Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 4/2020

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

2. Sa Mạc Nở Hoa

§ Cát Minh Nha Trang

Người thiếu nữ mà giờ đây mang tên là Êlisabét Chúa Ba Ngôi, không thể tin vào mắt mình. Tất cả những giấc mộng lớn của chị đã được hiện thực trong mái nhà này.

Một cuộc sống cầu nguyện liên lỉ. Một ốc đảo thinh lặng. Một bầu khí thanh bạch và hy sinh. Một cộng đoàn hiệp nhất, sốt sắng, hạnh phúc, đã niềm nở đón nhận chị. Một làn gió tông đồ. Và, trong Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu “ở thật gần, cùng chung một nhà”[36].

BlElizabethTrinity13.jpg

Chị sắp “hiến mình mà không đòi lại”[37] Chị say sưa viết: “Tôi không thể tìm ra được lời nào để diễn tả hạnh phúc của tôi. Ở đây không còn gì nữa ngoài một mình Thiên Chúa... Tôi gặp Ngài khắp nơi, khi giặt giũ cũng như trong giờ kinh nguyện”[38] Nhờ được tinh luyện sau một thời gian dài chờ đợi giữa lòng đời, Êlisabét đã hoàn toàn được soi sáng, choáng ngợp vì sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng chị cảm thấy là đang hướng dẫn chị, bồng ẵm chị, yêu thương chị. “Tôi thấy Ngài, tôi hô hấp Ngài... ”[39]

Tuy thế, vào đầu thế kỷ 20, tình huống của đan viện ở Đại lộ Carnot này rất bấp bênh. Theo luật Combes, các đan sĩ Cát Minh Dijon luôn luôn bị hăm dọa trục xuất, như số phận của hơn một vạn nam nữ tu sĩ vào những năm này đã phải di tản ra nước ngoài. Hồi hộp từng ngày một. Cộng đoàn của Êlisabét dự bị sẵn một nhà ở Bỉ, nhưng rồi không phải di tản, chỉ bị đóng cửa nhà nguyện không cho công chúng đến, vào năm 1903, và về sau đã được mở cửa lại ít lâu trước ngày Êlisabét qua đời.

Đan viện Dijon lúc ấy rất nghèo vì mới đổ sức ra thành lập đan viện Paray le Monial dưới sự thúc đẩy của Mẹ Maria Chúa Giêsu. Hai tháng sau khi Êlisabét nhập Dòng, có cuộc bầu cử các Bề trên mới: Các vị được bầu lên đều rất trẻ, Mẹ bề trên và giám tập Germaine Chúa Giêsu chỉ mới 31 tuổi, Mẹ phó bề trên là Maria Chúa Ba Ngôi mới 26 tuổi.

Thế nhưng dưới sự quản trị của Mẹ Germaine cộng đoàn rất hạnh phúc. Vị bề trên này không phải là một người tổ chức khéo nhưng lại có đời sống gắn bó sâu xa với Chúa. Bà biết liên kết một tầm vóc tâm linh lớn lao với một cách xử sự đơn sơ và một đức tin sâu thẳm. Bà quan tâm để chị em sống sốt sắng theo tinh thần đan tu Cát Minh, biết giữ sự cầu nguyện trong cô tịch cũng như mối đồng cảm với Hội thánh. Bà có một trái tim mẹ hiền rất cao độ, thực hành tuyệt vời lời Mẹ thánh Têrêxa dạy trong Hiến pháp liên quan đến vị Bề Trên: “Bề trên cần cố gắng sống sao cho chị em yêu mến để được chị em tuân phục”. Là nhà giáo dục khôn ngoan, Bà tôn trọng nhân cách từng chị em, tránh thêm thắt những thử thách giả tạo vào những đòi hỏi thâm sâu của cuộc sống nội cấm và nhịp thăng trầm của đời cầu nguyện, tuy nhiên vẫn không giảm bớt sự nhặt nhiệm.

Mà chị thỉnh sinh mới cũng không đòi hỏi gì hơn! Trong bốn tháng đầu ở đan viện Cát Minh, mọi sự đều khiến chị say mê. Vui biết bao, mỗi ngày đều có thánh lễ, một giờ suy niệm ban sáng và một giờ khác ban chiều, tất cả chị em có mặt đông đủ ở ca triều. Các nữ tu còn quy tụ ở ca triều nhiều lần nữa để đọc các giờ kinh phụng vụ. Đầy hạnh phúc, chị đọc sách, cầu nguyện, làm việc trong sự cô tịch của tu phòng bé nhỏ, không lò sưởi, không có nước máy- nhưng “đầy ắp Thiên Chúa”[40]. Kiêng thịt dài dài, ăn chay thường xuyên (mỗi ngày 2 bữa, không bao giờ có bữa thứ ba), đêm ngủ ít với nệm rơm chẳng êm gì cho lắm (những đêm đầu ngủ trên nệm rơm chị cứ sợ bị lăn): không có gì làm chị khó chịu, còn ngược lại là khác! Đã có Người Yêu Dấu ở đó, chị nhìn ảnh Chúa Giêsu tử nạn trên thập giá: “Chân trời của tôi mở rộng thêm từng ngày” [41], “tôi yêu Đức Kitô của tôi biết bao... ” [42]

Và rồi, Sabeth còn có cả 16 người chị! Ngày nào cộng đoàn cũng có hai giờ giải trí: một giờ buổi trưa, một giờ buổi tối. Chị em vừa khâu vá hoặc nhặt rau, vừa nói chuyện cười vui và ca hát thoải mái.

Chị thỉnh sinh rất thích được mặc áo dòng để giống các chị khác. Gần đến ngày lãnh tu phục, Mẹ Germaine nói với chị: “Chị còn nhiều điều phải đạt, có lẽ chị sẽ bị hoãn lại... ” Êlisabét trả lời vừa nghiêm túc vừa lém lỉnh: “Thưa Mẹ, đúng thế, con còn bất toàn lắm, nhưng con nghĩ Chúa muốn ban cho con ơn ấy chứ. Về phần các chị của con, liệu các chị có thể từ chối điều đó với con sao? Các chị phải yêu con chứ, con yêu các chị lắm mà!”

Do những trùng hợp ngẫu nhiên, nghi lễ được cử hành trước hạn định: “Kết quả là ngày 8, ngày lễ Vô Nhiễm của Ngài, Mẹ Maria sẽ mặc cho con áo dòng Cát Minh... Xin cầu nguyện nhiều cho người đan nữ nhỏ bé của Mẹ để nó biết hiến mình trọn vẹn... “ [43]  Để niềm vui thêm dào dạt, ngày 08/12 ấy lại nhằm đúng vào chúa nhật, là ngày luôn nhắc chị nhớ đến sự cao cả và cận kề của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Trong bộ nâu sồng và chiếc áo choàng trắng, chị tập sinh mới này trông thật rạng rỡ!

Và màn đêm bắt đầu buông xuống...

Bước đầu gay go

Ít lâu sau ngày lãnh tu phục, bầu trời nội tâm của chị tập sinh bị che phủ. Chị đi vào trong sương mù, trời lạnh, gió lộng, thường là tranh sáng tranh tối, lắm khi có những đêm dày. Đó là bầu khí năm tập.

Đâu là phần của việc thanh luyện do Thiên Chúa mà thánh Gioan Thánh Giá đã nói tới? Đâu là phản ứng tâm lý do cuộc sống mới tại đan viện gây ra? Đâu là ảnh hưởng do tác động hỗ tương giữa hai mặt ấy?

Quả vậy, có biết bao thay đổi từ khi Êlisabét rời mái ấm gia đình. Cô tiểu thư Catez trở thành rất nghèo... Không còn lại chút gì của cuộc sống thật đa dạng với những cuộc du lịch, những buổi dạ hội, những cuộc thăm viếng, sự thành công, những lời chúc tụng của người đời và môi trường của một gia đình trưởng giả.

Rồi, mười ba năm dương cầm miệt mài từ thơ ấu, vừa ưa thích vừa cố công rèn luyện, dù tự nguyện bỏ đi cũng không dễ sớm phai mờ. Nhạc khí ấy đã là dịp cho chị gặp gỡ những nhà sáng tạo mỹ thuật thượng thặng. Đó cũng là nơi để chị cũng diễn tả những cung bậc cảm xúc chất chứa trong tâm hồn nhạy cảm. Đó cũng là nơi để chị được tái tạo và tươi mát lại - y như trong cầu nguyện. Ở dòng Cát Minh, có thể nói như dứt bỏ hết mọi diễn tả âm nhạc, tiềm thức người nghệ sĩ hẳn cảm thấy như bị tước đoạt và buộc phải thích nghi với một ngôn ngữ duy nhất là ngôn ngữ của kinh nguyện, thứ ngôn ngữ vẫn còn dồi dào nơi chị.

Đã thế, chỉ cách đó 150 thước, lại có một bà mẹ thân thương luôn khóc thầm vì sự ra đi của con gái bà... Chính người nữ tu Cát Minh con bà cũng tự thú: “Nghĩ đến mẹ, đôi khi lòng con rướm máu... ”[44] Từ ngày bà Catez góa bụa, cô con gái lớn chưa bao giờ rời xa bà, khiến bà dành trọn tình thương cho cô, coi cô như là con ngươi mắt bà. Êlisabét cảm thấy gắn bó mật thiết với người phụ nữ nhạy cảm và đau khổ ấy. Chị hiểu rằng mẹ chị không mong muốn gì hơn là thấy tình yêu thương đứt ruột của bà được con bà đón nhận. Càng xa lìa tổ ấm ấy, Êlisabét càng cảm thấy những nỗi đau xé lòng lặng lẽ. Đó là vết thương ma, với một tình mẫu tử trong sáng, Mẹ Germaine chỉ muốn chữa lành bằng cách đưa nó về cho một mình Thiên Chúa thôi.

Sống giữa đời và làm “đan nữ Cát Minh trong lòng”[45] là một chuyện, mà thực sự sống trong cô tịch và nhặt nhiệm của một đan viện Cát Minh lại là chuyện khác. Dầu Êlisabét có bông đùa về “những tấm màn xinh đẹp” nơi cửa sổ đóng băng của phòng chị[46], thì mùa đông Dijon ẩm ướt kéo dài trong một đan viện không lò sưởi cuối cùng cũng rút cạn hết kho tâm lý dự trữ và buộc phải tìm đến những động cơ siêu nhiên nhất.

Chắc chắn Sabeth đã hoàn toàn tự nguyện sống cảnh cô tịch này để ngày càng khám phá ra Thiên Chúa quả là mối Ngạc Nhiên kỳ diệu, và chị sẽ chẳng khi nào lại tự ý chạy trốn sự cô tịch ấy vì những cái không đâu ở đời. Dù vậy, không có gì ngăn cản chị cảm thấy bị dội về mặt tâm lý do tính nhạy cảm mà một ngày kia chị đã gọi là “nét trội vượt trong cá tính mình”[47]. Mặc dù ngay hồi ấy đã có những người coi chị là một thánh nữ trẻ, chị vẫn phải “trở thành” đan nữ Cát Minh và thiết lập cho mình một sự quân bình nội tâm mới.

Chị cảm thấy choáng váng đến nỗi gặp phải một sự xáo trộn tự thâm sâu, như muốn nổi loạn trong tư tưởng, trong cảm tính và tưởng tượng. Rồi khi cảm tính rung lên dữ dội, đau đớn, nó khiến cho cầu nguyện thành chuyện khó, nhất là những giờ nguyện ngắm kéo dài. Một giờ nguyện ngắm khó cũng có thể thành một giờ nguyện ngắm rất quảng đại, do chỗ nó thúc giục người ta phải cố gắng hoài, tuy nhiên nó cũng có thể khiến một tập sinh nồng nhiệt phải âu lo khi trải qua đêm tối và sự khô khan.

Thế là những thắc mắc và bối rối nổi lên... Êlisabét, người vốn khao khát nên trọn lành đến thế, hẳn phải tự hỏi: Tôi đã cầu nguyện đàng hoàng hay không? Tôi đã yêu Thiên Chúa “Toàn Ái”[48] trọn tình chưa? Tôi đã làm đủ chưa? Trong cuộc sống thầm lặng này nơi mà cái gì cũng nhỏ bé, có thể nói được là tôi đã tương đối tốt chưa? Chúng ta đừng quên là vào đầu thế kỷ 20 bầu khí đời sống tâm linh bị ô nhiễm vì lạc thuyết Jansénisme, nhấn mạnh tới một Thiên Chúa thẩm phán xét nét từng li từng tí, và người ta phải trả lẽ công bằng với Ngài... Lúc 13 tuổi, Êlisabét đã trải qua một cơn bối rối như thế, như biết bao thiếu nữ khác thời ấy, kể cả cô bé Têrêxa thành Lisieux... May thay những lời khuyên của cha giải tội và cảm nghiệm nội tâm của bản thân về một Thiên Chúa nhân lành dần dần đã chữa chị khỏi sự bối rối ấy, phải nói là một cách kỳ diệu!

Nhưng giờ đây, ở tập viện Cát Minh, trước bao nhiêu qui định, tục lệ, những sự dự phòng của đời tu vào đầu thế kỷ 20, với một tấm lòng chỉ mong làm mọi sự cách trọn hảo, một lần nữa Êlisabét lại rơi vào sự bối rối và hỗn loạn. Mẹ Germaine phải rất kiên nhẫn, và đôi khi cũng mất kiên nhẫn, để định hướng lại cho chị.

“Trong đức tin và mầu nhiệm... ”

Sự thử thách trong thời gian Nhà Tập có hiệu quả tốt là giúp chị quả quyết hơn trên con đường của đức tin tinh ròng, lòng tin cậy ngoan thảo và lòng yêu mến Chúa vô điều kiện.

Hồi chưa vào Dòng, có lần phải trải qua một thời kỳ tăm tối trong đời sống cầu nguyện, chị đã viết: “Thật gay go... sau khi đã nghiệm thấy Ngài gần gũi đến thế... Tuy nhiên đức tin dạy tôi rằng dù sao vẫn có Chúa hiện diện đó, còn những ngọt ngào, an ủi nào có ích gì? Ngọt ngào an ủi đâu phải là Chúa. Ta chỉ tìm kiếm một mình Chúa thôi mà!... Nào, hãy đến với Ngài bằng đức tin thuần túy”[49].

Giờ đây, người nữ tu Cát Minh trẻ áp dụng lại những nguyên tắc cơ bản của cô giáo dân trẻ ấy. Chị hiểu rằng ánh sáng của những ngày ảm đạm vẫn phát xuất từ cùng một mặt trời rực rỡ trên cao, bên trên những đám mây. Chị quay về tìm lại Mặt Trời của chị từ bên trong. Thời kỳ này chị đã ghi lại:

“Hãy sống với Chúa như với một người bạn, hãy biến đức tin nên sống động để thông hiệp với Ngài qua mọi sự, đó là điều làm nên các vị thánh. Chúng ta mang Thiên Đàng trong mình, bởi vì Đấng làm no thoả những người được vinh quang trong ánh sáng hưởng kiến cũng chính là Đấng hiến mình cho chúng ta trong đức tin và mầu nhiệm! Cũng cùng là một Đấng!”[50]

Trong thời gian Nhà Tập, Êlisabét gặp lại Têrêxa Nhỏ của Lisieux lần thứ hai. Trước khi vào Dòng chị đã đọc truyện “Một Tâm hồn”, bản tự thuật của người đan nữ Cát Minh trẻ vừa mới qua đời và là người đã từng bị tiêu hao bởi cùng một ngọn lửa hiện đang nung đốt lòng chị. Lần này, Mẹ Germaine một người đã thấm nhuần linh hạnh của người chị em thành Lisieux, sẽ khắc sâu vào tâm hồn cô tập sinh, đang bị chìm ngập trong bóng đêm, con đường tín thác vào tình yêu nhân hậu của Chúa Cha.

Thế là nữ tu Êlisabét đáp lại bằng tấm lòng quảng đại bao la nhất mà người ta có thể chờ đợi nơi chị. Cô con gái của vị sĩ quan ngày xưa lại trút tất cả lửa nhiệt tình vào ánh mắt nhìn lên Đấng chịu đóng đinh. Ngay trong giai đoạn khó khăn này, chị đã định nghĩa: “Một đan nữ Cát Minh là một tâm hồn đã nhìn lên Đấng chịu đóng đinh, đã thấy Ngài tự hiến mình làm lễ vật hy sinh dâng lên Cha Ngài để cứu các linh hồn, và rồi, sau khi đã chiêm ngắm tình yêu bao la ấy của Đức Kitô, chị hiểu ra cuộc thương khó của tâm hồn mình và muốn hiến dâng chính mình như Đức Kitô”[51].

Lại nữa, sau chuỗi ngày ngụp lặn trong bất lực ấy, nhà chiêm niệm trẻ thiên phú này trở nên thật sự khiêm nhường trong các tương giao với chị em. Chị xem mình thật bé nhỏ, hoà lẫn giữa đoàn lữ hành, không phải như một nhân vật nào cao cấp, nhưng là một người em được các chị xem như một nụ cười của Thiên Chúa.

Niềm vui mến yêu

Trong những tháng đầu đời tu, Êlisabét đã sống giữa ốc đảo Cát Minh. Vào Nhà Tập, chị khám phá ra rằng ốc đảo ấy lại nằm giữa hoang mạc.

Hoang mạc. Đó chính là điều mà thánh nữ Têrêxa Avila, do ngây ngất chính trước lý tưởng của các nhà chiêm niệm tiên khởi sống trên núi Cát Minh hiu quạnh, đã muốn tái tạo cho các chị em của mình bằng cách cải tổ lại đan viện Cát Minh đang bị buông lỏng. Những hoang mạc, để ở đó các đan nữ của Mẹ sẽ sống “riêng một mình họ với một mình Thiên Chúa”, - đó là công thức được Êlisabét mượn lại và lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần.

Thế nhưng phải là một hoang mạc sống được, phải là một ốc đảo với cây cối xanh tươi và nước mát, nhờ mối dây thân tình sâu xa như trong một gia đình. Theo lời Mẹ thánh Têrêxa, đây phải thật sự là “một góc nhỏ của Thiên đàng”, là nơi mọi người yêu thương nhau trong một đức ái dịu dàng và vui tươi, dệt bằng sự thanh thoát và sự khiêm nhường, trong một bầu khí Tin Mừng thấm tận từng chân tơ kẽ tóc của cuộc sống tự nhiên.

Đối với những ai được kêu gọi làm đan nữ Cát Minh như mình, Mẹ thánh Têrêxa ước mong họ quyết chọn Thiên Chúa chỉ vì Thiên Chúa và quyết chọn triệt để, chẳng còn gì để nhìn lui vì chỉ có một lối thoát duy nhất là leo lên núi cách thật quảng đại.

Nhờ kinh nghiệm bản thân, Mẹ thánh biết rằng người ta càng lên càng bị đỉnh cao quyến rũ. Người con gái của Mẹ là chị Êlisabét đã chứng tỏ là Mẹ có lý khi chị viết ngay giữa lúc đầy thử thách: “Bạn không tin rằng khi trái tim bị Đức Kitô chinh phục, nó có thể hiến mình đến cùng sao? Vị Hôn phu của tôi đẹp quá, tôi yêu Ngài say mê và nhờ yêu Ngài tôi được biến đổi trong Ngài” [52]

Mẹ thánh Têrêxa cũng biết rằng càng lên cao, cái nhìn của ta về Hội Thánh càng rộng lớn bao la hơn. Êlisabét viết tiếp: “Người đan nữ Cát Minh phải là tông đồ, mọi kinh nguyện và hy sinh của chị đều hướng về việc tông đồ” [53]!

Lòng ham mộ hoang mạc không che mắt mẹ Têrêxa. Mẹ hâm mộ việc mục vụ của các anh em Cát Minh tiên khởi do Mẹ cải tổ và do đó Mẹ đã gửi họ đi truyền giáo. Đắm say Thiên Chúa, Mẹ đã gợi ý và giúp đỡ cho các bạn hữu của Mẹ ở ngoài đời để họ cùng được sống kết hiệp với Đức Kitô như Mẹ, trước tiên là cho cụ thân sinh của Mẹ, ông Lorenzo em trai Mẹ và các cha giải tội riêng của Mẹ... Ngày nay, tinh thần Cát Minh tỏa rộng với đủ các ơn gọi: Chiêm niệm, tông đồ, truyền giáo, cư sĩ (quen gọi là Dòng Ba)... Nhờ đã trải qua một thời gian dài tìm kiếm Thiên Chúa ở giữa đời, Êlisabét sẽ tiếp thu một cách kỳ diệu trào lưu ấy của Mẹ thánh.

Hiểu được bối cảnh tâm linh ấy, chúng ta mới hiểu rõ hơn làm sao ngay trong giai đoạn thử thách này, Êlisabét có thể nói rằng chị thật sự hoàn toàn hạnh phúc.

Chỉ vì chị yêu. Mà ai chẳng biết rằng: Càng yêu càng thấy mọi gánh nặng đều nhẹ nhàng và càng cố gắng càng làm cho tình yêu tăng trưởng. Êlisabét tiết lộ cho chúng ta bí quyết vượt khổ của chị: “Ở trong đan viện có nhiều hy sinh... Tuy thế, khi lòng đã được tình yêu chiếm đoạt, những hy sinh ấy lại trở nên thật dịu nhẹ. Tôi sẽ cho bạn biết tôi làm thế nào khi gặp đôi chút mệt mỏi: Tôi nhìn Chúa Giêsu trên thập giá, và khi thấy Ngài đã hiến mình vì tôi như thế, thì dường như tôi không nỡ nào mà không hiến mình cho Ngài đến độ tiêu hao mòn mỏi... để đền đáp đôi chút những gì Ngài đã ban cho tôi” [54]

Sự quên mình vừa nuôi dưỡng tình yêu của chị vừa là lời kinh thầm lặng cầu cho kẻ khác. Sự dũng cảm như thế trong tình yêu của chị đối với Đức Kitô khiến cho mọi thập giá đều được biến đổi, mang lấy một ý nghĩa hiệp nhất và cứu chuộc. Thập giá mà được ta ôm chặt, thì không còn là thập giá nữa, như thể ta bốc tuyết vào lòng bàn tay mà siết lại thì nó sẽ tan đi. Cộng đoàn của Êlisabét không ngờ chị bị thử thách, vì chị vẫn luôn tỏ ra dễ thương, phục vụ, đơn sơ, không phàn nàn điều gì cả. Tuy nhiên, chúng ta đừng hiểu lầm, chị đã học nghệ thuật này ít ra đã từ 12 năm.

“Lúc đầu, bạn chỉ cảm thấy toàn hy sinh, nhưng rồi sau đó, bạn sẽ hiểu mình đang được nếm một sự bình an tuyệt diệu”[55].

“Còn gì thích bằng đang yêu mà có thể cho” [56].

Trong thư gửi cho mẹ, chị viết: “Cũng như mẹ, con cảm nghiệm hy sinh là gì, nhưng con thật là hạnh phúc trong Chúa”[57] Trong Chúa, chị thấy vững tâm và hoan lạc thẳm sâu. Hoang mạc Cát Minh quả là môi trường của chị “như cá trong nước” - cá không ra khỏi nước, cho dù là đêm...

Bởi lẽ chị luôn trung thành với việc tự hiến, cho nên thử thách không thể cướp mất cái lý tưởng cao đẹp của chị là chiêm niệm, là kết hiệp với Thiên Chúa. “Cầu nguyện là mối bận tâm chính, đúng hơn phải nói là bận tâm duy nhất của chúng ta, bởi vì một đan nữ Cát Minh không bao giờ được ngưng cầu nguyện”[58] “Cuộc sống của một đan nữ Cát Minh là kết hiệp với Thiên Chúa từ sáng đến tối và từ tối đến sáng. Nếu các tu phòng và nội cấm của chúng ta không tràn ngập Chúa thì, than ôi, sẽ trống rỗng biết bao! Thế nhưng nơi mọi sự, chúng ta đều thấy Thiên Chúa vì chúng ta mang Thiên Chúa trong mình, và cuộc sống của chúng ta là một Thiên Đàng đang được nếm trước[59]. Hãy yêu sự thinh lặng và nguyện ngắm, vì đó là cốt lõi của đời tu Cát Minh”[60]

Hiền thê của Đức Kitô

Mỗi tháng một lần Êlisabét ra phòng khách của đan viện để gặp hai người thân thương nhất trên đời. Giờ được gặp khách chỉ có 30 phút, biết bao nhiêu điều muốn bày tỏ, trong khi chiếc đồng hồ cát cứ chảy tuồn tuột... Làm sao mà ghì giữ được mẹ yêu dấu, người mẹ mà chỉ Thiên Chúa mới có thể chia lìa chị ra được... Và em Guite, cô gái 19 tuổi, thật hạnh phúc vì mới được đính hôn và lễ cưới được định vào ngày 15 tháng 10, lễ thánh Têrêxa Avila, một sự quan tâm tế nhị dành cho người đan nữ Cát Minh không thể về dự.

Khi gặp em, Êlisabét hạnh phúc nhận thấy Guite thật “rạng rỡ”“trái tim nhỏ bé của em đã được chiếm hữu” [61].  Trong bối cảnh gia đình và tâm lý ấy, chị sẽ lặp lại với lòng mình đâu là ý nghĩa của việc chị sắp “làm vợ”, “làm bạn đời”, “làm hiền thê của Đức Kitô”, vào dịp lễ khấn sắp đến. Chị ghi lại điều đó trong một bài suy niệm thâm trầm mà chúng ta sẽ đọc vài đoạn [62]:

“Hiền thê, hai tiếng ấy gợi lên cả một tình yêu cho đi và lãnh nhận, gợi lên sự thân mật, sự trung thành, sự tận tụy! Làm bạn đời của Ngài là để tự hiến như chính Ngài đã tự hiến.

“Làm hiền thê, tức là được quyền tất cả trên Trái tim Ngài... Là suốt đời lòng bên lòng... là sống với... luôn luôn với...

“Làm hiền thê, tức là luôn hướng mắt mình vào mắt Ngài, tâm trí lúc nào cũng nghĩ đến Ngài, trái tim bị Ngài chiếm hữu, hoàn toàn bị Ngài xâm chiếm, như ra hẳn khỏi mình để chuyển hẳn sang Ngài, linh hồn ta bị tràn ngập bởi linh hồn Ngài, bởi lời nguyện của Ngài, trọn cả hữu thể bị Ngài chiếm đoạt và được hiến dâng cho Ngài”.

Tuy nhiên, cuộc tĩnh tâm chuẩn bị khấn đã khiến chị lại rơi vào một đêm tối nội tâm dày đặc, đến độ ngay chiều hôm trước lễ khấn, Mẹ Germaine hết sức lo lắng cho người tập sinh của mẹ, đang “âu lo tột độ” [63]. Mẹ đã phải mời cha Vergne đến trấn an Êlisabét.

Ngày xưa, chị chấp nhận không vào Dòng Cát Minh, để ở nhà, nếu Chúa muốn; giờ đây, chị chấp nhận ở lại Dòng Cát Minh suốt đời để chịu tử đạo vì yêu, tin tưởng múc lấy sức mạnh bằng cách nhìn lên Đấng chịu đóng đinh thập giá. “Một tình yêu đích thật thì không do dự... ” [64]

Sau này chị viết: “Trong đêm áp ngày trọng đại, khi ở ca triều đón chờ Đức Tình Quân, tôi hiểu rằng Thiên Đàng của tôi đã bắt đầu ngay ở trần gian, Thiên Đàng trong đức Tin, với đau khổ và hiến tế vì Đấng tôi yêu mến”[65]

Chúa nhật lễ Hiển Linh, 11-01-1903, sau thánh lễ riêng cho đan viện, cộng đoàn đến phòng hội. Chị Êlisabét hoàn toàn chìm trong lời thánh Phaolô viết: “Tôi khuyên nhủ anh chị em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh chị em thờ phượng Ngài.” [66]. Chỉ có cộng đoàn chị em hiện diện vây quanh, chị tuyên khấn giữ đức vâng lời, nghèo khó và khiết tịnh cho đến chết.

Vừa vượt qua ngưỡng cửa quyết định ấy, mọi âu lo hoàn toàn tan biến và một sự bình vô tận chiếm ngự tâm hồn chị, bắt đầu bình minh của một giai đoạn mới, dường như không gì còn có thể làm phai nhạt hạnh phúc của chị: “Ai diễn tả được niềm vui của tôi khi tôi đã có thể tự nhủ lòng đang lúc chiêm ngắm tượng Đức Kitô nhận được sau khi khấn mà Mẹ Bề Trên đã đặt vào lòng tôi ‘như một dấu ấn trên trái tim tôi’, tự nhủ rằng: “Thế là cuối cùng Ngài thuộc trọn về tôi, tôi thuộc trọn về Ngài. Mình chỉ còn có Ngài, và đối với mình, Ngài là tất cả.” Và giờ đây tôi chỉ còn một ước vọng mà thôi là yêu mến Ngài, yêu mến Ngài mọi lúc... ”[67]

Ngày 21-1, nghi thức nhận lúp đen được cử hành trước công chúng, trước sự hiện diện của gia đình và đông đảo bạn bè. Những người này có thể đã tự nhủ: Đức Kitô của Êlisabét hẳn phải vô cùng cao cả, vì chị ấy đã bỏ bao nhiêu thứ để đổi lấy chỉ một mình Ngài, và chị ấy thật hạnh phúc...

Dòng sông bình an đã phát sinh trong lòng chị từ sau ngày khấn, giờ đây đang cuồn cuộn chảy dẫn đưa chị vào trong một Đại Dương Tình Yêu: “Tôi cảm thấy tình yêu dạt dào biết mấy trong hồn tôi, như cả một Đại dương trong đó tôi ngụp lặn và mất hút... Ngài ở trong tôi, tôi ở trong Ngài, tôi chỉ còn biết yêu Ngài và để cho Ngài yêu tôi”.[68] Tôi cảm thấy Ngài sống động biết bao trong hồn tôi, tôi chỉ cần hồi tâm là gặp được Ngài trong tôi và đó chính là tất cả hạnh phúc của tôi. Ngài đã đặt trong tim tôi một nhu cầu yêu đương mãnh liệt đến nỗi chỉ một mình Ngài mới có thể làm no thỏa”[69].

Cầu nguyện trong lao tác

Là người trẻ nhất trong cộng đoàn, nhà chiêm niệm của chúng ta phải tra tay vào nhiều việc trong khoảng thời gian 4 hoặc 5 giờ lao động của chương trình hằng ngày.

Trong một cộng đoàn 17 người nữ, mà đã hết mấy chị đau quanh năm, những việc lặt vặt mọc lên như nấm! Quét nhà, giặt giũ, nhặt rau, giúp làm vườn, bảo trì cơ sở nhà tập, dọn bàn thờ, chưng hoa, quét bụi cho dù có hay không... Lại thêm chỗ này có mạng nhện! Chỗ kia phải sắp xếp lại cho trật tự! Rồi phải lau mấy cửa sổ, dọn lối đi sân chơi... Lạy Chúa, những việc này chẳng bao giờ xong.

Nhờ làm việc mà chị em ngày càng thắt chặt các mối tương giao liên vị. Phải đồng tình hợp ý nhau, phải vâng theo những chị “phụ trách hàng đầu” trong những công việc khác nhau, giúp đỡ chị em, lúc nào cũng sẵn sàng, đó là những dịp để từ bỏ mình liên lỉ.

Các nữ tu có thể làm chứng về người em út của họ: “Sự kiên nhẫn của Êlisabét không gì lay chuyển nổi... Người ta không phải ngại khi nhờ chị!”... “Cách chị trao một lá thư cũng khiến bạn được đầy niềm vui. Chị làm cho bạn được vui mà không cần nhiều lời. Ai cũng bảo thế. Hình như chị cần làm vui lòng người khác. Chị cho cả ngàn lần trong chỉ một lần. Với chị, chẳng có việc gì là tầm thường. Chị luôn điểm được một chút cao quí vào mọi chuyện. Để được vậy, chị đã cho nhiều biết bao”.

Êlisabét thành công nhất trong vai phụ giữ cửa và vá đồ. Chị có luôn luôn làm theo ý người phụ trách chính không? Đây, một mẩu giấy để lại cho chị Louise de Gonzague: “Xin Chị coi lại thử, đây là do em cứ tưởng thân trước quá chật. Nếu Chị thấy em nghĩ sai, Chị góp ý cho em. Trên bàn có sẵn bút chì và giấy,... ” [70]

Trong cuộc sống hoang mạc và trong cái năng động tập thể của một nhóm 17 người có tính tình khác nhau, sống chung triền miên với nhau trên cùng một mặt bằng không quá một mẫu đất, không thể tránh những bất đồng quan điểm và va chạm thường ngày, thì hẳn phải luôn liệu sao cho được bình an. Thế nhưng Êlisabét bao giờ cũng phản ứng vui vẻ và nhã nhặn.

Vì trên lầu không có nước máy, hằng ngày phải xuống tầng dưới lấy nước. Một ngày kia, chẳng may, chị làm đổ vài giọt nước trên chiếc cầu thang mà chị Maria de Saint-Bernard có bổn phận lau chùi... Chị này lên tiếng kêu trách ngay. Sau một lúc, thấy mình đã quá quắt chỉ vì vài giọt nước, chị Maria de Saint-Bernard rụt rè tiến lại bên Êlisabét và nói: “Vẫn mãi mãi là bạn chứ!”  Cô con gái của viên đại úy vui vẻ đáp: “Là bạn à? Vẫn mãi mãi!”  Thế là hoà bình được ký kết.

Đối với Êlisabét Chúa Ba Ngôi, mọi hành động của chị được kết bằng một sợi chỉ vàng: “Bạn hỏi tôi phải lo việc gì ở đan viện à? Tôi có thể trả lời Bạn rằng: với một đan nữ Cát Minh, chỉ có một việc: ‘Yêu, Cầu Nguyện’ ”[71]. Chị khuyên một cô bạn giáo dân: “Chúng ta hãy cùng đồng lòng biến mỗi ngày của chúng ta thành một sự hiệp thông liên lỉ: Sáng sớm, chúng ta hãy thức dậy trong Tình yêu, suốt ngày chúng ta hiến mình sống cho Tình yêu, nghĩa là làm theo ý Thiên Chúa, dưới ánh mắt Ngài, với Ngài, trong Ngài và chỉ vì Ngài. Mọi nơi mọi lúc, đều ăn ở theo như Ngài muốn... Và rồi đêm về, sau một cuộc đối thoại yêu đương không ngớt trong lòng, chúng ta lại còn ngủ trong Tình Yêu... ”[72]

Ngây ngất vì vẻ đẹp của Thiên Chúa

Một trong những công trạng của Êlisabét suốt cuộc thử thách cam go trong thời kỳ nhà tập là đã không để phai nhạt lý tưởng. Hồi đó, chị đã viết: “Dù trong huy hoàng hay trong tăm tối, chúng ta hãy luôn sống dưới ánh mắt của Đấng Tuyệt Mỹ Bất biến, Đấng muốn làm chúng ta say mê, muốn cuốn hút chúng ta và hơn thế nữa, còn muốn biến chúng ta thành thần linh! Ôi, được là Ngài, đó là tất cả giấc mơ của tôi!”[73]

Ánh mắt của người yêu nhìn lên thập giá xen lẫn với ánh mắt người nghệ sĩ say nhìn vẻ đẹp tuyệt đối của Thiên Chúa. Chị muốn được “hoàn toàn tinh tuyền, hoàn toàn trong suốt để Thiên Chúa Ba Ngôi có thể phản ánh trên tôi như phản ánh trên pha lê. Chúa Ba Ngôi thích chiêm ngắm vẻ đẹp của mình trong một tâm hồn biết bao”.[74]

Việc Thiên Chúa Ba Ngôi cư ngụ trong chúng ta vẫn hằng khiến cho chị đặc biệt say đắm từ mấy năm qua. Từ khi còn là một thiếu nữ, chị đã thường cảm thấy sự hiện diện của Chúa “trong góc nhỏ này của lòng con, con đã thấy Chúa, con đã cảm nhận được Chúa thật rõ”[75]. Chị đã từng mơ ước khi vào Dòng sẽ mang tên là “Êlisabét Chúa Giêsu” bởi vì chị có một ấn tượng sâu sắc về mầu nhiệm của Đấng vừa là Người vừa là Thiên Chúa. Thế nhưng rồi “Người bạn lòng này của Thiên Chúa Ba Ngôi” [76] - như từ lâu rồi chị vẫn tự gọi mình như thế - đã nhận tên mà cộng đoàn đặt cho chị: “Êlisabét Chúa Ba Ngôi” và tên gọi này đã giúp chị khám phá tất cả. Một năm trước khi vào Dòng, chị đã nói chuyện với cha Vallée về Tình yêu mà Thiên Chúa Ba Ngôi đem đến cho ta, và cuộc nói chuyện ấy đã khích lệ chị rất nhiều.

Khi đã vào Dòng Cát Minh, trong ngày chủ nhật lễ Thiên Chúa Ba Ngôi chị tập sinh sẽ viết như sau: “Guite à, lễ Chúa Ba Ngôi đúng là lễ của chị. Chẳng một lễ nào khác có ý nghĩa với chị như thế này. Trong đan viện, lễ này thật tuyệt, vì là một ngày lễ thinh lặng và tôn thờ. Chưa bao giờ chị đã hiểu được mầu nhiệm này đến thế, cũng như hiểu ơn gọi mà chị mang trong tên gọi của mình” [77]

Chi kinh ngạc và thán phục trước vẻ đẹp của Ba Ngôi Thiên Chúa đang chuyển thông cho nhau một tình yêu tuyệt hảo. Cả trong đêm tối chị vẫn bị chóa mắt vì lòng khoan dung lạ lùng của Thiên Chúa khi Ngài gọi ta sống trước sự hiện diện của Ngài “trong bầu trời hồn ta”. Trong bài suy niệm về “Bạn trăm năm của Đức Kitô”[78], chị Cát Minh 22 tuổi này sẽ ghi lại một cái nhìn vừa sâu sắc vừa thân thương gần gũi đáng kinh ngạc: “Được chọn làm hiển thê, hiền thê huyền nhiệm, là làm cho trái tim Ngài say mê đến quên mọi cách biệt, Ngôi Lời nghiêng mình trên linh hồn ta như trong cung lòng Chúa Cha với cùng một sự ngây ngất của tình yêu vô cùng vô tận! Chính Chúa Cha, Ngôi Lời và Thánh Thần xâm chiếm linh hồn, biến nó thành thần linh, tiếp thu nó vào Nhất Thể bằng tình yêu”.

Dưới ánh sáng do ngày Khấn Dòng đem lại, chị ngạc nhiên thích thú rảo bước mãi không thôi trong khu vườn của Mầu Nhiệm Ba Ngôi: “Chính Ba Ngôi Thiên Chúa an nghỉ trong ta, tất cả mầu nhiệm này sẽ là cuộc sống hưởng kiến sau này của ta trên Thiên Đàng... Tôi là Êlisabét Chúa Ba Ngôi, có nghĩa là một Êlisabét đang biến tan đi, đang đánh mất mình đi, đang để cho Ba Ngôi xâm chiếm”[79].

Chị muốn hiến mình đến cùng cho sự hiện diện của Thiên Chúa Ba Ngôi, hiến mình cho “Đấng Vô Cùng mà trong Ngài chúng ta có thể chuyển động qua mọi sự và đạt tới mọi sự... Tôi mong sao sống ở đời này mà biết đáp lại tiếng Ngài như Đức Thánh Trinh Nữ, “ghi nhớ mọi sự trong lòng tôi”, có thể nói là tự chôn mình đi tận đáy linh hồn mình để bị mất hút trong Ba Ngôi, Đấng đang ngự ở đó và để biến đổi trong Ngài”[80]. Cuộc sống của chị là Bụi gai bừng cháy! Hoang mạc của chị là thinh lặng để “sống kết hiệp”. Đan viện của chị là môi trường cho một cuộc hành trình không biên giới: “Tình yêu có tính cách vô cùng và trong vô cùng người ta luôn có thể đi xa hơn”[81]

Chị sung sướng khi đọc những trang thần bí của người cha trong Dòng Cát Minh, thánh Gioan Thánh Giá, những trang khơi lên lòng khao khát và mở ra cho chị những viễn cảnh của một sự kết hiệp hoàn toàn với Thiên Chúa.

Chị cũng đọc Tân Ước mỗi ngày. Chị cũng chăm chú đào sâu những “bức thư tuyệt vời” của một ca viên khác của Tình yêu, một người cũng đam mê cuồng nhiệt như chị, là thánh Phaolô mà chị gọi là “người cha linh hồn” của chị. Ngày 25-1-1904, lần đầu tiên chị cô đọng lý tưởng chiêm niệm của mình trong những lời của thánh Phaolô nói với mọi Ki-tô-hữu: “Trở nên lời ca ngợi cho vinh quang Thiên Chúa”. Công thức ấy đã đâp mạnh vào tâm trí Êlisabét để rồi sau cùng chị đã chọn nó làm tên gọi tượng trưng của chị, bằng tiếng la tinh “Laudem gloriae” - “lời ca ngợi vinh quang”.

Gần cận với người thế

Khi gần gũi với Thiên Chúa, chị không xa cách con người. Sống trong Nguồn Cội của mọi hữu thể, chị biết kết hiệp với mọi người. Trong môi trường linh thánh là Chúa Ba Ngôi, chị gặp lại con người cụ thể bên cạnh mình và gặp được Hội Thánh phổ quát:

Giữa “Nhà Chúa” trong con, con có lời cầu nguyện
của Giêsu, Đấng Thiên Chúa đang tôn thờ Thiên Chúa.
Lời cầu nguyện ấy đưa con đến với các linh hồn và với Chúa Cha
bởi vì đó chính là hai chuyển động của lời cầu nguyện.
Sứ mạng của con còn là
Cùng cứu thế với Thấy.
Để đạt được điều đó con phải tự biến tan,
phải mất hút trong Ngài bằng sự kết hiệp” [82]

Chị không ngừng mời gọi bạn hữu sống kết hiệp với Thiên Chúa giữa lòng cuộc sống và giữa cuộc sống trong cõi lòng. Có rất nhiều đoạn thư cho thấy chị sống gần gũi tha nhân cách khác thường ngay giữa chiều sâu thẳm thẳm của tình yêu chị dành cho Thiên Chúa.

Chị viết cho mẹ: “Con gái Mẹ hôn Mẹ với tất cả tình yêu trong trái tim Cát Minh của nó, trái tim này thuộc trọn về Mẹ, bởi vì nó thuộc trọn về Ngài, thuộc trọn về Ba Ngôi”[83].

Cho Guite: “Chị gửi em và các cháu trọn tình yêu của chị ngang qua tình yêu của Chúa Ba Ngôi, cả một biển tình lai láng: Ước gì biển ấy tràn ngập trên em và các cháu”[84].

Cho Francoise de Sourdon: “Này, Francoise à, bạn có một con tim cuồng nhiệt như thế, chẳng lẽ bạn không hiểu thế nào là tình yêu khi mà Ngài yêu thương bạn đến thế? Giá bạn biết Ngài yêu mến bạn đến mức nào và cả tôi nữa, tôi yêu mến bạn đến mức nào!”[85]

Cho Maria Louise Maurel: “Đấng chiếm trọn tôi cho Ngài chính là Đấng Toàn Là Tình Yêu, và tôi cố gắng hoà mình theo mọi tác động của Ngài; chính là bằng trái tim Ngài mà tôi yêu bạn, chính là bằng linh hồn Ngài mà tôi cầu nguyện cho bạn”[86].  Một thư khác cho mẹ: “Sống một mình với Đấng con yêu mến, linh hồn và trái tim con luôn gần gũi Mẹ và con tin rằng nếu con thực sự đang ở nhà với Mẹ, thì cũng không gần gũi đến thế đâu”[87]. Để kết thúc, xin trưng câu chót trong một lá thư của “người chị đầy yêu mến” quả quyết với “em trai” và là bạn thời niên thiếu, Charles Hallo: “Trên thiên đàng, Êlisabét của em sẽ yêu em hơn nữa.”[88]

Thật tinh tế biết bao trong hạnh phúc gia đình khi, ngày 11-3-1904, đứa con đầu của Guite chào đời, cả nhà đã gọi nó là “Sabeth” để tỏ lòng tôn quí người dì Cát Minh của nó.

Trở thành một nhân tính phụ trội cho Giêsu

Năm 1904 là một năm đặc biệt chan hoà ân sủng: “Tôi đói khát Ngài biết mấy. Ngài tạo ra những vực thẳm trong hồn tôi, những vực thẳm mà chỉ một mình Ngài mới có thể lấp đầy... ”[89] Thiên Chúa như Mặt Trời đang toả chiếu chói chang ánh sáng rực rỡ của Ngài; hãy cầu xin con bướm nhỏ này được đốt cháy đôi cánh trong những tia Mặt trời ấy.”[90]

Cuối tháng 9, chị hân hoan bước vào thinh lặng và cô tịch hoàn toàn: chị tĩnh tâm riêng 10 ngày. Tháng 10, Mẹ Germaine được tái cử làm bề trên cộng đoàn. Tháng 11, cộng đoàn tĩnh tâm, và cuối cuộc tĩnh tâm này, tất cả chị em đều lặp lại lời khấn.

Ngày 21-11 năm ấy, lễ Đức Mẹ dâng mình vào Đền thờ, Êlisabét ở lại chầu Thánh Thể suốt thời gian rảnh rỗi. Đêm về, dưới ánh đèn dầu chập chờn, chị đã viết ra một lời nguyện trên mảnh giấy mỏng manh xé từ một quyển sổ tay cũ. Đó là lời kinh diễn tả cách nồng nàn quyết định của chị quyết hiến mình đến tận cùng cho công cuộc của Thánh Thần Tình Yêu.

Kinh “Kính lạy Thiên Chúa Ba Ngôi... ”[91] này trước tiên trình bày niềm khao khát chiêm niệm của chị muốn trở nên “một nơi ở ưa thích” cho Chúa Ba Ngôi, tại nơi đó, “hoàn toàn tỉnh thức trong đức tin”, Êlisabét sẽ luôn có mặt, “với cả tấm lòng”, “mỗi lúc một được Chúa đưa vào sâu hơn trong mầu nhiệm vô biên”. Một cuộc viễn hành nội tâm thật tuyệt!

Trong mộng ước yêu thương, chị nhìn ngắm một Khuôn Mặt nhân loại và nhắc lại Thánh Danh Chúa: “Lạy Đức Kitô yêu dấu, đã chịu đóng đinh vì yêu, con muốn là một hiền thê của Trái tim Chúa... , yêu Chúa đến chết vì yêu!”

Ngay cả một Êlisabét Chúa Ba Ngôi vẫn cảm thấy khoảng cách giữa lý tưởng và thực tế: “Quên mình hoàn toàn” để chỉ còn là “một tia sự Sống” của Đức Kitô. Chị biết điều đó thật khó, nhưng chị cũng biết phải làm cách nào. Chị sẽ phó mình mặc cho “Hành vi sáng tạo” của Thiên Chúa: “Con cảm thấy mình bất lực và con xin Chúa hãy cho con được mặc lấy chính Chúa! ’”.

Để đạt đến sự tái sinh này, chị sẽ thốt lên hai tiếng “Xin Vâng” triệt để của Mẹ Maria trong ngày truyền tin: “Lạy Thánh Thần Tình Yêu, xin hãy ngự xuống trong con‘”. Chúa Thánh Thần sẽ thực hiện “trong linh hồn tôi có thể nói là một cuộc nhập thể của Ngôi Lời: Ước gì tôi trở nên một nhân tính phụ trội cho Chúa Giêsu, để Ngài lặp lại ở đó tất cả mầu nhiệm của Ngài”. Khi Chúa Giêsu lấp đầy trọn cuộc sống của chị, chị sẽ đẹp mắt Chúa Cha và, nhìn chị, Chúa Cha chỉ còn thấy “Con Yêu Dấu của Ngài”. Vì thế chị tự hiến cho “Ba Ngôi” không giữ lại gì, trở nên “như một miếng mồi ngon” cho “lửa toàn thiêu” đốt sáng, không bị tiêu hủy nhưng được hoàn tất và thần hóa!

[36] Thư 89
[37] Ghi chú riêng 12
[38] Thư 91
[39] Thư 89
[40] Thư 168
[41] Thư 89
[42] Thư 99
[43] Thư 99
[44] Thư 178
[45] Ghi chú riêng 6
[46] Thư 109
[47] Ghi chú riêng 12
[48] Thư 94
[49] Thư 53
[50] Thư 122
[51] Thư 133
[52] Thư 130
[53] Thư 136
[54] Thư 156
[55] Thư 98
[56] Bài thơ 80
[57] Thư 130
[58] Thư 142
[59] Thư 123
[60] Thư 136
[61] Thư 130
[62] Ghi chú riêng 13
[63] Thư 152
[64] Bài thơ 94
[65] Thư 169
[66] Rm 12,1
[67] Thư 156
[68] Thư 177
[69] Thư 169
[70] Thư 254
[71] Thư 168
[72] Thư 175
[73] Thư 121
[74] Thư 131
[75] Thư 140
[76] Bài thơ 54
[77] Thư 113
[78] Ghi chú riêng 13
[79] Thư 172
[80] Thư 185
[81] Thư 192
[82] Bài thơ 88
[83] Thư 170
[84] Thư 292
[85] Thư 182
[86] Thư 175
[87] Thư 141
[88] Thư 342
[89] Thư 190
[90] Thư 203
[91] Ghi chú riêng 15, ở phụ lục. Kinh hiệp nhất với Chúa Ba Ngôi do Elisabeth soạn trong sách Sống Nội Tâm trang 184

(còn tiếp)

Cát Minh Nha Trang

Tr Trước | Mục Lục | Tr Sau

Đọc nhiều nhất Bản in 11.02.2005. 06:15