Dân Chúa ? | Liên Lạc |
RSS Feeds
Tháng 10/08
Album Được Xem Nhiều Nhất
Cả vạn người tham dự thánh lễ tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội do Đức Tổng chủ sự- Đồng Đinh 15.9.08 Ngày lễ Mẹ Sầu Bi
- Công an lập rào chắn hai đầu Phố Đức Bà?
- Cuộc Kính Viếng Giữa Những Tràng Pháo Tay
- Đại Hội La Vang lần thứ 28
10 Bài Mới Nhất
- Đã có “chỉ đạo” báo chí trong vụ xử 2 phóng viên
- Tôi cũng muốn nói lên sự thật
- Cái bẫy ngôn từ của Cộng sản Việt Nam
- 'Đi gặp cụ Mác, cụ Lê?'
- Mùa bội thu
- Hình ảnh Sứ quán Mỹ ghé linh địa Đức Bà ngày 10.10.08
- Hoan hô Tân Độ!
- Nhà thờ Mạc Thượng bị quấy phá, đe doạ
- Các Dân biểu Mỹ tố cáo VN đàn áp giáo dân, người biểu tình và giới blogger
- Nhóm Hành Hương Caminopilger tại Đức hiệp thông cùng Tổng Giáo Phận Hà Nội
Sách Online
- Như Lời Cầu Kinh Anthony De Mello, Hương Vĩnh chuyển ngữ
(83-85) - Góp Bánh Cho Đời Lm Giuse Trần Đình Long, SSS
- Chúa có mặt là con vui! Cát Minh Nha Trang
- Ngày Mai E Rằng Quá Trễ Lm Giuse Trần Đình Long, SSS
Những Sự Thực Lịch Sử Về Chùa Báo Thiên, Nhà Thờ Lớn Hà Nội Và Phật Giáo Việt Nam
§ Cao Thế Dung
Bài I:
Lời Tác Giả: Chúng tôi viết loạt bài khảo cứu này, về chùa Báo Thiên xưa, toà Khâm sứ cũ, Nhà thờ lớn và khu Nhà Chung, Tổng giáo phận Hà Nội hiện nay, không ngoài mục đích đi tìm SỰ THỰC trong muôn một với ước mong góp công vào nỗ lực chung để sáng tỏ đâu là sự thực để trả lại sự thực cho SỰ THỰC LỊCH SỬ.
Viết về các đề tài tôn giáo vốn rất nhậy cảm và tế nhị, dễ gây ra tranh luận và bài bác, kể cả hiềm khích ở phía này hay phía khác. Dù vậy, với tâm thành, chúng tôi cố gắng hết sức giữ sự vô tư cần phải giữ của người cầm bút mà chốc đà đến nay chúng tôi đã được tròn 50 năm bút nghiệp liên tục, kể từ ngày chập chững viết cho nhật báo Ngôn Luận và Văn Nghệ Tiền Phong (1958).
Trải qua 50 năm bút nghiệp với bao nhiêu sóng gió bão bùng cũng là do một ngòi bút gây ra. Chúng tôi thường tự an ủi: "Đã mang lấy nghiệp vào thân! Thì đừng trách lẫn trời gần trời xa" (Nguyễn Du). Một văn hào Trung Hoa xưa đã tán thán cho cái thân thế văn chương bút nghiệp, than thở rằng: "Ta hồ văn chương chi sự! Thốn tâm thiên cổ"! Hỡi ôi là chuyện văn chương, đau lòng ngàn xưa! Phần chúng tôi thì rất bằng lòng và trìu mến cái "ta hồ chi sự ấy". Xin có đôi lời mở đầu.
Dẫn Nhập: Khởi Từ Một Biến Cố và Một Lá Thư của Sư Thích Trung Hậu
Một hình thái tranh đấu bất bạo động đã diễn ra ở Hà Nội chưa từng có trong lịch sử tranh đấu bất bạo động từ thời danh nhân Mohandask Gandhi (1869-1948) ở Ấn Độ, là bậc Thánh cho đến danh nhân Mỹ da mầu, Mục sư Martin Luther King (1929-1968) lãnh đạo phong trào đấu tranh cho Dân quyền (The Civil rights): Ngày 18-2-2007, gần 2000 giáo dân Hà Nội kéo đến khu Nhà Chung Hà Nội đòi chính quyền trả lại toà Khâm sứ cũ: Rất trang trọng và kính cẩn, dẫn đầu với cây Thánh giá cổ kính, giương cao. Tả hữu hai bên là hai chức sắc, quốc phục trắng cầm hai cây nến lớn như cây đình điệu, vang vang lời kinh cầu, tiến thẳng đến trước toà Khâm sứ cũ. Nhất loạt như thốt ra từ một cửa miệng, ngàn người như MỘT NGƯỜI cùng ca hát: Đoàn HỢP CA vĩ đại nhất chưa từng có, chưa từng xẩy ra như thế trong thế giới đấu tranh bất bạo động. Với Nhạc trưởng NQK dật dờ trong ánh sáng lung linh đầy truyền kỳ, gần 2000 ca viên áo quần tề chỉnh, "muôn vẻ, muôn mầu" trong đêm Đông Thăng Long. Cuộc tranh đấu bằng lời cầu nguyện, bằng lời ca tiếng hát cầu nguyện: "Hãy trả lại ta những gì của ta". Đây là cuộc VÙNG LÊN của lời cầu nguyện và ca hát với vũ khí TÂM THANH tuyệt vời.
Một tháng trời biểu tình đã chấm dứt vào ngày 1 tháng 2, khi TGM Ngô Quang Kiệt của TGP Hà Nội nói rằng nhà nước đã đồng ý hoàn trả lại Toà Khâm Sứ cũ tại Hà Nội cho giáo hội. Ngày hôm đó, những người biểu tình đã tháo gỡ cây Thánh giá xuống và dẹp bỏ lều bạt trong mảnh đất gần Nhà Thờ Chính Toà Thánh Giuse và trở về nhà họ. (Independent Catholic News).
Đột nhiên, ngoài sự tưởng tượng vì phi lý và đầy sai trái, đài BBC trong buổi phát thanh ngày Thứ Tư 20-2 và Thứ Bảy 23-2-2008 tường thuật: "Phật giáo thắc mắc vụ toà Khâm sứ" qua lá thư của HT Thích Trung Hậu, Trưởng ban Văn hoá, đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam, một Giáo hội của Nhà nước, do Đảng CSVN lãnh đạo và điều hướng ở trong mặt trận Tổ quốc. Hoà thượng lên tiếng: "GHPGVN đã liên tục là sở hữu chủ của cơ sở này trong 825 năm, tức cho đến năm 1883 khi bị chính quyền thực dân Pháp cưỡng chiếm rồi giao cho Thiên Chúa giáo, cụ thể là Giám mục Puginier sử dụng.
Căn cứ các tài liệu lịch sử, chùa Báo Thiên là một trong bốn di sản văn hoá lớn của Phật giáo được xây cất từ năm 1057 dưới thời vua Lý Thánh tông và khu đất Toà Khâm sứ mọc lên từng là một phần đất mà chùa Báo Thiên toạ lạc". Và rằng: "chùa Báo Thiên, một di sản văn hoá đồ sộ vào bậc nhất nước ta toạ lạc trên khu đất rộng vài ngàn mét vuông, đã bị đập phá rồi xây dựng Nhà thờ Lớn Hà Nội và Toà Khâm sứ lên trên đó". (Thư đề ngày 16-2-2008 – Đài BBC loan tải).
Lá thư nêu trên, HT Thích Trung Hậu chỉ nói được duy nhất một điều đúng: chùa Báo Thiên dựng năm 1057 dưới triều vua Lý Thánh tông, phần còn lại hoàn toàn sai lạc.
Chỉ một bức thư không dài, tuy là văn kiện chính thức của GHPGVN, mà đã chất chứa năm, bẩy điều hoàn toàn sai sự thực thuộc về Lịch sử và Phật giáo Việt Nam. Qua lá thư nêu trên của HT Thích Trung Hậu chứng tỏ Hoà Thượng Trung Hậu và các vị ở chùa Quán Sứ, Hà Nội đã không hiểu một chút nào về nhà chùa trong tương quan với các định chế Hình luật, Lễ luật, Hộ luật từ năm 1945 trở về các triều đại Nguyễn, Lê, Trần, Lý. Những sai lầm của HT Thích Trung Hậu, đúng hơn là Hoà Thượng đã không hiểu Lịch sử, nhất là Lịch sử Phật giáo VN vào những thập niên 1870-1880-1900. Tôi sẽ lần lượt trình bày sau đây. Thí dụ HT Thích Trung Hậu viết: "Khu đất mà toà Khâm Sứ MỌC LÊN từng là một phần đất mà chùa Báo Thiên toạ lạc". Hết sức sai lầm. Không có một toà Khâm sứ nào mọc lên ở khu Nhà Chung, Hà Nội. Toà nhà gọi là toà Khâm sứ cũ là nhà Quản lý của địa phận Hà Nội từ năm 1886 cho đến năm 1951 và từ năm 1959 đến ngày bị Chính quyền cưỡng chiếm. Chỉ có một Toà Khâm sứ xây cất ở Huế, cạnh nhà thờ Phủ Cam, khánh thành ngày 1-5-1928. Năm 1951 Tân Khâm sứ cạnh Quốc Trưởng Bảo Đại và Chính phủ Quốc gia VN, TGM John Dooley từ toà Khâm Sứ Huế ra Hà Nội. Vì chưa xây được trụ sở mới, GM Trịnh Như Khuê cho Khâm Sứ John Dooley mượn nhà Quản lý để làm toà Đại diện Toà Thánh Vatican, gọi là NUNCIO. Tôi sẽ trình bày cặn kẽ ở bài khảo cứu này. Thư của HT Thích Trung Hậu gửi Thủ tướng chính phủ CHXHVN nêu trên, nhấn mạnh vào một điểm then chốt, về chùa Báo Thiên: "Thực dân Pháp cưỡng chiếm rồi giao cho Thiên Chúa giáo cụ thể là Giám mục Puginier sử dụng". Chỉ một đoạn văn ngắn này, HT Trung Hậu đã phạm những sai trái sau đây, đúng hơn Hoà Thượng chẳng hiểu gì về Lịch sử cả, giai đoạn "nước mất nhà tan" đầy máu, nước mắt và oán hờn giặc cướp nước vào những năm 1882-85... Chẳng phải một chùa Báo Thiên bị Thực dân phá mà còn các chùa khác như chùa Báo Ân, chùa Khán Sơn (trên núi Khán), kể cả điện Kính Thiên nữa và v.v... Các chùa trong đó có chùa Báo Thiên do Công binh Pháp (Génie) san bằng để xây các doanh trại và cơ sở quân sự cũng như trụ sở các cơ quan hành chánh mà nền Bảo hộ (Le Protectorat) vừa được thiết lập do Hoà ước Việt-Pháp 1884, gọi là Patenôtre.
Năm 1883, Thực dân Pháp khởi sự phá thành Hà Nội do Nhà Nguyễn xây. Các tướng giặc phá thành Hà Nội đầy hung hiểm và cao ngạo, từ tướng Bouët đến các Đề đốc Courbet, De Courcy. Nhưng qui mô phải kể từ đầu năm 1884, Trung tướng Millot sang Hà Nội thay thế De Courcy. Đại tá Guerrier, Tham mưu trưởng bộ Tổng Tư lệnh Pháp là người đốc xuất phá thành Hà Nội theo qui hoạch của Millot và BS Harmand, Tổng Trú sứ Pháp (Résident Général). GM Puginier xin khu đất chùa Báo Thiên đã do Công binh Pháp san bằng. Tiên khởi xây nhà Thờ Lớn với lý do dành cho quan chức văn, võ Pháp, binh lính Pháp và Pháp kiều có chỗ đi lễ và phụng vụ. Thừa sai Marcou, MEP, tức Cố Thành là Cha Sở đầu tiên của Giáo xứ thành phố Nhà Thờ lớn và là Quản lý đầu tiên của nhà Quản lý nay gọi là toà Khâm Sứ cũ, chỉ tồn tại có 8 năm (1951-1959). Tôi trình bày chi tiết sau theo trình tự và lớp lang.
Cần lưu ý HT Trung Hậu mấy điểm cơ bản sau đây: 1- Chùa Báo Thiên mới do Tổng đốc Tôn Thất Bật dựng lại trên nền chùa cũ đã bị cháy là chùa TƯ, không phải là chùa QUAN hay chùa Sắc tứ (được vua sắc phong, thành chùa Công). Dân quen gọi là chùa Quan Thượng Huế (khác với chùa Báo Ân gọi là chùa Quan Thượng tức chùa do Khâm lược sứ Nguyễn Đăng Giai xây). 2- Đất đai khu chùa Báo Thiên là công điền công thổ của thôn Tiên Thị, huyện Thọ Xương, KHÔNG PHẢI LÀ ĐẤT CỦA CHÙA, gọi là Tam Bảo điền. 3- Công binh Pháp phá chùa Báo Thiên theo qui hoạch (zoning) của Quân đội Thực dân và Chính quyền Bảo hộ chứ KHÔNG PHẢI PHÁ CHÙA ĐỂ XÂY NHÀ THỜ LỚN. 4 – GM Puginier xin được khu đất này một cách hợp pháp do các Kỳ mục làng Tiên Thị sang nhượng theo thủ tục của Luật Điền địa triều Nguyễn (nêu rõ ở phần sau).
Về Giám Mục Puginier
Sử sách Pháp đã nói rõ GM Paul Puginier là một đại công thần của Đô hộ Pháp ở xứ Bắc kỳ. Điều đó rất đúng. GM Puginier cũng là LINH HỒN trong cuộc xâm lăng Bắc kỳ của Thực dân Pháp qua 2 lần Pháp đánh chiếm Hà Nội và Bắc kỳ năm 1873 và 1882. GM Puginier là một trong mấy "kiến trúc sư" thiết lập nền Bảo hộ Pháp đầu tiên ở Bắc kỳ sau năm 1884. Trong phạm vi tôn giáo, GM Puginier không có công gì nhiều ở địa phận Tây Đàng Ngoài (tiền thân của gph Hà Nội) so với các vị Tiền nhiệm. Trái lại GM là một trong mấy nguyên nhân làm cho thảm kịch Văn Thân "sát Tả" (giết CG) bùng to ở Địa phận Tây Đàng Ngoài trong khi các địa phận Đông Đàng Ngoài: Bùi Chu, Thái Bình, Hải Dương, Hải Phòng, Bắc Ninh, Sơn Tây thoát hiểm do các Giám mục Tây Ban Nha Dòng Đa Minh chống lại cuộc xâm lăng Bắc kỳ của Pháp năm 1873 và 1882. GM Puginier cũng phải lãnh một phần trách nhiệm tinh thần trước thảm kịch máu và nước mắt ở Địa phận Tây Đàng Ngoài do Văn Thân "Bình Tây sát Tả": 264 giáo xứ, 163 thánh đường và nguyện đường bị phá huỷ, 4800 giáo dân bị giết. (Xem: Cao Thế Dung, Việt Nam Công giáo sử - TÂN BIÊN, Q. IV – 1865-1975 – Phụ lục 1976-2000. Q. I, II, và III đã phát hành năm 2002 và 2005 do cơ sở DÂN CHÚA xuất bản, 3 quyển 2213 trang).
Dù vậy, đấy là việc khác. Việc nào ra việc ấy. Các sử gia VN có học vị Tiến sĩ Sử học đã viết nhiều về GM Puginier, có thể nói quá đầy đủ với càc tài liệu gốc lấy từ Văn khố Pháp ở Balê và Aix-en-Provence, kể cả Văn khố của Hội Thừa Sai Ba Lê, MEP. Đáng kể hàng đầu là Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu, Tiến sĩ Sử học (Ph.D) ĐH Madison, Wisc. Hoa Kỳ 1984 với tác phẩm đồ sộ "Các vua cuối Nhà Nguyễn" (3 tập), và Tiến sĩ Cao Huy Thuần, Tiến sĩ quốc gia ĐH Ba lê (1969) qua tác phẩm "Les Missionnaires et la politique coloniale française au Viet Nam (1857-1914) – Các Thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại VN). Qua hai tác phẩm sử giá trị này của hai sử gia uy tín và danh tiếng, không ai có thể nói hai ông chống Kitô giáo hay bài xích Đạo. KHÔNG, rõ rệt là không. Hai ông chỉ trình bày sự thực theo tài liệu gốc về các Thừa sai MEP trong đó GM Puginier quả rằng đã phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng đối với đất nước VN trong thời của Giám mục, mang tên Việt là Phước, từ Sàigòn ra Hà Nội. Đấy là VIỆC KHÁC. Việc xây Nhà thờ lớn Hà Nội lại là một VIỆC KHÁC. Đây là việc hoàn toàn hợp pháp theo Hương ước làng Tiên Thị và Luật lệ Nam triều về điền địa và thủ tục sang nhượng trong thẩm quyền của Tri huyện sở tại Thọ Xương là Hoàng Cao Khải và quyền Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ. Hơn một lần lập lại: Khu đất chùa Báo Thiên là đất của làng Tiên Thị, thuộc địa bạ của làng, không phải là Tam Bảo điền.
Địa Bạ Và Luật Điền Địa VN
Các vị quốc doanh ở chùa Quán Sứ Hà Nội (GHPGVN) có thể đến Thư viện Hán-Nôm Hà Nội tìm đọc bộ "Địa bạ Bắc kỳ" do Trường Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) trước năm 1945 sưu tầm, tìm phần "Địa bộ từ 1805-1875" sẽ không khó khăn kiếm được địa bạ làng Tiên Thị và h. Thọ Xương trong đó có đất đai chùa Báo Thiên, là đất của làng, không phải đất chùa (Tam Bảo điền). Đòi hỏi như trên, đủ tỏ rằng Thầy Thích Trung Hậu vừa sai, vừa không hiểu luật pháp xưa và nay về quyền sở hữu đất đai, đã quá 20 năm Luật triều Nguyễn không còn Hồi Tố (Về bộ Địa bạ vô giá kể trên, gồm 4290 cuốn thuộc Bắc Kỳ, từ Ninh Bình trở ra, tỉnh Hà Nội đầy đủ. Trung Kỳ: 5354 cuốn; Nam Kỳ, trước khi Pháp chiếm: 454 cuốn). Địa bạ Tiên Thị - Thọ Xương cho ta biết rõ ràng: đất chùa Báo Thiên là đất của làng, không phải Tam Bảo điền. HT Thích Trung Hậu và Lm Trương Bá Cần nhớ cho rằng VN là nước văn minh tiền tiến của nhân loại về pháp chế ĐIỀN ĐỊA. Năm Kỷ tỵ (1449), cách đây 559 năm, vua Lê Thái tông ban hành bộ luật Điền sản 14 điều, còn gọi là HỘ LUẬT (Cương Mục, Chính biên, Q. XVIII, tt 24, 25, 26). Thầy quốc doanh Thích Trung Hậu nên tìm đọc bộ Quốc triều Hình luật ban hành đời vua Lê Thánh tông đời Hồng Đức (1470-1497) trong đó luật ĐIỀN SẢN gồm 49 điều (từ điều 342 đến điều 391). (Xem: Quốc triều Hình luật, bản dịch của Ts Nguyễn Ngọc Nhuận và Ts Nguyễn Tá Nhí. NxbTpHCM, 2003, tt. 152-156). Trên 5 thế kỷ trước, luật pháp VN đã văn minh như thế. HT Thích Trung Hậu cần đọc điều 344, bộ Luật đã dẫn, qui định xử phạt kẻ "nhận bậy ruộng đất của người khác". HT quốc doanh cần tìm đọc bộ luật tiền tiến của thế giới nêu trên, điều 372 qui định xử tội "quan quân không theo chế độ ruộng đất mà lạm chiếm"...
Từ Nhà Thờ Lớn đến Chùa Báo Ân và Chùa Báo Thiên
Nhà Thờ Lớn Hà Nội xây trên nền Chùa Báo Thiên chứ không phải là chùa Báo Ân mà sử gia kinh tế sử Đặng Phong, một đảng viên lão thành của ĐCSVN đã xuyên tạc và cố ý bôi nhọ qua bộ sách đồ sộ, 2 tập do Nhà xuất bản quốc doanh KHXH in và phát hành: LỊCH SỬ KINH TẾ VIỆT NAM, Chương II, không liên quan gì đến Công giáo, chủ đề là "những cơ sở hạ tầng" trang 39, tác giả in hình chùa Báo Ân năm 1886 (nửa trang) trang 40 phía sau, GS Phong lại dùng trọn trang in hình Nhà Thờ Lớn Hà Nội với chú thích: "Nhà Thờ Lớn Hà Nội được xây từ năm 1886 trên vị trí của chùa Báo Ân"!. Hoàn toàn "tào lao", trắng trợn xuyên tạc theo kiểu "lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia". GS Phong là sử gia kinh tế số một của Đảng CSVN và Nhà nước CHXHVN mà là như thế đó.
Pháp cho Công binh phá huỷ chùa Báo Thiên và toàn bộ khu Trung tâm Thăng Long, là một quần thể kiến trúc có chùa Báo Ân, Báo Thiên "chiếm một diện tích khá lớn suốt một khoảng đất ven hồ Gươm từ các toà nhà Bưu Điện hiện nay đến tận đường Ngô Quyền, khu vực khách sạn Thống nhất bây giờ. Theo tác giả bộ sách lịch sử kiến trúc Hà Nội: "Chùa Báo Ân xây dựng vào năm 1842 là một quần thể kiến trúc tôn giáo, chiếm một diện tích khá lớn – Chùa có quy mô ít thấy, toàn bộ có 100 gian, 36 nóc, và có những thành phần kiến trúc đáng chú ý nhưng chỉ tồn tại có 50 năm. Vào năm 1892, toàn bộ khu chùa bị Pháp phá để lấy đất xây nhà Bưu Điện và phủ Thống Sứ" (Đặng Thái Hoàng, Kiến trúc Hà Nội thế kỷ XIX – thế kỷ XX. Nxb HN 1999, tr. 12, "chùa Báo Ân".
Đối chiếu với tài liệu cũ xây thành phố Hà Nội thời Đốc lý Halais, Thị trưởng đầu tiên của thành phố Hà Nội (ta gọi là Đốc lý), phần viết về chùa Báo Ân của tác giả Đặng Thái Hoàng hoàn toàn chính xác. Ấy thế mà GS Đặng Phong, sử gia Kinh tế sử, bóp méo và xuyên tạc vẫn cứ bóp méo và xuyên tạc. Phải chăng tác giả "Kinh tế VN thời nguyên thuỷ" là một đảng viên ĐCSVN nên mới có sự cố như trên chăng?
PGVN gần 2000 năm lịch sử là một siêu hệ thống theo truyền thống "đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt", "Chùa nào Sư ấy". Chùa Báo Thiên bị cháy đã do Tổng trấn Bắc Thành triều Tây Sơn phá đi năm 1791 lấy gạch xây công trình khác. Chùa không còn, chỉ còn lại nền chùa rất rộng thuộc công thổ làng Tiên Thị, huyện Thọ Xương (nay là quận Hoàn Kiếm). Đầu triều Tự Đức (1848), Tổng đốc tỉnh Hà Nội là Tôn Thất Bật, một người nhân hậu, sùng mộ đạo Phật, mở cuộc quyên góp xây chùa mới trên nền cũ chùa Báo Thiên. Do việc này, Thượng Bật mất chức Tổng đốc Hà Nội, đổi vào làm Tổng đốc Nam-Ngãi. Sau ông bị tội chết đầy oan khuất do bị nghi liên hệ đến vụ Hồng Bảo âm mưu thoán nghịch (tôi trình bầy chi tiết ở phần sau). Có lẽ lo sợ bị liên luỵ, vị Sư trụ trì bỏ đi, dân làng Tiên Thị không sao tìm ra tông tích sư đến chùa nào và ở đâu. Từ bấy giờ đến năm 1883, chùa Báo Thiên tức chùa Quan Thượng Huế không có sư trụ trì. Trung Tướng Millot thay Phó ĐĐ De Courcy mới bắt đầu qui hoạch dựng khu quân sự, chùa Báo Thiên ở trong khu vực. Tướng Millot về Pháp, Tướng Brière de l'Isle thay thế ngày 8-9-1884, tiếp tục cho Công binh (Génie) phá một phần thành Hà Nội cũ. Từ thời Tướng Millot làm Tổng Tư lệnh (1884), Đại tá Guerrier làm Tham mưu trưởng là người trực tiếp đốc suất thực hiện qui hoạch quân sự. Guerrier từng đem 600 quân vào Huế, đặt vua Hàm Nghi lên ngôi và chính ông ta dự lễ đăng quang rồi lại trở về Hà Nội.
Thư của HT Thích Trung Hậu nêu trên HOÀN TOÀN SAI LẠC. Thêm vào đó, nhà Hà Nội học Nguyễn Vĩnh Phúc qua cuộc nói chuyện với phóng viên đài BBC ngày 20-2-2008, ông phát biểu đứng đắn, dung dị, "về việc xây Nhà Thờ Lớn thì nay đã là chuyện lịch sử nên cứ để như thế". Chúng tôi kính trọng thái độ đàng hoàng như nhà Hán Nôm uyên thâm Vĩnh Phúc. Tôi rất trân trọng ông qua công trình dịch thuật Hán Nôm của ông, tiêu biểu qua các câu đối Hán Nôm ở đền Ngọc Sơn, Hà Nội (xem: Phạm Đức Huân, Tháp Bút Đài Nghiên Đình Trấn Ba. NxbVHTT, HN 2006, phần những câu đối dịch Hán Nôm của Nguyễn Vĩnh Phúc, tt 220, 221 đến 228 ...). Nhưng nhà Hà Nội học Nguyễn Vĩnh Phúc chắc là đã nhớ lộn một vài sự kiện lịch sử khi cho rằng người Pháp đã hai lần tổ chức xổ số để lấy tiền xây nhà thờ lớn. Không đúng như vậy. Nhà thờ lớn khánh thành ngày 24-12-1886 do các nguồn tài chánh mà Gm Puginier quyên góp người Pháp. Xây nhà thờ Cửa Bắc mới phải xin phép Đốc lý Hà Nội cho mở cuộc xổ số kiến thiết vào năm 1927, thu được 20,000 đồng ĐD. Dự án do KTS Pháp Hébrard vẽ mẫu, tốn đến 80,000$ (Nhà thờ Cửa Bắc khánh thành ngày 1-2-1931). Thượng toạ Thích Không Tánh, GHPGVNTN qua cuộc phỏng vấn của đài BBC nêu trên đã cương trực và thẳng thắn phản bác lại lập luận sai lầm của HT Trung Hậu, cho rằng đã xa xưa rồi, không thể HỒI TỐ và như thế HT Trung Hậu "đã làm tay sai cho Chính quyền" và nói thêm: GHPGVN mới ra đời gần đây thôi và sự cố lịch sử ấy xẩy ra thời Thầy Trung Hậu "chưa đẻ". Thực vậy, PGVN không tổ chức thành một hệ thống giáo quyền. PGVN chỉ tổ chức thành Giáo hội vào năm 1964 do Đại lão Hoà Thượng Thích Tịnh Khiết làm Tăng Thống và Thượng Toạ Thích Tâm Châu được Đại hội suy cử làm Viện trưởng Viện Hoá Đạo ngày 12-1-1964 tại Sàigòn. GHPGVN Thống nhất có tư cách pháp nhân nhưng chỉ có tư cách pháp nhân, sở hữu và thừa kế từ năm 1964 về sau chứ không có quyền Hồi Tố từ 1964 về trước. Do vậy, VN Quốc tự ở quận III Sàigòn và khu đất xây chùa do chính phủ cống hiến cho GHPGVNTN thì chùa với ngọn tháp hoành tráng và khu đất thuộc quyền sở hữu và kế thừa của GHPGVNTN.
HT Thích Trung Hậu do không hiểu, hoặc chỉ hiểu chút ít về PGVN, lịch sử, truyền thống, Nhà nước (triều đình) và Nhà Chùa nên đã phạm sai lầm thật quá đáng. Nội dung lá thư viện dẫn nêu trên, khởi từ những sai lầm và thiếu hiểu biết về PGVN của HT Trung Hậu, chúng tôi (CTD) viết bài khảo cứu này, tuy dài nhưng cần thiết do chiều dài của lịch sử PGVN, ước mong nói lên được đôi điều sự thực đã bị những lớp váng thời thế, chính trị và phe phái phủ mờ. Nay là lúc, dù đã quá muộn, phải làm cho tan, cho sạch những lớp váng cay nghiệt đã phủ lên các biến cố và sự kiện lịch sử đầy oan trái và cừu thù như PHÁ CHÙA XÂY NHÀ THỜ.
Lai Lịch Kỳ Vĩ của Chùa Báo Thiên
Chùa Báo Thiên với tháp Báo Thiên là một di sản kỳ vĩ vô giá từ đời vua Lý Thánh tông (1054-1072), dựng chùa vào thời nước Đại Việt hùng cường thịnh vượng nhất Á Đông, "bình Chiêm phạt Tống" vượt cả Trung Hoa. Cương Mục chép: Mùa Xuân nước Chân Lạp (Cao Miên) đến Thăng Long triều cống, Chiêm Thành sang triều phục (1056). Tháng Giêng, cùng năm (Bính Thân), Vua sai "dựng chùa Sùng Khánh ở phường Báo Thiên, xây tháp 12 tầng, trích trong kho lấy một vạn hai ngàn cân đồng (12,000) đúc quả chuông lớn (một cân ta có 16 lạng. Một lạng = 604 gr.). Chính nhà vua làm bài minh khắc vào chuông, (Khâm định Việt Sử thông giám Cương mục, Chính biên, Q. III, t. 22. Ghi chú: Bài minh tức minh văn khắc trên các đồ kim khí như chuông, đỉnh hoặc trên bia đá). Năm sau, Đinh dậu (1057), tháng Giêng, xây bảo tháp Đại thắng tự thiên (tức đại thắng là do từ Trời), cao vài chục trượng (mỗi trượng 10 thước ta bằng 4 mét Tây) theo kiểu 12 tầng tức là tháp Báo Thiên (báo đáp ơn Trời) (Ngô Sỹ Liên và các Sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký Toàn thư, Q. III, kỷ Nhà Lý "Thánh tông hoàng đế", t. 2a). Nhiều sách sử ca tụng tháp Báo Thiên, được liệt vào "tứ đại khí" tức là bốn công trình đúc kim khí lớn nhất của Đại Việt, (Xem: Trần Quốc Vượng, chủ biên, Nghìn xưa Văn hiến. Nxb HN, HN 2000, tr. 20) – Tháp khắc 3 chữ ĐẠO LÝ THIÊN, "tỏ ý tư tưởng của đấng tối cao xông lên tận trời. Nhà thơ thời Trần là Phạm Sư Mạnh trong bài "Đề Báo Thiên tháp" hình dung là "cây cột trụ chống trời, cao sừng sững trội hẳn lên để giữ vững kinh kỳ" (Chu Quang Trứ (GS), Mỹ thuật Lý Trần – Mỹ thuật Phật giáo. Nxb MT, HN 2001- Ghi chú: bộ sách rất giá trị và phong phú này do cố HT Thích Mãn Giác và HT Thích Minh Thông (Cali) – Cộng đồng Phật giáo Á châu tại Hoa Kỳ tài trợ việc in ấn). Phạm Sư Mạnh, Tiến sĩ triều Trần Minh tông (1314-1329), học trò Chu Văn An, với "thần hứng" viết bài minh giá trị cao vời về triết lý Nhà Phật qua nghĩa lý ĐẠO LÝ THIÊN, ông còn là tác giả văn bia "Sùng Nghiêm sự Vân Lỗi sơn đại bi nham ký", (Xem: Lại Nguyên Ân, chủ biên, Tự điển Văn học Việt Nam. Nxb ĐHQG Hà Nội, HN 2001, tr. 480-481). Năm 1407, giặc Minh Trung Hoa phá chuông Qui Điền và chuông Báo Thiên, đúc làm binh khí. Chùa "trôi nổi" theo vận nước. Đô hộ Minh đại bại, phải rút về nước. Trước khi bại binh Tầu rời Thăng Long (ngày 29-12-1427), Tổng binh Vương Thông ra lệnh phá huỷ tháp chùa Báo Thiên "cho hả cơn giận vì thua to, nhục nhã". Sử gia Trung Hoa triều Minh phẫn nộ than thở: "Việc đó (tức thua Lam Sơn khởi nghĩa) thật thương tổn đến uy tín của Trung Quốc và để tiếng cười cho chốn "man di" (sic!). Ai là kẻ cầm cân trong nước bấy giờ sao mà thảm hại lắm thế!" (Xem: Cao Hùng Trưng, An Nam chí nguyên. Trường Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) dịch và xuất bản, tr. 48). Đại anh hùng dân tộc Lê Lợi lên ngôi hoàng đế (1428-1433) lấy lại tên nước Đại Việt, xoá bỏ tên Đông Quan thành do Đô hộ Minh cải tên Thăng Long, đặt là Đông Đô, xây lại đền, chùa và các tháp bị quân Minh phá hoại. Vua sai phục chế tháp Báo Thiên – chùa Báo Thiên, đặt Tăng quan coi chùa, vẫn ở địa vị chùa cấp quốc gia. Chùa do Hoà Thượng Thích Huệ Hồng trụ trì. Sử Cương Mục chép, năm Ất Mão (1435) vua Lê Thái tông "ban cho sư Huệ Hồng áo phẩm phục màu lục pha đỏ - Lời chua: Huệ Hồng, Sư chùa Báo Thiên, xem: Cương Mục, Chính biên, Q. XVI, t. 31).
Chùa Báo Thiên Trong Cuộc Biển Dâu
Về điềm lành, điềm dữ, có người tin, có người cho là hoang đường nhảm nhí. Mùa Hè năm Bính tuất (1406) dưới triều Hồ Hán Thương "trời quang mây tạnh", Đại Việt sử ký Toàn thư chép: "tháng 6, đỉnh tháp Báo Thiên đổ" (Toàn thư, Q. VIII, kỷ Nhà Trần – Thiếu đế - Phụ: Hồ Quý Ly và Hán Thương, t.51b). Cuối năm, ta mất nước. Quân Tầu do Trương Phụ thống lãnh cướp Thăng Long ngày 20 tháng Chạp, cùng năm Bính tuất (1406).
Đầu triều Lê, tháp Báo Thiên được phục chế, qui mô nhỏ hơn. Tháp lại bị xập vào năm 1574. Phủ chúa Trịnh xây ở phía Nam tháp này. (Xem: Lê Văn Lan (PhGS), Hà Nội trong Đô thị cổ Việt Nam. Nxb KHXH, HN 1989, tr. 126).
Năm Bính ngọ (1786) Long Nhưỡng tướng quân Nguyễn Huệ Bắc tiến với danh nghĩa "phù Lê diệt Trịnh". Nhà Trịnh cầm quyền hơn 230 năm sụp đổ. Quân Tây Sơn bắt được Trịnh Khải. Nhà Chúa phải tự tử (1786). Lê Mẫn đế lên ngôi tức vua Lê Chiêu Thống (1787-1788). Vua căm thù họ Trịnh sai đốt trọn Phủ Chúa (còn gọi là Phủ Liêu). Đây là một quần thể kiến trúc nguy nga hoành tráng gần sát chùa Báo Thiên, "bị thiêu rụi toàn bộ" (Lê Văn Lan, sđd, tr, 127). Chùa này là nơi Thái phi Đức bà Sặt, các Quận chúa, phi tần và cả nhà Chúa thường đến chùa lễ Phật, nghe thuyết Pháp, mặc nhiên là chùa cấp quốc gia. Do ảnh hưởng khu Phủ Chúa bị đốt sạch, chùa Báo Thiên bị cháy lây cũng xuống cấp, bỏ hoang.
Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế năm 1788 rồi Bắc tiến đại phá quân Thanh mùa Xuân Kỷ dậu (1789). Vua khoan dung đối với đạo Gia tô gọi là đạo Hoà Lang. Vua lại sùng mộ Phật giáo và Nho giáo, chủ trương phục hưng đạo Phật, tôn tạo lại chùa chiền, thanh lọc hàng tăng lữ. Theo sử gia Trần Trọng Kim: "Vua Quang Trung thấy làng nào cũng có chùa chiền, mà những người đi tu hành thì ngu dốt, không mấy ngjười đạt được cái đạo cao sâu của Phật, chỉ mượn tiếng thần thánh mà đánh lừa kẻ ngu dân, ngài xuống chiếu bắt bỏ những chùa nhỏ ở các làng, đem gỗ gạch làm ở mỗi phủ mỗi huyện một cái chùa thật to, rất đẹp, rồi chọn lấy những tăng nhân có học thức, có đạo đức, ở coi chùa thờ Phật. Còn những người không xứng đáng thì bắt về làm ăn. Ý vua Quang Trung muốn rằng chỗ thờ Phật phải cho tôn nghiêm, mà những người đi tu hành thì phải là người chân tu mộ đạo mới được" (Việt Nam sử lược, T.II, tr. 142, "Chùa chiền"). Chùa Báo Thiên đã bị cháy hoang phế, nằm trong kế hoạch rút bớt chùa nên phá chùa này. Hai đời vua Quang Trung (1788-1792) và Cảnh Thịnh (1792-1801) tuy ngắn, tồn tại 13 năm nhưng lại cho đúc khá nhiều chuông chùa ". Chuông đời Tây Sơn tập trung trong các chùa ở đồng bằng Bắc bộ, trước hết ở Thăng Long và vùng giáp ranh" (Chu Quang Trứ (GS), Mỹ thuật Lý Trần – Mỹ thuật Phật giáo. Nxb MT, HN 2001, tt. 675-683). Lập lại, triều Tây Sơn không coi nhẹ Phật giáo, trái lại phục hưng các chùa ở Bắc thành, đúc chuông mới, dựng văn bia. Về vụ Tây Sơn phá chùa Báo Thiên, Đại Nam Nhất thống chí chép: "Cuối đời Lê, Tây Sơn cho dỡ lấy gạch ngói để làm việc xây dựng, mỗi hòn đá đều có niên hiệu triếu Lý" (ĐNNTC, Thượng Thư Cao Xuân Dục, Tổng tài Quốc sử quán, chủ biên. Q.XIII, tỉnh Hà Nội, mục "Chùa quán" (nơi thờ phụng của Đạo giáo, Đạo Mẫu, Đạo Nội (Đức Thánh Trần) gọi là quán) – Xem: ĐNNTC, bản chữ Nho, hiện tàng trữ tại thư viện The Yenching, Đại học Harvard, Mass. Hoa Kỳ - Cao Xuân Dục đẳng toản tu (Nhật Bản Chiêu Hoà thập lục niên 1941, Đông Kinh (Tokyo) Ấn Độ Chi na Nghiên cứu hội cứ Duy Tân tam niên 1910 An Nam quốc sử quán san bản ảnh ấn – ký hiệu số 3544/0250 – Có thể tham khảo bản dịch của Phạm Trọng Điềm, Đào Duy Anh hiệu đính. Nxb Thuận Hoá, Huế 1996, tỉnh Hà Nội, T. III, tr. 218).
Chùa Báo Thiên chỉ còn là nơi hoang phế trên khu đất khá rộng (bao gồm quận Hoàn Kiếm với khu phố Ba Đình ngày nay, trái tim của Thăng Long . Xem: Nguyễn Văn Uyển, Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX, sđd, tr. 227).
Chùa Quan Thượng Huế
Đầu triều Tự Đức, Tôn Thất Bật được bổ làm Tổng đốc tỉnh Hà Nội kiêm quản tỉnh Bắc Ninh về an ninh quân thứ và giám sát, hàm Binh bộ Thượng Thư kiêm Phó Đô Sát Viện nên gọi là quan Thượng. Đây là đệ nhất Tổng đốc do Hà Nội là tỉnh lớn nhất nước, quan trọng nhất Bắc kỳ, gồm 4 phủ, 12 huyện, nơi đặt trường Thi Hương và 11 trường học công lập, không kể khoảng gần chục trường tư lớn do các bậc đại khoa "ngồi dậy", thêm vài trăm trường làng. Tổng đốc Bật, ông rất được lòng sỹ phu và dân Hà Nội – Kinh Bắc. Thượng Bật mở cuộc lạc quyên xây lại chùa Báo Thiên trên nền cũ của chùa (lập lại). Cũng do xây chùa này, ông bị Đô sát Viện khiển trách "việc này có hại cho đạo Thánh" (đạo Nho). Do vậy ông bị đổi về Quảng Nam, lãnh Tổng đốc Nam-Ngãi.
Về công đức dựng lại chùa Báo Thiên của Thượng Bật, Đại Nam Nhất thống chí chép như sau: "Chùa hiện nay là nguyên Tổng đốc Tôn thất Bật theo chùa cũ mà sửa lại. Những đá xanh còn lại có hình hoa sen là đá mặt tháp có hình bát giác là bệ của tháp đều là vật xưa cả" (Đại Nam Nhầt thống chí, Q. XIII, tr. 218).
Thượng Bật nổi tiếng là một đại thần khoan dung. Vào thời Tự Đức diệt Đạo, ông ngầm "tha Đạo", ông là đại ân nhân của giáo dân và Đạo mục ở Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Gặp vụ Hồng Bảo, hoàng tử trưởng, anh ruột vua Tự Đức (cùng cha khác mẹ) mưu đồ đoạt ngôi vua của em, tức hoàng tử Hồng Nhậm. Vụ thoán nghịch đổ bể, Tổng đốc Tôn Thất Bật bị nghi có liên quan đến vụ này, ông bị tội chết. (Về thân thế, quan trường và thảm kịch của Tổng đốc Tôn thất Bật, xem: ĐN thực lục, Chính biên, T. XXVII, tt. 42-44-114-126-215, 222, 275, 338, 335; T. XXVIII, t.9).
Nhà Nguyễn và Phật Giáo
Xây lại chùa Báo Thiên, Thượng Bật bị vua Tự Đức và Cơ Mật Viện khiển trách cũng như trước đó, năm 1842, Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai bị quở phạt, khiển trách do xây chùa Liên Trì tức chùa Báo Ân, Hà Nội và chùa Phú Nhi ở huyện Phú Thọ, tỉnh Sơn Tây (cũ). "Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai dựng chùa mấy chục gian rất hoa mĩ, để lại 10 mẫu ruộng giao cho dân sở tại trông nom phụng thờ" (Đại Nam Nhất thống chí, tỉnh Sơn Tây, Q. XXI, tr. 244).
Triều Nguyễn chỉ thờ một Đạo Thánh mà thôi (tức đạo Khổng). Vua Tự Đức nặng lời quở phạt việc xây lại chùa Báo Thiên của Tổng đốc Bật. Trong một bản tấu với lời lẽ gần như thoá mạ, các Ngự sử công kích Phật giáo, xin vua "đuổi sư tăng hoàn tục". Nhân vụ Thượng Bật xây chùa, tờ tấu của Cơ Mật Viện có đoạn: "Đức vua ta, thánh học cao minh, đạo tâm sáng tỏ, kính trời theo tổ, chuộng chính dẹp tà, học là học Nghiêu Thuấn Vũ Thang, tôn là tôn Chu công Khổng tử, còn những thứ dị đoan rõ chẳng phải chỗ hiếu thượng vậy.
Nay là lúc hiển hành đại đạo, chính là khi hướng hoá nhân tâm, lẽ nào để cho phường du đãng trốn tránh nơi phạm vũ làm chỗ nương thân để mê hoặc dân ngu sao? Vậy xin sằc xuống Bộ Lễ sát hạch kỹ sư tăng các chùa quan tại kinh đô, ai hiểu đạo thì lựa giữ lại mỗi chùa chừng 5, 6 tên, chiếu lệ cấp tiền gạo để lo việc chùa. Còn sư tăng các chùa trong dân đều do phủ huyện sở tại sát thật và giữ lại mỗi chùa một tên mà thôi, còn bao nhiêu đuổi về tục chịu sưu thuế. Như thế mới giảm bớt chi phí chu cấp, trừng trị được bọn biếng nhác, nhờ đó đồng nhất đạo đức phong tục. Tuy việc thuộc nhỏ nhen nhưng quan hệ đến phong hoá rất lớn".
Tự Đức phê vào tờ tấu: "Sẽ có chỉ" (Châu bản triều Tự Đức, năm thứ 2 tháng 3 ngày 4, Q. XIII, tờ 255a-261a – Bản phiên âm và dịch của Tiến sĩ Lý Kim Hoa, nguyên Giáo sư ĐH Vạn Hạnh Sàigòn kiêm Trưởng khoa Giáo Dục). Các quan Khoa đạo (tỉnh), Viện Đô Sát và cả Bộ Lễ đều tâu vua nhiều điều chống Phật giáo và hàng Tăng lữ. Năm Tự Đức thứ 12 (1860) Phạm Duy Phiên vào Huế điều trần "xin bỏ đạo Phật" do Cơ Mật Viện tâu lên vua, Đại thần Phan Thanh Giản phụng thảo, Đại thần Trương Đăng quế, Thượng thư đầu triều phụng duyệt, xin vua BỎ ĐẠO PHẬT với lý do: "Chính đó là cách tập cho Gia tô nghe thấy vậy! Muốn trừ tuyệt cái dị đoan của người trước phải bỏ cái tả đạo của người sau mình. Bỏ Phật là bí quyết để trừ tuyệt Gia Tô" (Châu bản triều Tự Đức, năm thứ 12, tháng 10 ngày 11 – Cơ Mật Q. 114, tt. 63a-64b. Tiến sĩ Lý Kim Hoa phiên âm và dịch).
Đối với Công giáo, các triều đại trước nhà Nguyễn gọi Gia tô là Tả đạo, nghĩa là đạo khác (chữ Tả đây viết như chữ bên tả (tả ngạn sông Hồng hay Tả phái, Hữu phái). Đời Minh Mệnh đổi qua Tà đạo xử theo nghiêm hình "lăng trì Đạo trưởng, không xử theo luật Gia Long" (Hoàng Việt), qui kết là "Tà đạo nước ngoài" – Tà đạo "Tây dương Bạch quỷ" (Xem: Cao Thế Dung, Việt Nam Công giáo sử - Tân Biên, Q. III. Cơ sở Dân Chúa xb 2005, tt. 1517-1533). Minh Mệnh vô cùng kiêu sa, bài bác và miệt thị Phật giáo, tự cho là: "Quân vương là Phật hiện thời – cha mẹ là Phật sinh thành". Nhà vua nói: "thử xem những Tổ đã thành Phật như Mục Liên mà cũng không độ được mẹ, chuộng Phật giáo như Tiêu Diễn mà cũng không giữ được thân, huống chi những bọn bất trung bất hiếu, không biết quân vương là Phật hiện thời, bỏ cả cha mẹ là Phật sinh thành mà đi cầu Phật vô hình xa ngoài muôn dặm, để mong phúc may chưa đến, có lẽ ấy được chăng?" (Đại Nam Thực lục, chính biên, Đệ nhị kỷ, T. III, tt. 166-167). Xem bản chữ Nho, Thư viện Yenching, ĐH Harvard).
Thậm chí bà cô ruột của Minh Mệnh là Công chúa Ngọc Tú (chị vua Gia Long) sùng mộ Phật Pháp. Lúc hấp hối bà Ngọc Tú dặn Vua: "Nguyện vọng của cô là được quy y với Phật. Vậy sau khi cô mất, cháu hãy bảo người cạo đầu cô và mặc áo cà sa cho cô". Minh Mệnh nghe lời Triều thần không theo lời di chúc của cô. Vua bảo triều thần và hoàng tộc (Tôn nhân phủ): "Da tóc thân thể của cha mẹ cho ta, ta không nên làm hư hỏng, thương tổn". (Bửu Kế, "Đám tang vua Gia Long". Đại Học (Huế), số 40, 1964, tt. 543-570. Chồng bà Ngọc Tú bị Tây Sơn giết năm bà 24 tuổi, bà ở vậy không tái giá. Bài khảo luận trên đây của GS Bửu Kế cho ta biết nhiều chi tiết trong cung đình Huế).
Trường hợp Tổng đốc Tôn Thất Bật bị khiển trách vì "tội" xây chùa Báo Thiên mới cũng như Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai thời làm Tổng đốc ba tỉnh Sơn, Hưng, Tuyên vì xây chùa nên bị vua Thiệu Trị và triều đình nghiêm trách "phụng dụ nghiêm trách ngôn ngữ hành động của Nguyễn Đăng Giai liên quan đến việc y sửa chữa tạo lập chùa Phật" (Châu bản triều Thiệu Trị, Nội Các, Q. 28, "Thiệu (châu điểm) Trị tứ niên, thập nhị nguyệt, thập ngũ nhật: "Việc xin xây cất chùa lại bị các đại thần trích bác, tham hặc, cần phải giao Bộ (Bộ Lễ) nghị xử").
Tôi nêu trường hợp Thượng Giai ở đây để sáng tỏ thêm trường hợp chùa Báo Thiên bị bỏ hoang phế khi Thượng Bật bị thuyên chuyển vào Quảng Nam rồi bị tội chết (Vụ Hồng Bảo, lập lại). Thượng Giai là con nhà thế thần, thân phụ ông làm đến Thượng thư, sung chức Sư Bảo, thầy của các hoàng tử và hoàng đệ. Thượng Giai làm quan đến Hữu kỳ Kinh lược sứ, qua đời được đưa vào thờ ở đền Hiền Lương (Huế). Ấy vậy mà chỉ vì làm chùa bị nghiêm trách, được tha tội vì có công lớn, sử quan Nhà Nguyễn vẫn nặng lời chỉ trích: "Tiếc vì (Giai) tôn chuộng đạo Thích, dựng chùa thờ Phật, luôn mê hoặc người, phí của thực nhiều, chưa khỏi làm lụỵ cho thịnh đức" (Xem Đại Nam Liệt truyện, Nhị tập, Q. 13 "truyện của các quan" – Nguyễn Đăng Giai. Nxb Thuận Hoá, Huế 1997, tr. 250). Nêu lên trường hợp Đại thần Nguyễn Đăng Giai ta có thể dễ dàng hiểu được trường hợp Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ chỉ hạ bút phê cho chuyển nhượng khu đất chùa Báo Thiên cho Gm Puginier, ông chỉ Y mà thôi, vẫn bị quan Khoa đạo Bùi Hữu Tạo đàn hặc. Do hợp pháp nên được bỏ qua.
(còn tiếp)
• Những Sự Thực Lịch Sử Về Chùa Báo Thiên, Nhà Thờ Lớn Hà Nội và Phật Giáo Việt Nam, phần (1), (2) & (3)
Đọc nhiều nhất
Bản in 28.04.2008. 11:00



