,000 anh chàng này đã bị bắt vì tội sờ mó phụ nữ và nữ sinh. Ngày xưa, phụ nữ thường câm lặng chịu đựng cảnh này, một là vì xấu hổ hai là vì sợ khiếu nại của mình không được lưu ý. Nay thì đã khác, họ sẵn sàng hô lớn “chikan!” nếu cảm thấy bị đe dọa. Tuy nhiên, không thiếu những người đàn ông bị tố cáo sai. Bởi thế, theo người tour guide Nhật Bản, biện pháp của hoả xa thực ra là để bảo vệ đàn ông, chứ không hẳn để bảo vệ phụ nữ.

Đô thị hóa cao

Nhật là nước có mức độ đô thị hóa cao: Ít nhất có khoảng 70% dân số sống trong các thành thị. Lý do của hiện tượng này có hai: kỹ nghệ hóa cao và hiếm đất dành cho nông nghiệp: chỉ chiếm 13% tổng số diện tích Nhật.

Nhưng sản xuất lúa gạo lại hết sức chủ yếu đối với người dân Nhật. Họ đã lợi dụng bất cứ thế đất nào để canh tác, những sườn đồi dốc hơn 20 độ vẫn được san bằng để trồng lúa và các nông phẩm khác. Với khí hậu ôn hòa, lượng mưa thỏa đáng, đất đai mầu mỡ được duy trì và chăm sóc nhiều thế kỷ qua, người Nhật đã có khả năng phát triển được việc thâm canh. Từ Thế Chiến II, các phương pháp tân tiến, gồm cả phân bón thương mãi, thuốc trừ sâu, hạt lai giống, và máy móc (hơn một triệu máy cày) đã được sử dụng rộng rãi khiến cho mùa màng gia tăng đáng kể từ thập niên 1970. Năm 1999, Nhật sản xuất 11.5 triệu tấn gạo, chiếm 93% các loại ngũ cốc trong khi đất dành cho trồng lúa chỉ là 39% tổng số đất trồng trọt được.

Các nông gia Nhật canh tác trên những thửa ruộng tương đối nhỏ, trung bình vào khoảng 6,677 thước vuông. Chính vì thế, trồng lúa được nhiều nông gia coi là việc bán thời gian. Có đến 70% lợi tức của nông trại phát xuất từ các nguồn không phải là nông nghiệp. Tuy thế, đối với người dân Nhật, hình ảnh đồng lúa vẫn luôn là một lôi cuốn khôn nguôi. Đối với họ, nó tượng trưng cho cái phần phi thời gian của phong cảnh, của lịch sử và của văn hóa Nhật trong một xứ sở từng thay đổi chính mình không phải chỉ trong 65 năm kể từ Thế Chiến II, mà cả trong hơn một thế kỷ rưỡi kể từ ngày ra khỏi cảnh tự cô lập với thế giới. Ngay từ lúc thấy đồng quê Nhật từ trên máy bay, người ta đã được ngắm những ruộng lúa xanh um, với đường ranh ngay ngắn chạy dài theo hình chữ nhật. Trên xuyến xe lửa cao tốc từ Tokyo đi Kyoto, chúng tôi thấy: theo chiều dọc, cứ hai ruộng lúa lại có một con đường trải nhựa, và cũng một con đường nhựa khác như thế chạy theo chiều ngang từng hai hay ba thửa ruộng, rộng đủ cho xe “ute” chở nông dân tới chăm sóc lúa. Phải nhận người Nhật đầu tư nhiều vào hạ tầng cơ sở của nông nghiệp và điều đó làm tăng vẻ mỹ miều của đồng lúa. Họ còn tìm thấy ở bông lúa biểu tượng của đức khiêm tốn mà họ rất ưa chuộng: “bông lúa càng nặng, nó càng cúi sâu hơn”.

Người Nhật rất hãnh diện về phẩm chất, vị ngọt và độ giẻo trong gạo của họ. Sau mỗi mùa gặt, hạt lúa của từng nông dân đều được các thanh tra khó tính kiểm soát bằng kính khuếch đại gắn vào mắt. Họ lắc 1,000 hạt xuống một chiếc đĩa và đếm từng hạt bất toàn. Hạt nào dưới độ hai, đều bị coi là không thích hợp để được tiêu dùng. Sự ám ảnh còn sâu xa hơn thế, vì người Nhật còn coi hạt gạo chà bóng như phản ánh chính họ. Trong số các quốc gia trồng lúa ở Á Châu, không nước nào giầu có, có hiệu năng và tân tiến bằng Nhật. Và trong các thứ hạt của Nhật, ít loại hạt nào bắt rễ sâu vào truyền thống và huyền nhiệm hơn hạt gạo.

Theo huyền thoại, gạo được liên kết chặt chẽ với việc tạo thành nước Nhật. Chính Thái Dương Thần Nữ Amaterasu đã ban cho hậu duệ của bà là Jinmu, vị hoàng đế thứ nhất theo huyền thoại, những hạt gạo đầu tiên. Và nhiệm vụ của ông là biến Nhật thành lãnh thổ của lúa gạo. Người dân Nhật tin rằng Hoàng Đế Akihito ngày nay chính là hậu duệ trực tiếp thứ 125 của Jinmu. Điều ấy khiến ông trở thành người trồng lúa tối cao, do đó, hàng năm, ông gặt một vụ lúa nhỏ để chia sẻ với các vị thần theo nghi lễ. Theo lịch sử, hoàng đế Nhật vẫn đóng vai vua tư tế (priest-king). Và trong Thần Đạo, nhiều chức năng tư tế vốn xoay quanh việc trồng lúa và bao gồm nhiều sản phẩm làm bằng gạo như rượu sakê và bánh mochi cũng như chính hạt gạo và bông lúa. Vị hoàng đế trước đây là Hirohito, cho tới lúc lâm trọng bệnh, vẫn chăm sóc một thửa vườn trồng lúa trong hoàng cung, giống các vị tiên đế. Lúc gần qua đời, ông vẫn hỏi thăm về khí hậu và tỏ ra rất lo lắng cho vụ mùa năm đó. Hoàng đế Akihito hiện nay tiếp tục truyền thống ấy, luôn chúc lành cho mùa lúa và nhiều nghi thức đăng quang bao gồm gạo và các sản phẩm bằng gạo của ông đã nhấn mạnh tới sự liên tục của truyền thống kia.

Khía cạnh nghi lễ trên làm nổi bật hai ý niệm vừa có tính tôn giáo vừa có tính xã hội rất đặc trưng của nền văn hóa Nhật: ý niệm wa (hòa) và ý niệm amae (liên thuộc). Theo lịch sử, việc trồng lúa đòi hỏi nhiều nhân lực, thành thử các nông gia buộc phải hợp hay vần công. Ngoài ra, điều quan trọng là lúa Nhật đòi hỏi rất nhiều nước. Cả ngày nay nữa, hai phần ba nguồn nước của Nhật được dành cho các ruộng lúa. Thành thử các nông gia bắt buộc phải chia sẻ các nguồn nước và việc dẫn thủy nhập điền. Sự hợp tác gắn bó ấy đã tạo ra một tinh thần cộng đồng lớn lao nơi người Nhật, khiến họ coi trọng lợi ích công, tránh được nhiều va chạm giữa các gia đình. Sự gắn bó này chính là đặc điểm của nền văn hóa lúa gạo nguyên thủy, đến ngày nay vẫn còn vang dội và tiếp tục lên khuôn ý thức tập thể. Bất kể con số nông gia mỗi ngày một giảm đi, 127 triệu người dân Nhật vẫn cố gắng duy trì sự hòa hợp cộng đồng qua việc hàng ngày tìm cách thích ứng với nhau trong một không gian tương đối chật hẹp.

Mặt khác, ước lệ xã hội cũng nghiêm khắc chế tài những ai không hợp tác qua hình thức murahachibu, theo đó, người vi phạm và con cháu có thể bị khai trừ. Thành ngữ quen thuộc của người Nhật hiện nay “Móng tay nào cao phải bị cắt bớt” có thể phản ảnh thái độ của đồng quê xưa.

Lúa gạo cũng từng giúp lên khuôn lịch sử ở điểm: phần lớn thời Trung Cổ và sau đó, lúa gạo là đơn vị chính của thuế khóa. Các nông gia, vì thế, được coi là các thành viên đáng giá của xã hội, trên các thương gia, chỉ thua các võ sĩ. Thời đó, gạo là một hàng hóa xa xỉ và được các lãnh chúa biến lúa gạo thành đề tài cho nghệ thuật, thẩm mỹ và cả ăn mặc nữa. Các kimono của mệnh phụ phu nhân thế kỷ 17 được trang trí bằng nhiều biểu tượng lúa gạo. Thời Edo (tên cũ của Tokyo), tức khoảng các năm 1600 tới 1870, lúc Nhật tự bế quan toả cảng, là thời nền văn hóa lúa gạo lên cao nhất. Edo và Osaka trở thành các thị trường bán cổ phần lúa gạo (rice-future markets).

Khi nước Nhật bước vào thời cận đại, lúa gạo lại một lần nữa đánh bóng nó với một cảm thức tự tôn. Thời Edo chấm dứt với việc thiếu tướng hải quân Perry của Mỹ đe dọa dùng súng đại bác phá vỡ biên giới, các võ sĩ sumo đã được sử dụng vác các bao gạo nặng để người Mỹ thấy sức mạnh của họ. Nhưng những anh võ sĩ khệ nệ ấy cùng với những bao gạo nặng kia không làm chùn bước những người Mỹ mạnh hơn về súng đạn. Tuy nhiên, nhờ thế, cuộc chạy đua đã bắt đầu. Nhật khuyến khích phụ nữ đi vào xưởng máy bằng cách hứa cấp 3 chén cơm một ngày. Các binh sĩ thời Thế Chiến II được cấp phát hộp cơm với trái mận ở giữa tượng trưng cho mặt trời mọc.

Mãi tới thập niên 1960, mọi người dân Nhật mới được thả dàn ăn cơm trắng. Chính vào thời gian này, phong cảnh đồng ruộng đã thay đổi: các xe ủi biến ruộng lúa thành vuông vức và bằng phẳng hơn; các nông gia biết dùng máy hái, khiến năng xuất gia tăng. Thuốc trừ sâu và phân bón nhân tạo gia tăng sản lượng.

Đó là thời hoàng kim của nông gia, những người có sứ mệnh phải đem nước Nhật trở lại trạng thái tự túc về lúa gạo. Thời ấy trùng hợp với thời phục hưng kỹ nghệ của Nhật, đem máy móc về đồng ruộng. Nhưng muốn có máy móc, con cái nông dân phải trở thành các công nhân ăn lương ở thành phố để đem tiền mặt về cho gia đình. Khổ một điều, người trẻ càng rời bỏ làng mạc, họ càng đắm mình vào cơn sốt tân tiến hóa.

Hơn nữa, lúa gạo càng nhiều, người dân Nhật càng ít ăn gạo hơn. Càng ngày, họ càng thích ăn bánh mì và thịt, là hai thứ phải nhập cảng. Hiện nay, mỗi người dân Nhật tiêu thụ trung bình 60 kí gạo mỗi năm, chỉ bằng nửa số lượng của đầu thập niên 1960. Tự túc về lúa gạo mau chóng trở thành dư thừa về lúa gạo. Do đó, từ thập niên 1970 trở đi chính phủ phải trả tiền để khuyến khích dân bớt trồng lúa đi. Có thể vì thế, mà theo người tour guide của chúng tôi, hiện nay, Nhật chỉ trồng một vụ lúa, từ tháng 5 tới tháng 10. Gạo một vụ mỗi năm, theo anh ta, ngon hơn.

Người nông dân Nhật, do đó, bỗng thấy mình như dư thừa. Các làng nông nghiệp mỗi ngày một thưa thớt hơn. Trường Làng Tochikubo, thuộc vùng Niigata, chẳng hạn, mấy thập niên trước đây, ít ra cũng có tới 120 học sinh, nay chỉ còn lại 11 em đủ cỡ tuổi. Các gia đình trẻ lần lượt rời bỏ làng quê. Dân số càng ngày càng chỉ gồm người cao niên trên 65 tuổi (hiện đang chiếm 40%). Tổ Chức Hợp Tác Và Phát Triển Kinh Tế (OECD) dự đoán trong thập niên tới, 18,775 cộng đồng nông thôn của Nhật sẽ mất hết đặc điểm truyền thống của chúng.

Ông già Sadayoshi Fueki, 101 tuổi, người già nhất của làng Tochikubo, ngồi tính nhẩm con số các gia hộ rời khỏi làng trong thập niên qua: 25 hộ tất cả. Tình thế giống hồi Thế Chiến II khi các thanh niên tới tuổi chiến đấu phải lên đường rời làng. Điều đáng nói là chính những người vốn sinh trưởng tại làng cũng không muốn thấy con cái phải làm việc tại các đồng lúa. Thêm vào đó, vì chính phủ khuyến khích dân làng bớt canh tác, nên trung bình một nông gia chỉ sản xuất chừng 40 bao một mẫu tây, mỗi bao 60 kí thóc. Mỗi bao bán được khoảng 20,000 yen, tương đương với 230 dollars. Như thế thu nhập hàng năm của họ chỉ vào khoảng 800,000 yen, chỉ đủ chi phí máy móc.

Tuy nhiên, gạo vẫn không bị coi thường. Tetsuhiro Yamaguchi, chủ tiệm cơm Kokoromai (Tim Gạo) tại Tokyo vẫn tin rằng “tinh thần của gạo” là một phần trong DNA của người Nhật. Anh ta có đến 10 món cơm trên thực đơn và rất điệu nghệ khi nấu cũng như đãi cơm thực khách: quì mỗi khi mở nắp nồi cơm. Theo anh, “cơm như chiếc phông, như sân khấu. Nó cần tài tử, kịch sĩ”. Anh ta không đơn độc, đa số vẫn coi mầu trắng của cơm như linh hồn, không nên đổ xì dầu vào làm cho dơ. Hôm ăn ở tiệm Sukya lần đầu ở Kyoto, tôi gọi một mâm cơm cá nhân có cá hồi, thịt heo, rau trộn, canh thịt (dĩ nhiên có cả dưa muối gừng non), và một trái trứng gà sống. Không biết phải ăn trái trứng gà sống ra sao, tôi làm theo kiểu Việt Nam: nuốt sống cả lòng trắng lẫn lòng đỏ. Mãi mới thấy người Nhật đập trái trứng vào chén, đổ xì dầu vào, trộn cho đều, sau đó, lấy đũa khóet một lỗ tròn giữa chén cơm, rồi đổ chén trứng vào đó, trộn đều lên, rồi lấy muỗng ăn ngon lành! Chắc anh ta tránh cảnh đổ xì dầu trực tiếp vào cơm!

Gạo tiếp tục phổ thông tại những địa điểm rường cột của cuộc sống hiện đại như các tiệm tạp hóa điều hành suốt 24 tiếng đồng hồ hay các hệ thống quán ăn và nhà hàng. Con số bán của gần 4,000 tiệm 7-Eleven trên khắp nước Nhật cho thấy những bữa cơm ăn vội vẫn trổi vượt hơn các bữa bánh mì ăn vội.

Người Nhật cũng tỏ ra ái quốc thái quá đối với gạo của họ. Yamaguchi không bao giờ nấu cơm cho khách bằng gạo ngoại quốc. Tại sao? Anh ta bảo: “thân thể Nhật tạo thành từ gạo. Nên người Nhật chỉ ăn gạo trồng tại Nhật mà thôi”. Chủ trương này quả đã trở thành chính sách của chính phủ, qua chủ nghĩa bảo hộ ngoại thường đối với nông phẩm Nhật. Người Nhật có thể ta thán việc chính phủ dùng tiền đóng thuế để yểm trợ nông dân, nhưng không phải chỉ có nông dân mới phản đối việc giao thương tự do. Người dân nào cũng chống lại việc nhập cảng gạo, dù nhờ thế, giá gạo sẽ giảm thiểu đáng kể.

Hiện nay, chính phủ Nhật vẫn cấm nhập cảng gạo ngoại trừ dưới hình thức đã biến chế. Hơn nữa vì chính sách bảo hộ như trên đã nói, nên Nhật hiện phải đối đầu với nhiều chống đối của Mỹ. Tokyo lấy lý do để bảo đảm an toàn cho chính sách tự túc về lúa gạo nên phải cấm nhập cảng gạo ngoại quốc. Thêm vào đó, các nhóm nông dân trong nước từ lâu vốn tin rằng việc trồng lúa là một phần của văn hóa Nhật. Người tiêu thụ Nhật cũng quen với giá gạo cao từ lâu rồi vì tỷ lệ chi tiêu về thực phẩm của họ càng ngày càng giảm so với đồng lương càng ngày càng lên cao. Thành thử, không một nhóm tiêu thụ nào ủng hộ việc bãi bỏ cấm nhập cảng gạo. Có người còn cho rằng lý do chính của hiện tượng này là: người tiêu thụ Nhật đòi hỏi “phẩm chất cao” của gạo, trong khi họ coi gạo ngoại quốc có vị không ngon.

Tại hội nghị GATT (Hiệp Ước Tổng Quát Về Thuế Nhập Khẩu Và Giao Thương) họp tại Uruguay năm 1990, Nhật cương quyết từ khước bất cứ nhân nhượng nào nhằm bãi bỏ việc cấm nhập cảng gạo của mình. Chủ trương ấy nay vẫn còn được duy trì, khiến nông dân Mỹ rất bất mãn. Nhưng người Mỹ cũng có lỗi trong cán cân giao thương này, vì họ cứ khư khư duy trì loại gạo hạt dài, mịn, không dính vào nhau, không chịu trồng thứ gạo hạt ngắn, giẻo như nếp rất thích hợp để làm cơm sushi của người Nhật. Người tour guide trên chuyến thăm Nara của chúng tôi không ngần ngại “chê” gạo Thái Lan trước mặt hai cô gái Thái trong chuyến viếng thăm ấy: gạo của các chị không làm sushi được! Điều ấy cũng dễ hiểu vì lúa Nhật cần tới 160 ngày mới gặt được, trong khi lúa Mỹ chỉ cần 130 ngày.

Vũ Văn An

Đọc nhiều nhất Bản in 27.07.2012. 19:21