Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 7/2010

 

Album Mới Nhất

10 Bài Mới Nhất

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Chương III: Giáo Hội (11)

§ Phạm Hồng Lam

HỢP NHẤT KITÔ HỮU

- Vào cuối thế kỉ vừa qua, các nhà thần học của hai Giáo hội tin lành và công giáo đã kí với nhau một “Tuyên ngôn chung về công chính hoá”. Theo đó, ơn công chính không chủ yếu do những việc làm của con người, nhưng trên hết chỉ là do ân huệ của Chúa, dù con người đã có một cuộc sống tốt hay xấu. Đó có phải là một bước tiến thực sự đi tới đại kết hay không? Bên cạnh những điểm giống nhau, ta có phải bằng mọi cách giữ lại những điểm cá biệt về đức tin, để không rơi vào nguy cơ mất bản sắc?

Tiếc rằng ta đã không truyền thông cho mọi người hiểu được đúng nội dung của tuyên ngôn, đơn giản là vì ngày nay chẳng ai còn hiểu “giáo huấn về công chính hoá” nghĩa là gì nữa cả. Thời Luther, đó là một đề tài lớn, làm nôn lòng mọi người, và dĩ nhiên việc bành trướng của Tin lành không chỉ do điểm này mà ra, nhưng còn do chuyện các ông hoàng đã lợi dụng nó để trục lợi cho mình. Ngày nay, câu hỏi trên chẳng còn là đề tài thực tiễn gì nữa trong thế giới tin lành. Vì vậy, công luận chỉ còn hiểu một cách đơn giản là chỉ có ân huệ Chúa mới đáng kể, còn việc lành (cuộc sống) chẳng quan trọng gì cả. Phát biểu như vậy là không những giản tiện hoá quan điểm của Luther, mà còn là không hiểu gì về những vấn nạn con người thật sự đặt ra cho Ki-tô giáo ngày hôm nay. Hơn nữa, 500 năm qua, kể từ Cải cách, cả thế giới ki-tô giáo đã có được những kinh nghiệm mới và đã trải qua một cuộc đổi thay thời đại. Ở đây tôi không thể trình bày hết mọi chuyện được. Chỉ cần điều này: Trước hết, bản tuyên ngôn chung xác nhận: khởi đầu của một cuộc sống với Chúa quả là do chính Chúa định đặt. Chúng ta không thể tự mình vươn tới Chúa được, nhưng chỉ có Ngài mới có thể đưa ta tới Ngài mà thôi. Đức tin là bước khởi đầu đưa con người tới đường công chính. Và đức tin lại là dấu chỉ của sáng kiến của Chúa, sáng kiến này ta không tự mình tạo nên và ta không xứng đáng để hưởng nó.

Trong quá trình hình thành tuyên ngôn, Giáo hội công giáo coi trọng điểm này: một mặt hoàn toàn công nhận sáng kiến khởi đầu đó của Chúa, song mặt khác cũng công nhận là Ngài đã thực hiện một cái gì đó trong tôi. Ngài nhận tôi vào, giao cho tôi trách nhiệm, để tôi cùng cộng tác và tạo nên hoa trái – và bản án cuối cùng sẽ được căn cứ trên nỗ lực đồng trách nhiệm của tôi. Tiếc thay cột trụ thứ hai này đã không được công luận chú í đến.

Nói cách khác: Chúa không cần có những kẻ nô lệ, để Ngài cầm tay lôi vào đường công chính và chính Ngài cũng chẳng quan tâm gì tới họ. Nhưng Ngài muốn làm cho con người trở thành đích thực là những bạn đồng hành, những chủ thể thật sự, những người tự có khả năng dùng quà tặng khởi đầu của Ngài để cùng tác động và cùng mang trách nhiệm về tác động đó. Tôi muốn nói đó là hai cột trụ chứa đựng trong tuyên ngôn. Trong đó, kinh nghiệm của Luther rất phù hợp với Tin Mừng đã được đưa vào. Nhưng đồng thời cũng có cả điều mà Giáo hội công giáo xưa nay vẫn luôn rao giảng. Cả hai tạo nên sự cân đối.

- Giáo hội cầu nguyện cho hiệp nhất ki-tô hữu. Nhưng ai hiệp nhất với ai?

Công thức mà các nhà đại kết lớn đã tìm ra, là chúng ta cứ đi tới. Chúng ta không nhất thiết muốn có những nối kết cụ thể, nhưng hi vọng ở đâu được Chúa đánh thức đức tin, ở đó Ngài sẽ đưa về một mối và ở đó có một Giáo hội duy nhất. Là người công giáo, chúng ta xác tín rằng Giáo hội duy nhất đó có khuôn hình nền tảng nơi Giáo hội công giáo, nhưng cả Giáo hội này vẫn bước tới tương lai và vẫn để cho Chúa giáo dục và chăn dắt. Như vậy, chúng ta không đề ra một kiểu mẫu nối kết nào cả, mà đơn giản cứ tiếp tục bước đi trong niềm tin dưới sự hướng dẫn của Chúa – là đấng biết con đường sẽ đưa tới đâu. Và chúng ta tin tưởng vào Ngài.

- Đã có những suy nghĩ mạnh bạo về mặt đại kết?

Không, vì chuyện kết hợp không thể là một màn diễn chính trị, hay do thanh gươm dí vào cổ mà thành được. Cũng không do giáo chủ công giáo hay Hội đồng tôn giáo thế giới muốn là được. Mà đó là những diễn tiến sống động. Đức tin là một cái gì sống động và cắm rễ sâu trong mỗi người và nó mang trách nhiệm trước mặt Chúa. Giáo chủ không phải là ông vua độc tài hay chuyên chế muốn làm gì thì làm, nhưng nhiệm vụ của ngài là phục vụ sự vâng lời đức tin.

Trong đức tin, người ta không thể ra lệnh cho ai phải soạn ra những dự án đại kết như thế nào, hoặc bảo rằng, thôi bây giờ Giáo hội anh bỏ bớt đi một chút, phía tôi thêm vô một chút, không thể có chuyện như vậy được. Hoặc là ta tin vào Chúa – như vậy thì không thể nói được ngày mai ta sẽ làm khác đi. Hoặc là ta coi mình có quyền quyết định – như thế thì mọi chuyện sẽ vô giá trị. Không, đức tin là cái gì sống, trong đức tin chúng ta tín thác vào Chúa, và Ngài sẽ không vì mưu đồ chính trị mà phải đi tới một công thức thoả hiệp.

Chúng ta chỉ có thể khiêm tốn nỗ lực cơ bản hoá đức tin, nghĩa là nhận ra cái gì là nền tảng nơi nó - cái đó không do ta làm ra nhưng ta đã nhận được từ Chúa-, và từ tâm điểm cái nền tảng đức tin đó ta mở ra và để Chúa, chỉ một mình Chúa mà thôi, dẫn đi tiếp.

NHỮNG NGUY CƠ MỚI CHO ĐỨC TIN

- Liên quan tới việc Ki-tô giáo mất ảnh hưởng trong thế giới tục hoá, ngài đã nói tới một nguy cơ đe doạ đức tin rất tinh tế mà tới nay chẳng được mấy ai quan tâm, đó là nền độc tài dư luận. Nền độc tài này chỉ chấp nhận một Ki-tô giáo dễ bảo, chịu thích nghi, không góc cạnh, trong lúc những người sống đức tin thực sự thì bị nó đóng ấn là “bảo căn”, “cứng đầu”.

Tôi tin đó là một mối nguy thực sự. Người ta không truy nã đàn áp ki-tô hữu một cách công khai, làm như vậy thì cổ hũ và quá lỗi thời. Không, người ta tỏ ra rất khoan dung, hoàn toàn cởi mở. Nhưng nơi nào có đức tin hiện diện đích thực, nơi đó họ lại loại trừ và kết án là bảo căn.

Tôi nghĩ có thể xẩy ra trường hợp buộc mình phải chống lại một nền độc tài xem ra khoan dung, nhưng nó lại đồng thời triệt tiêu đức tin bằng cách kết án đức tin thiếu khoan dung. Nghĩa là có một bất khoan dung của những “người khoan dung”. Đức tin không đi tìm mâu thuẫn, nó tìm không gian tự do và nơi chịu đựng nhau. Nhưng nó không thể để cho những công thức tiêu chuẩn của tân tiến sai khiến. Đức tin có một nhiệm vụ cao hơn là trung thành với Chúa và phải sẵn sàng chấp nhận thứ mâu thuẫn mới này.

PHỤC HƯNG TÂM LINH

- Ki-tô hữu trẻ đi tìm một tôn giáo đậm cảm giác. Họ muốn quay trở lại thủa ban đầu của Giáo hội, trở lại cội nguồn của mầu nhiệm, và đòi hỏi phải có một cuộc đổi mới tâm linh, hầu làm sống lại một cách mới mẻ cả những mặt lưu truyền đã bị bỏ quên của Ki-tô giáo. Giáo hội có cần một cú xốc để tạo lại tiếng nói cho các biểu tượng câm lặng của mình không?

Hẳn nhiên Giáo hội cần những cuộc lên đường tâm linh sống động. Trong mọi thời, Giáo hội trân quý tất cả những hình thức làm dấy lên đam mê mới cho đức tin; những phương thức đó không do chính trị khởi xướng, nhưng phải xuất phát từ lòng Giáo hội. Như ta đã thấy, cuộc đổi mới trong thế kỉ 16 không đến từ các định chế, nhưng đã do những con người được cảm hoá và họ đã tạo nên những phong trào mới. Ngày nay, ta cũng nhận ra cuộc đổi mới đó trong nhiều hình thái đa dạng – mà phong trào đặc sủng là một trong những thí dụ. Đây có thể nói là một an ủi mà Chúa đã tặng cho ta; qua các phong trào đó, Chúa chứng tỏ cho ta thấy Thánh Linh vẫn hiện diện và có sức mạnh.

Trên thực tế, Công giáo không bao giờ chỉ được hoạch định và quản trị bằng định chế hay bằng đầu óc hàn lâm. Mà nó luôn hiện diện như là một món quà, như một sinh lực tâm linh. Và món quà đó rất đa dạng. Không có Công giáo đồng phục. Trong Công giáo có đủ kiểu: Focolare, Schönstatt, Cursillo, Thánh linh. v.v. cũng như bên cạnh Phan-sinh còn có Biển-đức, Đa-minh… Trong một chung cư mỗi gia đình sống đạo mỗi khác. Và cái kho tàng trăm hoa năng động đó ta nên duy trì.

Ngày nay, có một chiều hướng đòi đồng phục nơi các đại biểu tân tiến nhất của Công giáo. Họ ngờ vực và đóng ấn phản động lên những gì sinh động và mới, những gì không tuân theo khuôn mẫu hàn lâm hoặc không theo quyết định của các uỷ ban hay của các kì họp hội đồng. Dĩ nhiên luôn có những nguy cơ, những sai lầm, những bất cập v.v. Ông làm vườn Giáo hội phải luôn cảnh tỉnh sửa sai, nhưng đồng thời cũng phải chấp nhận cái mới sống động đó như là một quà tặng.

Tôi nghĩ, cần có một khoan dung lớn trong nội tình Giáo hội, để chấp nhận, coi lối sống đa dạng đó như là một cái gì thuộc độ lớn công giáo – để rồi không đơn giản loại bỏ nó, cho dù nó không hợp với khẩu vị mình. Chẳng hạn ở Đức, khi nghe nói đến tu hội “Opus Dei”, hội “Hướng đạo âu châu” hay một cái gì khác, người ta phải tỏ ra bực bội, là vì nếu không thì mình chẳng còn được xem là một tín hữu công giáo tốt nữa! Có những cái không hợp với khẩu vị “bình thường”, hay nói khác đi, không hợp với khẩu vị người “Đức”. Ở đây, mình cần phải bao dung để chấp nhận cái độ lớn công giáo kia.

Hẳn nhiên, những người khác cũng phải sẵn sàng bỏ đi những cá biệt hoặc nguy cơ đóng kín của mình để phục vụ cho toàn thể. Sự hiện diện của ghế giáo chủ hay giám mục cũng là để duy trì cái độ lớn kia, đồng thời để ngăn chặn những đóng kín đưa tới kết bè lập phái và đưa chúng trở về hoà nhập với toàn thể.

ĐIỀU CÓ THẬT.

- Thánh An-tịnh chăm lo cho gia sản quý nhất của Giáo hội, đó là những kẻ nghèo, người goá bụa, trẻ mồ côi. Cuộc sống thay đổi của ngài sau khi vào Ki-tô giáo đã khiến cho những lời ngài nói trở nên khả tín, xác thực và nẩy lửa. Phải chăng gương sống thật của ki-tô hữu có nhiều giá trị trên xã hội hơn là những bài giảng xoa dầu cù là hay những cuộc nghị luận hàn lâm?

Dĩ nhiên đúng là như thế, và đội ơn Chúa, cũng đã có những tấm gương đó. Ở đây tôi nghĩ tới, chẳng hạn, hồng i O´Connor ở Nữu-ước đã lập một hội dòng mới để lo cho những người bệnh liệt kháng và chính ngài cũng bỏ ra mỗi tuần một ngày cho công tác này. Tôi cũng nghĩ tới “các chị nhân ái” (Sister of Mercy), một dòng tu mới tại Hoa-kì, chuyên lo việc giáo dục và nhiều công tác phục vụ chữa bệnh khác. Hoặc mẹ Tê-rê-xa ở Calcutta với tu hội của mẹ. Đội ơn Chúa đã có biết bao tấm gương sống niềm tin một cách âm thầm triệt để chứng minh cho cái có thật đó, và những chứng tá cũng đã mang hiệu quả.

- Nhà văn người Pháp Georges Bernanos có lần viết: “Thánh là một cuộc phiêu lưu, ngay cả là cuộc phiêu lưu duy nhất có thể có. Có hiểu được điều đó, thì mới đi vào được trái tim đức tin công giáo”.

Trong đức tin, chúng ta nhìn nhận chính Giáo hội là “thánh”. Điều này không có nghĩa tất cả mọi người trong Giáo hội đều là thánh. Cũng không phải trong Giáo hội cái gì cũng tốt cả, nhưng có nghĩa là Giáo hội đã được Chúa chạm tới và trong đó luôn có thánh xuất hiện. Điều quan trọng ở đây là ta nên quan niệm thánh một cách rộng rãi, bởi vì thánh có muôn hình vạn trạng. Cứ xem những vị đã xuất hiện trước mắt ta, thì sẽ thấy có bao nhiêu là cách thức và loại hình nên thánh. Từ một bác sĩ xả thân phục vụ cho tới những học giả, những người bình thường, những nữ tu và giáo dân, tất cả họ đều sống trong thế giới này.

Cũng có những vị thánh âm thầm, điều này luôn quan trọng đối với tôi, họ là những người bình thường mà tôi đã làm quen lúc còn nhỏ, những cụ già nông dân hiền từ và những bà mẹ hiền lành quên mình cho con cái, cho gia đình, cho Giáo hội, và cũng luôn hi sinh cho những người khác trong thôn xóm. Không nhất thiết phải là một cái gì anh hùng, nhưng cũng có thể ngay cả cái thật tầm thường, cái khiêm tốn.

Và dĩ nhiên cũng luôn có những khuôn mặt gây rúng động. Ở Í này có linh mục Pi-ô nổi tiếng kinh khủng, nghe nói ngài đồng thời cũng là một linh mục giải tội rất nóng tính. Xưng tội với ngài chẳng thoải mái lắm, nhưng qua khuôn dáng và cung cách ngài, con người cảm thấy như chính Chúa đang nói với họ thật, và nếu cần, thì Chúa cũng cho họ ít roi. Roi vọt nhiều khi không phải là vô bổ. Trong Tin Mừng, ta thấy đức Giê-su tỏ ra vừa cứng rắn, vừa rất hiền từ và hay giúp đỡ. Hình ảnh đó, trong thế kỉ này, lại hiện thân qua linh mục Pi-ô. Như vậy, qua những gì hiện ra trước mắt ta, ta biết rằng thánh là có thật và nó giúp ta những lực sống mới. Có những vị thánh khiêm nhường, đơn sơ, không ai viết ra, nhưng quả thật vô cùng quan trọng cho đời sống Giáo hội.

- Luôn có những chuyện không thể lường trước được, bất ngờ xẩy đến làm xoay chuyển cuộc sống. Đặc biệt dễ thấy là sự phục hưng phong trào sùng kính mẹ Maria trên khắp thế giới hiện nay. Ngài có nghĩ rằng mẹ Maria sẽ là cửa ngõ cho hàng triệu người tìm đến Giáo hội không?

Ta chẳng bao giờ tiên đoán được tình hình sẽ diễn biến như thế nào. Ai chỉ biết ngồi đó dùng thống kê về tình trạng hiện tại ở Âu châu mà hàn lâm ngoại suy về sự sụp đổ của Giáo hội, người đó chẳng hiểu gì về sự bất lường của lịch sử con người, nói chung – và về lực khởi xướng của Chúa có thể tới bất cứ lúc nào, nói riêng.

Rõ ràng có những đợt sóng mới ít ai ngờ về việc sùng kính đức Mẹ trên thế giới. Nhưng trong đó cũng có một số hình thức hiện ra và sứ điệp giả. Phải rất thận trọng, đừng quá dễ dãi tin ngay đó là những phép lạ.

Nhưng trái lại, cũng đừng quá cứng lòng khiến thực tế có thật không thấm nhập được vào mình. Hãy nghĩ về biến cố ở Lộ-đức, lúc đầu người ta cứ bảo là cô bé kia bày chuyện. Nhưng rồi chính mẹ Maria đã thực sự có ở đó. Chắc chắn chẳng phải vô tình mà ngày nay rất đông người quay trở về với Mẹ, qua đó Ki-tô giáo lại trở nên thân thương và gần gũi với ta, đồng thời nhờ Mẹ mà ta tìm ra được lối vào.

Ta đã nói chuyện về Nam Mĩ, nhờ Guadeloupe mà thổ dân ở đó đã có thể thấy được đạo không phải là của thực dân, song là của Mẹ nhân từ và của Thiên Chúa đã khổ đau vì chúng ta – và Mẹ thật đã trở thành cửa ngõ dẫn tới đức Ki-tô -, cho tới nay người ta vẫn tin như thế. Cả ngày nay, không riêng gì Nam Mĩ, nhờ qua Mẹ mà một nhân loại kiệt sức vì thế giới kĩ thuật lạnh lẽo và một Ki-tô giáo duy lí và mỏi mệt có thể tìm gặp lại được chính đức Ki-tô một cách sống động. Ta có quyền mạnh dạn bước vào tương lai với niềm vững tin đó.

- Giáo chủ Gio-an XXIII đã có thể nói: “Tôi thuộc về một Giáo hội sống động và trẻ trung, Giáo hội đó đang tiếp tục dẫn công trình của mình đi vào tương lai không chút âu lo”. Hồng i Joseph Ratzinger cũng có thể nói được câu đó?

Có! Tôi có thể vui vẻ nói lên điều đó. Tôi thấy có nhiều cành cây Giáo hội già cội và đang chết dần, chúng chậm rãi lìa thân, lúc lặng lẽ, lúc ồn ào. Nhưng trên hết tôi thấy sự trẻ trung của Giáo hội. Tôi đã được gặp bao nhiêu người trẻ, từ khắp mọi miền thế giới, tôi đã được gặp bao nhiêu phong trào mới, thấy được đức tin hân hoan bừng lên trong đó. Và tất cả những kẻ phê bình chỉ trích Giáo hội – họ luôn có lí của họ - đã chẳng đánh đổ được nỗi hân hoan đó, vì niềm vui nơi Chúa Ki-tô lớn hơn mọi phê bình chỉ trích. Vì vậy, tôi có được một nơi chốn, ở đó tuy có nhiều nỗ lực khó khăn, nhưng lại có nhiều gặp gỡ cho thấy sự trẻ trung của Giáo hội hơn. Và chúng ta được phép yên tâm tiến vào tương lai, vì Chúa hẳn sẽ không bỏ rơi tương lai.

(Hết)

Phạm Hồng Lam

Tr Trước | Mục Lục | Tr Sau

Đọc nhiều nhất Bản in 15.09.2009. 12:18