Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 11/2014

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Chôn nó đi phần 3: Làm sao chôn nó đây?

§ Bảo Giang

(tiếp phần 2)

Có một tiền đề mà tôi cho rằng sẽ không có ai phủ nhận là: Hầu hết mọi ngươi Việt Nam, không phân biệt là đã sinh sống ở ngoải bắc, chịu sự tuyên truyền nhồi sọ của cộng sản trong hơn nửa thế kỷ qua, hay dồng bào sinh sống tại miền nam trước 1975, và hầu như tất cả các học sinh, sinh viên đã được sinh ra ở Việt Nam sau ngày 30-4-1975 đều có chung một nhận định rằng: Cuộc chiến tại Việt Nam từ 1945 đến 30- 4-1975 là một cuộc chiến tương tàn do Hồ chí Minh chủ trương để đưa Việt Nam vào qũy đạo nô lệ cho cộng sản quốc tế, mà điển hình là làm cánh tay, chân cho hệ bành trướng Bắc Kinh ( có thể Hồ chí Minh là ngưòi tàu chăng?). Nghĩa là, cuộc chiến đó dứt khoát không phải là cuộc chiến dành Độc Lập và Giải Phóng dân tộc như Cộng sản và các hệ loa tuyên truyền của chúng đã rêu rao trong gần một thế kỷ qua.

Sở dĩ có tiền đề như kết luận này là vì không có một sự thật nào mà không được phơi bày trước ánh nắng của Công Lý. Và người người đều chấp nhận thực tế công lý. Trừ ra những kẻ gỉan dối nên phải tìm cách bưng bít, bịp bợm. Để làm sáng tỏ cho tiền đề này, tôi xin trích ra một vài số liệu trích dẫn từ lịch sử để các bạn trẻ có thêm thời giớ nhận định về bản chất của một cuộc chiến bán nước, mà từ đó đã đưa dân ta vào vòng nô lệ của cộng sản Tàu do Hồ chí Minh chủ trương:

- 1. Sau khi quân Nhật lật đổ chế độ thực dân Pháp, ngày 11-3-1945, Cơ Mật Viện triều Nguyễn đã tuyên bố “Hủy bỏ Hiệp ước 1884 qui định Pháp bảo hộ Việt Nam và khôi phục chủ quyền cuả một nước Việt Nam độc lập”.

- Ngày 12-3-1945, Cao Miên tuyên bố độc lập và ngày 15-4-1945, Lào tuyên bố độc lập.

- Nhận chỉ thị của Cộng Sản quốc tế, dùng phương cách đấu tranh võ trang gọi là bạo lực cách mạng để lật đổ chế độ quốc gia Việt Nam, ngày 19 tháng 8 năm 1945, đảng Cộng Sản Việt Nam núp dưới danh nghĩa Việt Minh cướp chính quyền.

- Ngày 2-9-1945, HCM đọc tuyên ngôn thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Ngày 6-3-1946, HCM ký thỏa hiệp sơ bộ với thực dân Pháp, đồng ý để quân Pháp ra Bắc thay thế quân đội Trung Hoa giải giới quân Nhật. Lợi dụng cơ hội này, HCM tìm cách tìm cách tiêu diệt các đảng phái quốc gia.

- Cuộc đi đêm với thực dân Pháp bất thành, ngày 19-12-1946, HCM mở loa kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”, cuộc chiến tranh Việt Minh và Pháp bắt đầu.

- Tháng 12,1947, Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long được ký kết giữa Cao Ủy Pháp Bollaert với Bảo Đại để thừa nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam. Theo Hiệp Ước này Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam và Việt Nam được tự do tiến hành thủ tục thực hiện thống nhất quốc gia chiếu theo nguyên tắc Dân Tộc Tự Quyết.

- Ngày 8-3-1949, Tổng Thống Pháp, nhân danh Chủ Tịch Liên Hiệp Pháp cùng Bảo Đại ký Hiệp Định Elysée công Nhận Việt Nam Thống Nhất và Độc Lập nằm trong Liên Hiệp Pháp.

- Ngày 23-4-1949 Quốc Hội Nam Kỳ(ở miền nam theo quy chế thuộc địa của Pháp) đã giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị và sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất.( trích lược sủ Vệt Nam)

Đó là những sự kiện của lịch sử. Nhưng dòng đời lại bị uốn nắn theo những mưu đồ bất chính của tập đoàn cộng sản với những cái loa tuyên truyền bất lương của nó.

3. Chuyện theo voi hít bã mía.

Từ bé, tôi đã nghe ba tôi nói về chuyện theo voi hít bã mía. Đây là câu chuyện có tính ngụ ngôn, mang ý mỉa mai những kẻ nào đó, vô công rỗi nghề, vô năng lực, hay vì miếng cơm manh áo, vì chút xum xoe với đời hơn là sự tự chủ bình thường của một nhân phẩm mà một ngưòi bình thường vốn dĩ phải có, chạy theo sau “ con voi”, thổi kèn đánh trống, khua chiêng, múa gậy, hò hét cho người ta biết đến mình. Hay là nói đến những “ngưởi như trẻ ” ngô nghê, không biết điều liêm sỉ, dựa hơi “voi” làm trò, hò hét cho người đời cười chê mà lại vênh vang tự đắc, lên đời.

- Hít bã mía là gì hả ba? Cái bã mía có ăn được đâu?
- “Hít” là nói vậy thôi! Thực tế là dựa hơi để kiếm ăn. Bởi vì cái mồm và cái vòi voi dài và rộng. Khi nó dùng vòi cuốn bó mía cho vào mồm thì thế nào cũng có những lóng mía bị gẫy và rơi xuống đất. Con voi không thể dùng cái vòi dài, cái miệng rộng để... nhặt lại lóng mía nhỏ trên mặt đất. Những kẻ hò hét theo nó tranh nhau nhặt lấy mà ăn!
- Nó dính đầy bụi đất và cả... phân voi thì ăn làm sao được hả ba!
- Ăn tất tần tật. Vậy mới là câu chuyện răn đời, mỉa mai cảnh “ theo voi hít bả mía” chứ! Tuy nói thế, nhưng cái cảnh ăn tất tần tật kia cũng không đáng xấu hổ bắng cái hành động nghênh ngang, vô sỉ của kẻ theo voi. Đã không biết phân biệt hay dở, lại tưởng mình là thần, thánh, khoa tay múa chân loè bịp thiên hạ. Chuyện như thế thì đẹp tốt gì!

Câu chuyện ba tôi kể theo cách diễn của người nhà nông, không biết có đúng cách lắm hay không? Nếu không, xin độc gỉa thông cảm cho. Bởi vì, một ngưòi làm nghề “ bán lưng cho trời, bán mặt cho đất”, quanh năm suốt tháng “đánh vật” với mảnh vườn, tìm đâu ra chữ để văn hoa lý luận? Có khi cũng chẳng nhìn thấy cảnh diễn “theo voi hít bã mía” là như thế nào, chỉ nghe qua câu chuyện như thế với lối xóm và kể lại cho đàn con cùng nghe. Nghe và hiểu được tý nào thì hay tý nấy. Phần tôi, khi hết tiểu học tôi có nhiều dịp nhìn xem những con voi ở trong Sở Thú ở Sài Gòn trước năm 1975 cuốn những lóng mía cho vào mồm. Nó ăn cả bã, cũng có lóng lọt ra ngoài. Nhưng ngưòi trông coi nó, không phải là ngưòi “ theo voi” nên không lượm lấy mà “hít”. Thế đấy, câu chuyện tưởng chừng đơn giản, không ngờ, nó cứ bám theo tôi mãi!

Đến khi biết đọc sách, tôi lờ mờ nhìn ra nó. Đó là bộ dạng của những kẻ “theo voi” nổi đình nổi đám trong những cuộc đấu tố ở ngoài bắc vào những năm 1954-58. Thành phần này không phân biệt là có học, hay không có học. Tử tế hay côn đồ. Tất cả đều bị thúc ép hay tự nguyện, được tổ chức theo từng đội, từng toán. Được học tập, giáo dục kỹ lưỡng theo khuôn mẫu đạo đức HCM, một thứ đạo đức đang phá hủy tận gốc rễ nền đạo lý của dân tộc Việt, đã diễn xuất vai trò của mình một cách rất “ anh dũng”, “ hoành tráng” trong cuộc khủng bố, đấu tố hay diệt khẩu ngưòi dân Việt Nam theo lệnh của cộng sản. Những thành phần này cũng được đặt cho những cái tên rất đặc biệt, lừng lẫy theo thời thế như ” quần chúng nhân dân tự phát ” Dân phòng, dân phố, dân quân, đội đấu...”. Khi vào việc, chúng gậy gộc, hò hét, không ai mà không thấy lạnh người. Ở một cấp trật cao hơn là “ hội văn nghệ sỹ giải phóng, hội văn nghệ sỹ yêu nước, hội trí thức yêu nước”. Đây là thành phần, không chỉ theo voi để hít bã mía. Trái lại vì miếng mía, vì thiếu phẩm chất đạo đức làm người? Họ đã góp sức, tạo cho cộng sản thành hung thần. Thổi lửa, thúc đám “dân quân , quần chúng nhân dân tự phát” thêm điên, thêm cuồng say giết người để giúp nhà nước CS chế ngự toàn bộ cuộc sống của dân tộc ta, và tạo nên mọi thống khổ cho ngưòi dân trong suốt 67 năm qua.

Nếu không có những thành phần này chắc chắn cuộc đấu tố của HCM không thể thành công rực rỡ với số lượng lớn nhân dân bị giết hại như thế. Nhưng, còn tệ hại hơn cái chết của 170000 ngàn đồng bào vô tội kia là việc những thành phần múa dao, thồi kèn, đánh trống một cách bất lương đã tạo ra muôn nỗi hận thù sâu sắc trong mọi tầng lớp nhân dân. Không một nơi nào có mặt chúng mà không để lại những hận thù. Cho đến hôm nay, những “ tổ chức” theo voi này vẫn không ngừng phát triển, ngưng hoạt động. Trái lại, nó không hề rời nhau lấy nửa bước. Kẻ đầu dường xó chợ được nuôi ăn, vẫn gậy gộc dáo mác đấu tố đồng loại. Kẻ “ cầm bút” thì thổi kèn hỗ trợ cho đám côn đồ bất nhân kia làm càn, để voi dày xéo quê hương. Tệ hơn thế, rước voi về dày mả tổ. Đạp đổ nền luân lý đạo đức của xã hội và gây thống khổ cho muôn dân.

Lúc trước, tôi cho là câu chuyện này sẽ ngừng lại ở bên kia kiên giới. Không, cái tổ chức thổi kèn kia còn lây lan vào miền nam và di tản ra cả ở hải ngoại nữa. Có kẻ đã chạy trốn khỏi thiên đường cộng sản, bỏ bắc vào nam, hay thoát ra hải ngoại vẫn thổi kèn nâng bi cái đạo đức HCM lên tận đỉnh. Có kẻ đã mất cả danh lợi ở miền nam, bỏ của chạy lấy ngưòi. Ở ngoài lại sợ ngưòi ta quên tên quên tuổi nên lại họp nhau lại thổi kèn, nâng kiến nghị cho cộng sản, bỏ mặc cả cái danh phận và cái chữ tỵ nạn của chính mình và làm ô nhục lây cho những ngưòi tỵ nạn khác. Ấy là chưa kể đến vết nứt chia rẻ trong cộng đồng tỵ nan không thể liền da, nếu như không muốn nói lại xé toác ra vì những thành phần này. Rồi những thành phần bất hảo trong các tổ chức “ quần chúng nhân dân tự phát, dân phòng dân phố hay các loại hội gọi là yêu nước” cũng thế, được mùa, chúng tràn qua bờ Bến Hải, tác yêu tác quái ở miền nam từ sau 1975 đến nay. Tuy nhiên, nó không có đất diễn ở hải ngoại, hay trong các quốc gia tôn trọng luật pháp, bảo vệ nhân phẩm con người.

Thân phận “ trí thức” theo voi thế nào? Điển hình, một Nguyễn mạnh Tường đã cuốn đau thương một đời vào mình như chính ông tự thuật. “Tôi đã là kẻ lữ hành trong chuyến đi qua sa mạc kéo dài từ năm 1958 đến năm 1990, hơn ba mươi năm dài đằng đẵng! Chìm trong vùng cát của sa mạc tuyệt vọng làm cạn khô dòng nước mắt, tôi đã lê tấm thân bị tra tấn bởi thiếu thốn, cô đơn với quả tim rướm máu bởi nỗi buồn chua cay và vị đắng của mật!”. Bấy nhiêu đủ thấy sự hối hận đã dày vò ông như thế nào. Nhưng tiếc rằng ông Nguyễn hiến Lê đã không ở lại ngoài bắc để thấy được thiên đường cộng sản cư xử với ông tốt hơn chế độ tư bản. Ông lại ngồi ở giữa lòng phố Sài Gòn, vui hưỏng đủ mọi êm ấm trong dời sống, kể cả sự tôn quý của xã hội bao bọc, rối đưa ra một kết luận chả “đắc nhân tâm” lấy một tý nào, nếu như không muốn nói là thất nhân tâm tận cùng: “ tôi vẫn tin rằng chế độ cộng sản công bằng hơn chế độ tư bản…, cộng sản Bắc Việt không thể nào tàn nhẫn như Nga và Trung Hoa được! ” (Hồi Ký – Tập 3, trang 20, nhà xuất bản Văn Nghệ). Ông đã về với “bác” vào ngày 22-12-1984. Nhớ lại, khi còn là học sinh, sinh viên, tôi rất khâm phục những bồ sách của ông. Nhưng sau khi cộng sản tràn vào miền nam và nhất là, sau khi đọc được những dòng chữ này, tôi thấy hình ảnh một người có hai mặt. Ông ngồi trên nhung lụa của miền nam, và không quên cho những người dân khốn khổ kia một cái đạp để đẹp lòng “bác”! Nghe nói sau này ông hối hận và cũng tố cộng, nhưng trong sách của ông đến nay thì không thấy ghi lại.

Nhiễu nhương, tệ hại hơn thế, chuyện “theo voi” còn lấn vào trong các tổ chức của tôn giáo, để kẻ thì lợi dụng chiêc áo chùng thâm được tự do đi lại ở miền nam, mang súng đạn vào nhà thờ và tổ chức giết ngưòi ( Phan khắc Từ), Kẻ lợi dụng được ưu ái khi mặc áo cà sa ( Phạm văn Bồng) thì đưa bom đạn và cán cộng ém ở trong chùa chờ lệnh hành động. Dĩ nhiên, không ai trách những người này khi họ có mưu đồ và tham vọng chính trị cá nhân hay phe nhóm. Nhưng có lẽ nhiều ngưòi đồng ý là cái hành động ấy nó hèn hèn và đáng khinh bỉ lắm. Bởi vì, họ không dám tự mình công khai như một dân thường theo cộng, ôm mìn đặt dưới chân cầu như đặc công, mà phải mượn cái áo của tôn giáo để che thân và làm những việc vô nhân, bất đạo, hại người hại Đạo như thế vì chút mưu đồ riêng tư?

Rồi những hội “thổi kèn” như “công gíao yêu nước, Phật gíao yêu nước” còn là nỗi đau cho dân tộc, hơn là tai họa riêng cho tôn giáo phải gánh chịu. Bởi vì đến nay nó vẫn chưa hết. Trái lại, còn có nhiều kẻ điên khùng vô liêm sỉ hơn ( tôi đóan tập thể này gồm những đảng viên cộng sản, trá hình xâm nhập vào tôn giáo với mưu đồ phá hoại tôn giáo theo cái thuyết vô tôn giáo của cộng sản hơn là một ngưòi chân tu vì đạo) vẫn ôm lấy cái màu áo tu của các tôn giáo, nhưng lại thổi kèn, toan tính lăng nhục, phỉ báng tôn giáo bắng cách đưa cái đầu lâu của HCM, một tội phạm, “ là đao phủ số 1, là tội phạm số 1, chịu trách nhiệm về cái chết thê thảm của hàng triệu con người, chịu trách nhiệm về nỗi đau khổ cùng cực của hàng chục triệu đồng bào” ( nguyễn chí Thiện) vào nơi trang nghiêm trong cửa chùa và nhà thờ. Có thể nói là không có một ngưòi nào mà không lên án những thái độ bạo hành tôn giáo của nhà nước cộng sản. Nhưng chúng lại thoải mái rửa tay cho rằng, Nào có phải là nhà nước áp bức đâu, các sư tăng, các cố đạo xin phép nhà nước để đưa bác vào trong chùa trong nhà thờ cho nhân dân kính bái đấy! Kết qủa, nhìn cảnh “chó nhảy bàn độc”, nhìn cuộc sống tôi đòi thống khổ của người dân Việt Nam, có ai không buồn, không tủi cho vận nước? Có một ai không lên án bọn “theo voi hít bã mía” làm băng hoại cuộc sống an bình của xã hội?

Tại sao tôi lại xếp thành phần” quần chúng nhân dân tự phát, dân phòng, dân phố, đội đấu “ và những tổ chức có cái đuôi “ yêu nước” vào cùng một loại “theo voi hít bã mía” làm băng hoại, làm phá sản đời sống an bình của xã hội cũng như của tôn giáo?

Trong thực tế thì mọi người đã nhìn tận mắt những hành động côn đồ của một số tổ chức được gọi là “quần chúng nhân dân tự phát, dân phòng, đội đấu...” là như thế nào trong mùa đấu tố, trong các vụ biểu tình chống Trung cộng hay vụ việc TKS, Thái Hà, Văn Giảng, Tiên Lãng... Và mọi ngưòi cũng không xa lạ gì với những bài báo, bản tin bất lương của những ngòi bút, biên tập, trong các cái hội có tên gọi là “ yêu nước “ đã xuyên tạc sự thật, phỉ báng những người đi tìm công lý tự do hòa bình cho đất nước là như thế nào. Điển hình là những bài bình luận, bản tin của họ quanh những vụ việc về HT Thích quảng Độ, TGM Kiệt, LM Lý, Lê thị công Nhân, Nguyễn văn Đài, Cù huy Hà Vũ, Điếu cày, Bùi Hằng... thì theo nhà nuớc dương oai diệu võ. Nhưng không một tên nào dám viết lấy vài hàng chữ chống Trung cộng khi chúng xâm chiếm biển đảo, đánh đập ngư dân Việt nam. Đã thế còn phê phán, lên án, chỉ trích những cuộc biểu tình chống Trung cộng của những ngưòi yêu nước.

Chữ yêu nước mà tôi viết ở đây là nghĩa chân chính. Là sự biểu lộ tâm tình của con dân với đất nước, là tâm tình sẵn sàng hy sinh cả mạng sống của mình để bảo vệ cho sự Tự Do và nền Độc Lập tự chủ của đất nước cũng như hạnh phúc của dân tộc. Nó hòan toàn khác và không giống, nếu như không muốn nói là hoàn toàn đối kháng với cái định nghịa sai trái của cộng sản rêu rao: “Yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa, là yêu cộng sản”! Vì cộng sản có một cái định nghĩa yêu nước là như thế. Nên không lạ gì những tổ chức theo voi có cái đuôi “ yêu nước” đa phần là những kẻ chỉ biết yêu gian dối và và tạo ra gian dối. Thể hiện cách sống trái ngược với đời sống luân lý và đạo đức của con người và xã hội. Và cũng không lạ gì khi những thành phần này luôn tạo ra những bản tin, lời nói hay những hành động phản lại tinh thần lành thánh và an bình của xã hội và của tôn giáo để phục vụ cho chủ đích dối trả của kẻ tung ra nắm bã mía. Đó là những việc làm hoàn toàn đáp ứng cho cái định nghĩa chính xác về cộng sản mà một lãnh tụ bậc nhất của cộng sản là cựu Tổng bí thư Mikhai Gobachev ở Liên sô, hay bà Angela Mikel thủ tướng Đức, người đã có gần nửa đời ngưòi sống duới chế độ cộng sản xác minh: “Cộng sản là một tổ chức gian dối và tạo ra gian dối”.

Bạn đọc chắc còn nhớ, vào những năm cuối thế kỷ trước, khi thế giới lên án chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi không? Khi ấy, nhà nước Việt cộng cũng to mồm, cường điệu lên án Nam Phi là một chế độ phi nhân, tồi tệ, nhơ bẩn và đáng nguyền rủa như là một chế độ độc tài man rợ nhất trên thế giới. Nay xem ra cái chế độ Nam Phi phân biệt chủng tộc kia còn tử tế hơn cái nhà nước “cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt cộng” nhiều nhiều lần. Bằng chứng là, một vị lãnh đạo tôn giáo da màu, dám tay không thách đố và tranh đấu cho dân quyền, cho công lý, chống lại bất công và nạn phân biệt chủng tộc của chính quyền vẫn sống, vẫn có tiếng nói. Lúc ấy, nhà cầm quyền Nam Phi, muốn triệt hạ ông, họ đã tìm mọi thủ đoạn để ngăn trở hoạt động và bịt miệng ông thôi phát. Kết qủa, nhà nước Nam Phi đã hoàn toàn thất bại. Họ thất bại, không ngăn cản được bưóc chân và những hoạt động của ông chỉ vì một lý do rất đơn giản. Các đỉnh cao trí tuệ của nhà cầm quyền ở Nam Phi không giỏi về ngành đểu cảng và bất nhân như tập đoàn Việt cộng và chẳng đáng mặt là học trò của HCM!

Thật vậy, nhà cầm quyền Nam Phi phải gọi là đại... dốt. Không biết cách học tập và tổ chức các hội “thổi kèn, hội quần chúng nhân dân tự phát, hội dân phòng” như khuôn mẫu của xã hội chủ nghĩa siêu việt. Bởi lẽ, nếu có các hội này là thần độ mạng, chỉ cần tung ra nắm bã mía là chúng sẽ tự nguyện rủ nhau đi đấu TGM Tu Tu mà không cần đến nhà nước nhọc công. Khi chúng vào cuộc đấu thì có đến mười TGM Tu Tu cũng chỉ còn mỗi một con đường để đi là về nước Thiên Đàng mà hưởng phúc, còn đường phố Nam Phi thì hẳn sẽ không có bóng dáng của ông. Bạn không tin ư? Này nhá, nếu Ngài TGM TuTu bước ra đưòng đòi công lý là sẽ đụng bọn đầu gầu “quần chúng nhân dân tự phát và tập đoàn thổi kèn trong giới văn nghệ sỹ yêu nước” chờ sẵn. Khi ấy, nhà nước sẽ phải chuẩn bị điếu văn phân ưu vì TGM đã gặp nạn khi sơ ý “ngã” vào người dân hiền lành đi đường mà chết! Thế giới không tin thì cứ lập phái đoàn đến điều tra, hồ sơ giấy tờ chứng cớ tại chỗ không hề thiếu! Trường hợp Ngài rét, không dám ra khỏi ngõ thì chúng cho đặt máy chiếu phim bẩn quanh nhà, rồi thay phiên hò hét đòi giết, khua gậy gộc thâu đêm dưói sự bảo vệ của công an. Ngài không ngủ được thì sớm muộn cũng bị bệnh rức đầu mà chết! Riêng đội quân báo chí, văn nghệ sỹ của nhà nước thì tự do bới móc, bôi lọ, quăng phân vào Ngài. Cần gì đến phiên chính quyền ra tay!

Kịch bản này vẫn được nhà nước Việt cộng lập đi lập lại nhuần nhiễn tại Việt Nam, nơi không phải là chỉ có một vị chân tu kiệt xuất như TGM TuTu. Nhưng là có nhiều vị như thế. Điển hình là HT Thích Quảng Độ, là TGM Ngô Quang Kiệt, nhưng chẳng ai thoát được cái hoạ bị đấu tố. Với dân chúng, đây là những tinh hoa hiếm qúy của tổ quốc, là những người xét về mọi mặt đều có đủ khả năng dựng lại niềm tin cho người Việt Nam bước vào vận hội đi tìm Tự Do, Nhân Quyền và Công Lý. Nhưng con đường họ đi và muốn toàn dân cùng đi lại trái chiều, đối nghịch với chủ trương Tam Vô của nhà nước cộng sản, nên chúng không thể để cho các Ngài yên. Trái lại, đã tìm mọi cách triệt hạ những vị này. Tuy nhiên, phải đối diện với công luận như ở Nam Phi, chúng không dám bắt những vị này vào nhà tù, cũng không có đủ bản lãnh để đối diện trả lời các Ngài bằng những ngôn từ, văn kiện chân chính. Nhưng đỉnh cao của trí tuệ đểu cáng và bất nhân vô đạo của cộng sản lại có thừa.

Trường hợp TKS tại Hà Nội vào cuối năm 2008 là một thí dụ. Một mặt, nhà nước tập trung và cho “quần chúng nhân dân tự phát, hội dân phố” bao vây khu toà GM Hà Nội, rồi chặn đường chặn ngõ, ngày đêm gậy gộc khua gõ, hò hét khủng bố bằng những lời lẽ mang nặng đạo đức Hồ chí Minh, ai nghe thấy cũng phải cau mày nhăn mặt. Một mặt, trấn áp “đối thủ” bởi đội truyền thông gắn dày đặc mày chiếu phim bẩn quanh nhà, và trên báo chí, truyền thanh, truyền hình, không ngừng loan đi những bài viết, những tin tức văng bùn, ném phân, vu khống đê tiện để bôi lọ nhân phẩm các Ngài. Những ngưòi bị bao vây theo loại trí tuệ hạ cấp như thế, họ sống xót qua từng ngày đã là một phép màu, nói chi đến việc ra khỏi nhà, hành trang lên đường rao truyền về Chân Lý và Niềm Tin cho dân. Kềt qủa, những tinh hoa cực qúy của dân tộc đành phải lặng lẽ ẩn thân trong bốn bức tường tu viện hay nhà chùa.

Ngoài những vị chân tu đạo hạnh ấy ra, những cá nhân như Lê thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài, Lê Quốc Quân, Cù huy hà Vũ, Bùi Hằng... hay những địa danh, địa sở gần đây như Văn Giảng, Tiên Lãng, Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý.... thậm chí, ngay những cuộc xuống đường biểu tình chống Trung cộng xâm chiếm biển đảo của một số nhỏ trí thức, thanh niên học sinh ở Sài Gòn, Hà Nội đều không thể né tránh và đã bị tan hàng vì cái đám côn đồ “quần chúng nhân dân tự phát và nhóm báo đài yêu nước” của nhà nước được tự do tung hoành. Qua những sự kiện hiển nhiên này, mọi người đều nhìn thấy cái tàn độc và bất nhân lớn của tập đoàn cộng sản bán nước khi chúng xử dụng chiêu thức “ lấy mỡ heo rán thịt heo” để đối phó với những đòi hỏi chính đáng của người dân như thế nào?

Nếu nói về các loại tội phạm thì không có một xã hội nào mà không có những thành phần bất hảo. Nhưng, không có một chế độ nào phát sinh ra nhiều thành phần bất hảo như chế độ cộng sản. Không có một xã hội lương thiện nào không dùng luật pháp để trừ khử những phần tử bất hảo để mang lại cuộc sống an bình cho người dân và giảm thiểu những tai họa cho xã hội. Riêng chế độ cộng sản lại có một lập quy khác. Ở đây, các chế độ cộng sản không chỉ dung túng, nuôi dưỡng những thành phần bất hảo trong xã hội, còn quy tụ chúng thành những hội đoàn, tổ chức có danh nghĩa với mục đích bảo vệ chế độ. Theo dõi và tạo ra đời sống bất ổn định cho người dân. Bởi vì có tạo ra được sự bất ổn, lo sợ trong cuộc sống của dân sinh thì chế độ này mới khả dĩ tồn tại. Theo đó, cà hai thành phần này đều bám vào nhau như những loài ký sinh để cộng sinh. Chúng không thể tách rời nhau.

Tóm lại, nếu những người đảng viên, cán bộ, công nhân, viên chức của nhà nước không phải là một lực lượng nòng cốt bảo vệ chế độ cộng sản và tạo thành một thế lực làm khiếp vía toàn dân trong tiến trình Chôn Nó Đi, thì những kẻ ngồi chực, kẻ cầu lộc, kẻ chạy “theo voi hít bã mía” chính là một lực lượng đáng ngại. Nó như một bầy chó hoang, được nhà nước dùng miếng ăn nhử mồi. Chúng được nuôi ăn, được huấn luyện bằng một thứ “đạo đức” đặc biệt. Nó trở thành những loại thú sẵn sàng cắn xé, sẻ thịt đồng loại, mà đồng loại ấy có khi chính là cha mẹ, anh em ruột thịt, làng giềng của nó. Việc được nuôi dưỡng, được huấn luyện, biến nó trở thành những công cụ bất lương và được xử dụng như là một vũ khí tối độc của nhà nước trong việc duy trì quyền lực, bạo hành, khủng bố cuộc sống tinh thần của người dân.

Thoạt nhìn, thấy nó đông như một bầy kiến, chỗ nào cũng có, tạo tâm lý ái ngại cho người lên đường. Thực tế, nó cũng có thể là một lực cản khá lớn, nếu như không muốn nói là đầy thách đố và nguy hiểm cho tiến trình thay đổi và canh tân đất nước ở trong những thời gian đầu. Nhưng tuyệt đối là nó không thể kéo dài. Chúng chỉ có thể dựa hơi cộng sản để làm càn, làm bậy kiếm miếng ăn mà thôi. Ngoài ra sẽ chỉ là những cọng rác bên đường. Không đáng quan ngại. Tuy nhiên, cuộc cách mạng, canh tân toàn diện đất nước trong tương lai, không thể để những thành phần này vấy bùn vào xã hội mới. Trái lại, phải cứng rắn trả nó về với cái vị trí hay chức năng của nó.

Bảo Giang

Đọc nhiều nhất Bản in 26.10.2012. 18:35