Dân Chúa ? | Liên Lạc |
RSS Feeds
Tháng 8/08
Album Được Xem Nhiều Nhất
Đêm 28/8/2008 Saigon Hiệp Thông Cầu Nguyện Với Thái Hà
Thái Hà 28/8/2008: Giáo dân bị đàn áp- Thái Hà 27/8/2008: Phản ứng ngược
- Đại Hội La Vang lần thứ 28
- Ngày Thánh Mẫu 2008 tại Hoa Kỳ
10 Bài Mới Nhất
- Có Thiên Chúa!!!
- Hơn 3000 người thắp nến cầu nguyện cho DCCT và Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội
- Thái Hà 29/8/2008: Mẹ ơi, xin thương đến Thái Hà con đây…
- Máu Người Vô Tội Đã Đổ
- Hướng về Thái Hà: Cầu nguyện, lời đầu Lễ của Cha Phạm Trung Thành, Giám Tỉnh DCCT
- Chuyện Thái Hà: bức thư người Anh gửi cho Em
- Hướng về Thái Hà: Phỏng vấn Cha Matthêu Vũ Khởi Phụng, Bề Trên nhà Thái Hà
- Hướng về Thái Hà: Lời chứng của Cha Vũ Ngọc Bích, DCCT
- RFA: Công an bắt giữ và khởi tố giáo dân Thái Hà
- Thái Hà tối 28/8/2008 Cảnh Sát Đàn Áp Dã Man Nhiều Người Bị Thương Và Bị Bắt
Sách Online
- Như Lời Cầu Kinh Anthony De Mello, Hương Vĩnh chuyển ngữ
(79-82) - Góp Bánh Cho Đời Lm Giuse Trần Đình Long, SSS
- Chúa có mặt là con vui! Cát Minh Nha Trang
- Ngày Mai E Rằng Quá Trễ Lm Giuse Trần Đình Long, SSS
Những Sự Thực Lịch Sử Về Chùa Báo Thiên, Nhà Thờ Lớn Hà Nội Và Phật Giáo Việt Nam, phần 3
§ Cao Thế Dung
Quyền Tối Thượng Của Hoàng Đế Việt Nam Đối Với Phật Giáo
Khi nào khám phá được tài liệu mới, chẳng hạn như bút tích của Gm Paul Puginier Phước hay Lm Quản lý giáo phận, Thừa sai Marcou tức Cố Thành hay Thừa sai Tổng đại diện Lm Albert Schlicklin tức Cố Chính Linh, hoặc văn khế, văn tự và địa bạ thôn Tiên Thị hoặc các tài liệu căn bản từ Văn khố Pháp ở Aix-en-Provence và ở BaLê (AN, CAOM, SLOTFOM, DOM) nhất là Văn khố MEP, Hội Dòng Thừa Sai Balê, tức là văn kiện KHÁC HƠN những tài liệu và văn bản mà chúng tôi, CTD đã sưu khảo và trình bầy, thiết nghĩ cho đến nay (tháng 3-2008), khu đất xây Nhà thờ lớn Hà Nội và toàn bộ khu Nhà Chung trong đó có toà Khâm sứ cũ tức nhà Quản lý Địa phận là HOÀN TOÀN HỢP PHÁP, DANH CHÍNH NGÔN THUẬN, được Hội đồng Kỳ Mục làng (thôn) Tiên Thị, h. Thọ Xương, tỉnh Hà Nội sang nhượng cho GM Puginier. Đại diện triều đình nước Đại Nam là thự (quyền) Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ (thay Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết, sơ bổ Tuần phủ, xem: Đại Nam Thực lục, Q. LXVIII, Tập 35, tr. 137) đã chuẩn y theo đúng thủ tục pháp lý mà Luật lệ Nam triều qui định. Thẩy đều là HỢP PHÁP KHÔNG CÓ SỰ CƯỠNG CHẾ - CƯỠNG ĐOẠT (có thể do áp lực vào thời đầy nhiễu nhương nhưng chỉ là giả thiết, vô bằng).
Những Sai Trái Của Một Hoà Thượng Nhà Nước
Công sứ Pháp tỉnh Hà Nội Bonnal dù đầy quyền lực nhưng ít nhất ông ta cũng còn biết tôn trọng luật lệ Nam triều nên nhờ Tổng đốc Độ giải quyết. Thượng Độ cũng không có quyền, không dám lạm quyền nên phải vận động các Kỳ mục làng Tiên Thị "làm giấy" sang nhượng cho Gm Puginier Phước. Tri huyện sở tại Hoàng Cao Khải là cấp trung gian giữa làng và tỉnh, không có quyền hạn gì về điền sản của làng xã. Về điến địa, Huyện Khải chỉ có vai trò Pháp quan hoà giải trong các vụ tranh tụng (thập niên 1930-1940, Bảo Hộ Pháp mới cho lập ngạch Tri phủ và Tri huyện Tư pháp).
Trước năm 1874, các địa phận Công giáo, kể cả các họ đạo không được quyền sở hữu ruộng đất. Vì vậy, ruộng đất địa phận Huế từng do Thái bộc Th. Hồ Đình Hy đứng tên sở hữu. Trùm Cả Địa phận Qui Nhơn là Th. Nguyễn Kim Thông (được ĐGH Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19-6-1988) là người trông nom ruộng đất của cả Địa phận, do cụ Trùm Cả đứng tên làm chủ. (Xem: Cao Thế Dung, Việt Nam Công giáo sử - Tân biên, Q.III, Dân Chúa xuất bản, 2005, tr. 1726). Sau Hiệp ước Việt-Pháp năm Giáp tuất 1874, các Giáo họ và Địa phận được quyền mua ruộng vườn, đứng tên sở hữu. Gm Puginier, đại diện Địa phận Tây Đàng Ngoài có quyền sở hữu điền sản của Địa phận. Thông thường do Lm Tổng đại diện hay Lm Quản lý ký tên vào văn khế, văn tự với tư cách thụ uỷ.
Trong văn thư, đại diện GHPGVN của Nhà nước gửi Thủ tướng Chính phủ CHXHCNVN đề ngày 16-2-2008, HT Thích Trung Hậu cho rằng, Nhà thờ lớn, khu nhà Chung có toà Khâm Sứ thuộc Phật giáo VN, Hoà thượng đòi hỏi: "Chúng tôi đề nghị Thủ tướng nên xem Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một trong thành phần chủ yếu để tham khảo trước khi có quyết định cụ thể liên hệ đến sự việc trên".
Đòi hỏi trên đây của HT Thích Trung Hậu không những sai trái mà còn chứng tỏ Hoà Thượng thiếu sự hiểu biết về luật pháp xưa và nay, thiếu cả sự hiểu biết về Phật giáo VN và các định chế luật pháp có liên quan đến Nhà chùa.
Chùa Báo Thiên và tháp Báo Thiên là niềm hãnh diện và tự hào của văn minh văn hoá VN. Và đó là di sản tinh thần cao quí của cả dân tộc VN chứ không phải chỉ riêng PGVN. Nhưng đã thuộc về Lịch sử. Lẽ tự nhiên không còn là "vật thể" có thể chia chác hay thừa kế đối với bất cứ ai.
Vả lại chùa Báo Thiên do Tổng đốc Tôn Thất Bật dựng lại trên nền chùa cũ là chùa TƯ. Cần giải thích để HT Trung Hậu hiểu rõ về Phật giáo VN và chùa chiền để Hoà thượng biết thêm đôi chút khái lược như sau đây: Các chùa từ Nhà Nguyễn trở về trước chia làm các loại: 1- Chùa cấp quốc gia như Chùa Quán Sứ, chùa Trấn Bắc (hay Trấn quốc), chùa Hương Tích và chùa Báo Thiên (Hà Nội) trước năm 1791 (năm Tổng trấn Bắc thành nhà Tây Sơn phá chùa này), chùa Thiên Mụ, chùa Diệu Đế, chùa Linh Hựu (Huế), chùa Kiển Phước (Sàigòn), chùa Linh Thứu ở Kiến Hưng, Định Tường, (một ngôi chùa rất cổ, vua Gia Long đổi tên là Long tuyền tự (1812), đặt 10 phu chùa "được miễn binh dao". Năm 1841, vua Thiệu Trị đổi là Linh Thứu tự. (Xem: Đại Nam Nhất thống chí (viết tắt ĐNNTC), Q. XXVIII, tỉnh Định Tường, tr. 114). Chùa Trấn Bắc ở Hồ Tây, Hà Nội là chùa quốc gia do vua Lý Nam đế (544-548) dựng chùa này. (Tôi chỉ nêu lên ở đây một vài thí dụ). 2- Chùa Sắc tứ là chùa được vua sắc phong. Cố đô Huế và Thừa Thiên có tới 36 ngôi chùa nổi tiếng: chùa Quang Đức, một trong những ngôi chùa cổ kính nhất, được chúa Nguyễn Phúc Khoát sắc phong năm Đinh mão (1738), khắc 5 chữ biển ngạch vàng "Sắc tứ Quang Đức tự". Chùa Báo Quốc (ở Hương Thuỷ), Nhà Chúa ban biển khắc 5 chữ "Sắc tứ Báo Quốc tự" (ĐNNTC, Q.I Kinh sư, tr. 199-207, mục "chùa quán"... Từ Huế vào Nam, cả trăm ngôi chùa "sắc tứ", tôi nêu lên đại cương mấy ngôi chùa tiêu biểu: Sàigòn-Gia Định có chùa Sắc tứ Tập Phước, chùa Sắc tứ Long Huê, còn nhiều nữa, kéo dài cho đến cực nam đất nước, như chùa Sắc tứ Thập Phương, chùa Sắc tứ Tam Bảo (cả 2 chùa ở Rạch Giá, Kiên Giang), chùa Sắc tứ Quan Âm ở Minh Hải, Cà Mâu (Xem: Võ Văn Tường, Việt Nam danh lam cổ tự. Nxb KHXH, HN 1992, tt. 194-202, 39-376, 377-378). 3 – Chùa QUAN tức chùa công, phổ thông hơn cả, chùa do Bộ Lễ giám hộ (về Tăng cương tức kỷ cương của các Tăng), Bộ Công tu sửa chùa, Bộ Hộ chu cấp bổng lộc cho nhà chùa. Thí dụ chùa Linh Quang ở Huế thuộc chùa Quan. "Các lễ tiết do Bộ Lễ thần quyết định" (Châu bản triều Thành Thái, Nội Các, Q. 5, tháng 6 ngày 12). Từ đời Gia Long đến Thành Thái, chùa cấp quốc gia như chùa Thiên Mụ Huế, chùa Quán Sứ, chùa Trấn Bắc Hà Nội và các chùa quan, Bộ Hộ "cấp bổng cho các Sư ở chùa" nhưng hầu hết chỉ tập trung ở kinh đô và mấy tỉnh ở Hữu Kỳ, Trực Kỳ và Tả Kỳ, còn Bắc Kỳ và Nam Kỳ bị bỏ quên. Thí dụ năm 1887 "Bộ Hộ tâu việc cấp bổng hướng cho các Sư ở chùa" (Bộ Hộ, Q. 4, Đồng Khánh tam niên, tháng 6 ngày 9, HTCB số 2614, 3 tờ). Không chùa nào ở Bắc, Nam được cấp bổng. 4 – Các chùa tổng, vùng, liên xã, liên thôn với nhiều chùa lớn như chùa Keo ở Thái Bình, chùa Thày ở Sơn Tây, chùa Láng ở Hà Nội, chùa Bi ở Nam Định ... Các chùa này có tài sản riêng, có Tam bảo điền, Tam bảo thị (chợ chùa), tự cung tự cấp. Bộ Lễ chỉ giám sát về Tăng cương. 5 – Chùa Làng, gần như làng nào cũng có chùa, thuộc quyền sở hữu của làng theo Hương ước làng. Chùa làng khá phức tạp về qui chế theo lệ làng, đại khái có 2 loại: chùa có Sư trụ trì, làng phải lo chu cấp qua một số công điền làng dành cho chùa. Trường hợp chùa không có sư thì do Hội Chư Bà tức các bà Vãi trông nom hương khói, lấy hoa lợi hay tô ruộng chùa cho lãnh canh. Thường các chùa làng có lệ vào Hậu. Ruộng này thuộc hương hoả, cũng như Tam bảo điền, tuyệt đối cấm bán hay sang nhượng.
Nếu Tam bảo điền sau 20 năm, nhà chùa không trực tiếp khai thác (không có sư trụ trì) thì không còn là Tam bảo điền nữa mà trở thành công điền, công thổ của làng. Đó là trường hợp đất chùa Báo Thiên, từ năm 1791 đến 1848 không thuộc đất của chùa nữa (cấp quốc gia) mà là đất công của làng Tiên Thị theo lệ "đất vua (công điền, công thồ) chùa làng".
Các chùa Quan thuộc Bộ Lễ kiểm soát, được bộ Công (công chánh-xây dựng) tu bổ nhưng lại chỉ lo cho các chùa ở Hữu Kỳ (Thanh, Nghệ, Tĩnh), Trực Kỳ, Kinh đô và Tả Kỳ (Nam, Ngãi, Bình, Phú) còn Bắc Kỳ bỏ qua. (Xem: Châu bản triều Thành Thái. Bộ Công, Q. 31, năm thứ 9, tháng 6, ngày 10). Chùa quan được "đặc ân" đầu năm vua ban cho Lịch sử dụng trong năm (Xem: Châu bản triều Thành Thái, Bộ Hộ, Q. 22, năm thứ 6, tháng 11 ngày 12). Chùa làng, chùa tổng được đặt vào hệ thống chùa quan (thuộc Bộ Lễ và Bộ Công trông nom) là một vinh dự đặc biệt. Thí dụ năm 1892, Thành Thái năm thứ 4, do Trang Ý Hiếu Thuận thái hoàng thái hậu (quí phi của vua Tự Đức) yêu cầu, Thành Thái mới cho liệt chùa Linh Quang (Huế) làm chùa quan. Chùa cấp quốc gia và chùa quan do Liên bộ chịu trách nhiệm: Bộ Lễ, Hộ, Công. Thí dụ Bộ Lễ tâu vua xin tu bổ đồ thờ ở các chùa quan (Thành Thái thứ 18 (1906) tháng 1 ngày 9, Bộ Lễ, Q. 57).
Chùa quan là chùa Nhà nước, pháp nhân là Bộ Hộ, ở tỉnh do Bố Chính sứ trách nhiệm. Nhà chùa và Sư trụ trì không có tư cách pháp nhân về cơ sở và điền thổ. Đổi lại chùa quan được hưởng nhiều quyền lợi và sự bảo trợ của chính quyền. Do tổn phí, đầu triều Duy Tân, Bộ Lễ tâu xin dẹp bớt chùa quan, giảm bớt số sư ở chùa quan (Châu bản triều Duy Tân năm thứ 2, tháng giêng, ngày 3. Lễ Bộ và Công Bộ, Q. 8, số 3059, 3 tờ).
Nếu chùa cấp quốc gia, Sư trụ trì và Tăng đoàn phát triển, mở rộng và khai khẩn ruộng đất, thuộc quyền sở hữu của chùa, Bộ Hộ không được đụng tới. Sư trụ trì cũng không có quyền sở hữu. Một thí dụ tiêu biểu: năm 1895, Bộ Hộ tâu lên vua về việc chùa Thiên Ấn, Quảng Ngãi xin khẩn đất trên núi quanh chùa (Châu bản triều Thành Thái năm thứ 6, tháng 5 ngày 7, Bộ Hộ, Q. 13-HTCB, số 2807, 4 tờ). Đất vùng núi do chùa Thiên Ấn khai khẩn là Tam bảo điền, triều đình cũng không được đụng tới, đất của chùa, đời này qua dời khác, chỉ có một chùa Thiên Ấn là sở hữu thụ uỷ mà thôi. Thế kỷ thứ 18, trải qua 5 đời vua Lê, Đại Lão Hoà Thượng Hương Hải lập chùa tu ở Phố Hiến (Hưng Yên) đệ tử hàng ngàn, ảnh hưởng bao trùm khắp các chùa ở Trung Châu sông Hồng và Thăng Long, từng được vua Lê chúa Trịnh mời lên kinh đô thuyết pháp nhưng Đại lão không có quyền bính đối với các chùa khác ngoài chùa Hoà thượng trụ trì. (Về Hoà thượng Hương Hải, xem: Nguyễn Tài Thư, chủ biên, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, T. II. Nxb KHXH, HN 1998, tt. 304-308).
Chùa Báo Thiên do Tồng đốc Bật dựng lại là chùa tư trên đất của làng cũng như chùa Báo Ân trên đất thôn Cựu Lâu cùng huyện Thọ Xương là đất làng. Chùa là chùa tư. Vậy thì, vị Đại diện GHPGVN của Nhà nước căn cứ vào đâu, trên căn bản nào để nhận chùa Báo Thiên xưa thuộc PGVN? Chùa nào mà chẳng thuộc PGVN, bao gồm các loại chùa tôi nêu trên đây. PGVN trước năm 1964 không phải là một hệ thống PHÁP NHÂN. Làng, tổng, vùng, liên xã mới là pháp nhân. Sư trụ trì không có quyền pháp nhân sở hữu. Chùa Thiên Mụ, chùa Quán Sứ, chùa Trấn Bắc... là chùa thuộc quyền sở hữu của quốc gia.
Chùa cấp quốc gia do Bộ Lễ quản nhiệm trực tiếp "khâm mệnh vua", lập đại đàn, trai đàn chẩn tế cũng phải do Bộ Lễ tâu lên vua và phải được vua cho phép. Năm đầu, vừa lên ngôi, Thiệu Trị truyền Thượng dụ ngày 3 tháng 6 (nguyên niên – 1841): "lần này mở đại trai đàn ở chùa Thiên Mụ, tất cả từ Đồng lý cho đến nhân công, thợ, biền binh phục dịch công việc đều được gia ân, truyền thưởng tất cả đều một tháng lương để tỏ lòng thể tất – Khâm thử" (Xem: Châu bản triều Thiệu Trị, Thượng dụ, Q. 8, tờ 193a. HTCB số 260 – bản dịch).
Hoàng đế Việt Nam là người lãnh đạo tối cao của Phật giáo, Đạo giáo và Chính giáo còn gọi là đạo Thánh tức Nho giáo. Với tư cách ấy vua Tự Đức đã can thiệp vào Phật giáo: "Nay phụng thượng dụ có khoản rằng: còn như các sư tăng chùa quan ở kinh đô thì do Bộ Lễ sát hạch giữ lại mỗi chùa 5 hoặc 6 tên, các chùa trong dân thì đều do phủ huyện sở tại sát thật và chỉ giữ lại mỗi chùa một tên còn bao nhiêu đuổi về tục chịu sưu thuế. Hơn nữa nay chính là lúc làm sáng tỏ chính học, lòng dân hướng về sự giáo hoá để chính phong tục. Tượng giáo tả đạo kia làm lòng người sa đoạ chìm đắm, đâu có thể để cho chúng trà trộn mà làm điều mê hoặc được. Huống chi gần đây các địa phương bắt chước nhau lập chùa chiền rất nhiều, tổn phí rất nặng. Tuy nói vì dân cầu phước mà kì thực đục khoét của dân. Mỗi lần trẫm nghe như vậy thật ghét. Mới nghĩ rằng chỉ có một con đường đồng nhất phong hoá mới giúp được mọi người về nẻo chính. Lời của Khoa đạo này chính hợp ý trẫm. Khoản này truyền giao Bộ Lễ xét nghị rõ ràng đợi chỉ thi hành - Khâm thừ". (Châu bản triều Tự Đức, Chư Nha, Q. 16, số 618, tt. 105a-108b – Tự Đức năm thứ 2 tháng tư nhuận ngày 6 (1850). Nhiều chùa không còn sư trụ trì một phần do vậy.
Nhân danh Thiên tử và Quốc gia, chỉ có Hoàng đế mới có quyền ban Sắc dụ phá một ngôi chùa hay một ngôi đền hay quán (Đạo giáo), (dù đã hư nhưng nếu còn thờ tượng Phật). Sắc dụ mở đầu: "Quốc gia ta, thuận theo Ý Trời, nối nghiệp lớn, truyền rằng: "(trích một đạo Dụ của vua Lê Hiển tông). Văn bản mà GM Nguyễn Văn Sang trích dẫn từ truyện "Mẫu Thượng Ngàn" về sự cố phá chùa Báo Thiên (đã hư hại) hoàn toàn là hoang tưởng.
Tóm lại, không có sự cố Công sứ Bonnal cho lệnh phá chùa theo đơn xin của các Bô lão làng Tiên Thị. Hoàn toàn tào lao. Cũng không có sự cố GM Puginier ngang nhiên xây Nhà thờ lớn trên khu đất VÔ CHỦ. Phần trích dẫn nêu trên chẳng những "khiên cưỡng" sai lầm tệ hại mà còn vô trách nhiệm đối với Lịch sử và là lịch sử tôn giáo.
Xin được hơn một lần nhấn mạnh và ghi đậm nét ở đây: Nhà thờ lớn Hà Nội xây cất xong năm 1886 là NHÀ THỜ DÀNH CHO TÂY, CHƯA PHẢI LÀ NHÀ THỜ CHÍNH TOÀ GIÁO PHẬN TÂY ĐÀNG NGOÀI (tiền thân của giáo phận Hà Nội) vẫn ở Kẻ Sở (Sở Kiện). Nhà Quản lý của giáo phận ở Kẻ Sở sau mới di chuyển lên khu Nhà Chung Hà Nội do Thừa sai Alexandre Marcou Thành làm quản lý cơ sở mới này. Năm 1901, Thừa sai Thành được phong Giám mục tiên khởi của giáo phận Thanh Hoá, gọi là "địa phận Duyên Hải Bắc Kỳ" (Tonkin Maritime). Năm 1933, toà Giám mục Kẻ Sở mới dọn hẳn về Hà Nội. Theo Sắc chỉ của Giáo Hoàng Piô XI, kể từ ngày 3-12-1925, các giáo phận trên toàn thế giới lấy nơi đặt toà Giám mục làm tên địa phận. Do đó, giáo phận Tây Đàng Ngoài chuyển lên Hà Nội mới gọi là Địa phận Hà Nội. Từ năm 1886 cho đến khi qua đời năm 1892, Gm Puginier Phước đi đi về về giữa Hà Nội và Kẻ Sở. Nhà thờ lớn Hà Nội mấy thập niên đầu là nhà thờ Tây, dành cho quan chức văn võ Pháp, binh lính Pháp và Pháp kiều. Chủ nhật và các ngày lễ lớn, có thánh lễ dành riêng cho Tây thuộc giáo xứ Hà Nội.
Pháp Luật, Hương Ước, Nhà Nước và Nhà Chùa Trong Lịch Sử
Lập lại, trong lá thư HT Thích Trung Hậu gừi Thủ tướng Chính phủ CHXHCNVN ngày 16-2-2008 nhân danh GHPGVN của Đảng và Nhà nước trong Mặt trận Tổ Quốc, Hòa Thượng viết rằng: "GHPGVN đã liên tục là sở hữu chủ của cơ sở này, (tức chùa Báo Thiên) trong 825 năm". Nếu theo luận điểm hoang đường và hoang tưởng của Sư Trung Hậu thì PGVN cũng là sở hữu chủ của phủ Chủ tịch nước CHXHCNVN, nguyên là Phủ Toán quyền của Bảo Hộ Pháp xây trên nền chùa Khán Sơn chăng? (Về chùa Khán Sơn (lập lại), Xem: Nguyễn Văn Uẩn, Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX, sđd. "Năm Dương Đức (1673) Vua Lê Thánh tông (đúng ra là vua Lê Gia tông (1672-1675) –CTD ghi chú lại) cho dựng chùa trên núi", tr. 74). Tại sao HT Trung Hậu không đặt vấn đề quyền sở hữu với Chủ tịch nước NMT? Nếu theo luận điểmtham, sân, si làm lạc mất tâm thần thì Nhà khách chính phủ, vốn là dinh Thống Sứ Bắc kỳ xây trên nền chùa Báo Ân cũng là thuộc quyền sở hữu của PGVN sao? (Chùa BÁo Ân, tức chùa Liên Trì, xem ĐNNTC, sđd, QXIII, tỉnh Hà Nội, tr. 218).
Chùa Báo Thiên đã cháy trụi cuối tháng 8 năm Bính ngọ 1786, chỉ còn tường gạch và ngói do đám cháy Phủ Chúa ở phía Nam chùa thiêu huỷ gần 2 phần 3 thành phố. (Xem:Nguyễn Thừa Hy, Phố phường Thăng Long-Hà Nội trong những thế kỳ XVII-XVIII-XIX, dẫn thư Pháp kiều Blandin ngày 3-9-1786. Nghiên cứu Lịch sử số 3 (210) – 1983, tt. 52-60). Chùa nằm trong khu vực phố Báo Thiên, là phố thương mại "bán vải thâm và dù xanh" (ĐNNTC, Q. XIII, t. Hà Nội, tr. 198). Vậy phố này cũng thuộc quyền sở hữu của PGVN chăng? Sau khi chùa bị cháy, dân mở chợ trên nền chùa gọi là chợ Tiên. Vậy chợ này cũng thuộc quyền sở hữu của PGVN chăng nếu theo luận điểm "đi mây về gió" của Thầy Trung Hậu?
Nhà Chùa và Quyền Siêu Sở Hữu Tuyệt Đối
Nhà chùa xưa không có tư cách pháp nhân sở hữu về ruộng, vườn, chợ và các cơ sở của chùa. Quyền sở hữu ấy thuộc về Triều đình (Nhà nước) và làng (theo Hương lệ, Hương ước).
Dù là như vậy, nhà Chùa vẫn làm chủ ruộng chùa, ao, vườn, chợ (nếu có) từ đời Sư này qua đời Sư khác, kế thừa mãi mãi, chỉ trong phạm vi chùa của mình. Thí dụ chùa Thi Châu, huyện Nam Trực, tình Nam Định do một Thượng toạ trụ trì. Chùa Đại Bi gần bên cùng tổng, huyện, tỉnh do một Hoà thượng trụ trì, vị cao tăng Đại lão chùa Đại Bi không có một chút quyền nào đối với vị Thượng toạ chùa Thi Châu, chỉ có sự tương kính thôi. Nếu Thượng toạ chùa Thi Châu vì lý do nào bỏ chùa này qua chùa khác tu thì ra đi với hai bàn tay trắng. Ruộng vườn, ao và tài sản của chùa là của làng, thường do Hội Chư Bà trông coi liệu lý.
Nêu thêm thí dụ khác: cố đô Huế có 36 ngôi chùa lịch sử. Không chùa nào lệ thuộc vào chùa nào, đều do Bộ Lễ giám quản. Nhiều ngôi chùa danh tiếng do các Sư dựng lên như chùa Kim Tiên ở làng Bình An, huyện Hương Thuỷ do Hoà thượng Bích Phong dựng. Chùa Thiền Lâm cũng ở Bình An do Hoà thượng Thạch Liêm dựng (Thái sư Bùi Đắc Tuyên, một quyền thần nhà Tây Sơn đời vua Cảnh Thịnh dùng chùa này làm nhà ở). Một số chùa Sư trưởng và Tăng đoàn thuộc Thiền phái Lâm Tế, lẽ tự nhiên dưới sự lãnh đạo tối cao của Sư Tổ tông phái nhưng chỉ về tinh thần, tu tập và Phật sự. Thí dụ chùa Thiên Thai Nội còn có tên là chùa Thuyền tông do Tổ Liễu Quán Hoà thượng dựng, vị Tổ tiên khởi người Việt dòng Lâm Tế (Tổ Liễu quán 1667-1742, vị tổ thứ 35 dòng Lâm Tê, kế thừa Tổ Từ Dung Minh Hoằng (người Hoa). Các chùa do Tổ Liễu Quán dựng, về tôn giáo thì thuộc Thiền tông Lâm Tế, về quyền pháp nhân sở hữu và thừa kế thì KHÔNG, thuộc làng Dương Xuân. Chùa Thiên Thai Ngoại cùng xã do nữ tín chủ Nguyễn Ngọc Duệ dựng, bà qua đời được đưa vào chùa thờ "phối tự Phật", chùa và điền sản thuộc nhà chùa, con cháu không có quyền thừa kế (về 36 ngôi chùa ở Huế -Thừa Thiên, xem: ĐNNTC, Q. I, Kinh sư, tt. 199-207).
Chúng tôi khảo cứu chế độ TAM BẢO ĐIỀN và TAM BẢO THỊ (kể cả ao chùa) từ triều Nhà Lý năm 1010 đến cuối triều Nguyễn đời Bảo Đại, năm cuối cùng 1945, có thể nói đây là một định chế tuyệt vời, ràng buộc giữa Nhà chùa, Nhà nước và xã thôn rất chặt chẽ nhưng mục đích tối thượng vẫn không đi ra ngoài việc bảo vệ ruộng đất, vườn ao và tài sản của Nhà chùa, không ai được quyền xâm phạm, sang nhượng, cướp đoạt. Của chùa là của Tam Bảo.
Thí dụ chùa Cổ Lễ, một danh lam ở tỉnh Nam Định và cả vùng đồng bằng sông Hồng, trước đây là huyện lỵ Nam Trực, dựng từ năm 1109, thờ Phật và thờ Thiền sư Thích Minh Không. Ngôi chùa nguy nga hoành tráng hiện nay do Hoà Thượng Nguyễn Quang Tuyên dựng lại năm 1920. Người thời ấy gọi là cụ Tổ Cổ. Theo truyền thuyết, giả định rằng nếu cụ Cổ Tổ không đi tu, ở ngoài đời cụ sẽ làm một đại phú gia. Cụ có tài "kinh bang tế thế", phát triển từ 3 ngôi chùa nhỏ thành chùa lớn. Nhà chùa có nhiều ruộng do chính cụ Cổ Tổ đứng mua. Trường hợp này không thuộc qui chế Tam bảo điền nên phải đóng thuế. Hoà thượng Thích Thế Long kế thừa Tổ năm 1936, đúc chuông nặng 9 tấn, cao 4.2 m, đường kính 2.2m, (xem: Võ Văn Tường, Việt Nam danh lam cổ tự. Nxb KHXH, HN 1992, tt. 97-98, 397-398). Tương truyền chùa phải bán một số ruộng để đúc chuông do quyên góp chưa đủ. Do việc chính đáng, Sư trưởng với sự đồng ý của Tăng đoàn có quyền bán loại rưộng tư của chùa. Hội Chư Bà có tiếng nói quan trọng trong trường hợp này. Nếu thấy không chính đáng, các chư bà phản đối. Tiên chỉ làng thuận theo, Chưởng bạ (trách nhiệm điền địa) không chịu lập văn khế. Thủ bạ không chịu cho lập văn tự, không đóng triện thì Lý trưởng (xã trưởng) dù là cường hào cũng không thể làm gì được theo ràng buộc chức quyền của làng: Tiên chỉ - Chưởng bạ - Thủ bạ - Lý trưởng.
Đã là Tam bảo điền thì chùa, làng và chính quyền huyện, tỉnh vô phương bán, sang nhượng vì không được phép lập văn khế, văn tự. Tam bảo điền nghĩa là ruộng vườn của Phật, Pháp, Tăng.
Nếu chùa không còn Sư trụ trì, bỏ hoang hoặc bị cháy mà làng không muốn trùng tu, Hội đồng kỳ mục có quyền chuyển Tam bảo điền thành công điền, công thổ của làng. Đó là trường hợp chùa Báo Thiên, Hà Nội bị cháy năm 1786 và Tổng trấn Bắc thành triều Tây Sơn cho dỡ gạch ngói năm 1791. Đất đai khu chùa Báo Thiên cũ đương nhiên thành công điền, công thổ của làng Tiên Thị. Hội đồng Kỳ mục có toàn quyền sang nhượng với sự chuẩn của Tri huyện Thọ Xương và Y của Tổng đốc tỉnh Hà Nội (lập lại).
Về Tăng Quan
Lần đầu tiên, năm Tân mùi (971), Vua Đinh Tiên Hoàng thiết lập Tăng quan và Đạo sĩ. Đứng đầu là Tăng thống. Đại sư Ngô Chân Lưu tức Quốc sư Khuông Việt làm Tăng thống tiên khởi. Đứng hàng thứ hai là Tăng lục. Đạo giáo thì đứng đầu là Sùng Chân uy nghi (Việt Sử lược, khuyết danh. Bản dịch của Trần Quốc Vượng,VSĐ, HN 1960, tr. 51 – Bản chữ Nho, Q. I, t. 17b). Từ nhà Tiền Lê đến Lý, Trần và Hậu Lê đều giữ lệ này. Tăng thống, Tăng lục và Tăng quan không có thế quyền, thuần về tôn giáo. Tăng thống là người lãnh đạo PGVN trên qui mô cả nước, nhưng chỉ về tinh thần. Người lãnh đạo tối cao của các tôn giáo là Hoàng đế Đại Việt, rồi Việt Nam và Đại Nam (Nhà Nguyễn). Vua Gia Long lên ngôi (1802) bãi bỏ chức Tăng thống, chỉ còn Tăng cương, cũng thuần tuý tôn giáo. Tăng cương thay mặt Bộ Lễ giữ kỷ cương Nhà Chùa. Đặc biệt Tự trưởng (tức Sư trưởng) của chùa do Tăng đoàn bầu, Tăng đoàn có thể bỏ phiếu truất phế. (Châu bản triều Tự Đức, tháng 11 ngày 12 - Bộ Lễ (3 tờ) "Bộ Lễ tâu việc bầu cử các chùa quan"). Việc tôn phong Thượng toạ, Hoà thượng được Hoàng đế sắc phong, do làng xã gửi thỉnh nghị lên Bộ Lễ. Cho đến đời vua Bảo Đại thứ 5 (1929) vẫn còn giữ lệ này. Hai làng Phúc An và Phúc Chỉnh, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình tâu xin cho Tăng trưởng chùa Hưng Long là Nguyễn Thanh Thạnh được làm Hoà thượng với lý do "Nhà Sư trước ở chùa Phúc Chỉnh đã 20 năm, tính hạnh cần kiệm, lễ bái thuần thành, sửa chùa đúc chuông, đắp đường đào giếng, khuyến lập nghĩa địa, chẩn tế dân nghèo, công đức khá rộng". Đơn xin gửi Tuần phủ tỉnh Ninh Bình rồi từ đây chuyển lên phủ Thống Sứ Bắc kỳ để chuyển vào Huế. Khâm sứ Pháp chuyển qua Đại Nam Hoàng đế Bảo Đại (vào thời Bảo Đại đang du học ở Ba lê, Thân thần Tôn Thất Hân làm Nhiếp Chính Vương (xem: Châu bản triều Bảo Đại, năm thứ 5, ngày 4-8-1929 – Duyệt phúc. Ty vụ Lê Văn Diệm phụng thảo). (Ghi chú: Châu bản là văn kiện các Bộ (Lục Bộ), các Nha (chư Nha) các tỉnh tâu lên vua, Vua phê bằng bút son, gọi là châu phê. Có khi vua không phê, chỉ chấm son gọi là châu điểm, hoặc vua khoanh vòng tròn vào điểm chính nào đó, gọi là châu khuyên. Vua bác bỏ, chấm dấu xổ toẹt, gọi là châu mạt. Sau khi bản văn (tờ tấu) được vua ngự phê chuyển xuống Nội các (đây không phải là Nội các chính phủ mà là Văn thư phòng của Vua, sau đổi là Ngự tiền Văn phòng do một Tổng lý Đại thần đứng đầu). Châu bản bản chính giao cho Bản Chương sở phụng thủ, lưu vào văn khố sau khi sao thành 2 bản giao cho các Bộ liên hệ đến vấn đề để thi hành, đóng dấu "Nội các cung lục", mở đầu với 3 chữ "Phụng châu phê", phía dưới bản trích sao, viết 2 chữ: "Khâm thử". Thí dụ tờ châu bản về Chỉ dụ vua Gia Long truyền quan Khâm sai vào Gia Định đưa em gái vua là bà Ngọc Du về Huế (quốc muội), đóng ấn triện "Khâm sai Đặc dụ" và 2 chữ Nôm "vâng thay". Tờ tấu của Tổng trấn Bắc thành Lê Tôn Chất tâu vua về việc "mua cam ngọt 1500 trái ở Hải Dương đưa về kính dâng lên cúng các bậc tiên đế". Tờ tấu kết thúc với một giòng xáo ngữ thông lệ: "hạ thần khôn xiết run sợ, kính cẩn tấu bầy". Vua phê vào tờ tấu "tri đạo liễu" (đã biết rồi), trả về Nội các, lưu văn khố - Giới khảo cứu ở Hải ngoại may mắn có 3 bộ dịch Châu bản lưu trữ ở Thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ. Bản thứ nhất dịch rất chính xác do GS Trần Kinh Hoà (người Hoa, Đài Loan) phiên âm và dịch, do Đại Học Huế xuất bản năm 1960 và hai bộ khác thời đệ II VNCH và CHXHCNVN. Về tài liệu Châu bản liên quan đến PGVN triều Nguyễn (1802-1945) xem bộ Châu bản do Ts LýKim Hoa, phiên âm và dịch, 960 trang, khổ lớn 16x24, do Nxb VHTT. HN 2003).
Quan Hệ Giữa Nhà Chùa – Nhà Nước và Làng Xã
Từ năm 1945 về trước, việc phụng tự, kinh kệ, tu tập, lễ hội hoàn toàn tự do, thuộc Tăng đoàn do Tăng thống, Tăng lục và Tăng cương giám sát. Triều đình không can thiệp. Việc lập trai đàn chẩn tế trở thành nghi lễ quốc gia từ triều Nguyễn về trước nên phải do Bộ Lễ tâu lên vua xin chuẩn y. Đây là một trong mấy đại lễ rất long trọng của PGVN. Mô hình lập trai đàn do Bộ Lễ qui định (Châu bản triều Tự Đức, năm thứ 32, ngày 26 tháng 3, chư Nha, Q. 334, HTCB, số 2260, 1 tờ: "Đổng lý trai đàn dâng sơ đồ mô hình trai đàn ". Tuyệt đối quan quân các cấp từ huyện đến tỉnh không được phép xâm phạm vào chùa và Tăng đoàn. Kỳ mục và Hương lý lại càng không được xâm đoạt chùa, vi phạm thuộc tội Hình.
Tuy vậy, triều đình kiểm soát hàng Tăng lữ cũng rất nghiêm ngặt nhưng chỉ để giữ gìn kỷ cương của chư Tăng. Ngày 16 tháng 8 năm Bảo thái nguyên niên (1720) vua Lê Dụ tông ban Chiếu thư: "Nhà nước ta (quốc gia ta) vâng lãnh mệnh Trời, mở rộng mưu lớn, Đức Thái tổ (tức vua Lê Thái tổ 1428-1433) khai sáng nghiệp lớn lao, liền xét cổ học, đặt niên hiệu (Thuận Thiên, theo ý Trời) để ban bố chính sự trong sáng...". Vua ban CHÍNH LỆNH. Thể theo chính lệnh, ngày 7-8, chúa Trịnh Căn công bố 10 điều lệnh, điều 6 về Phật giáo: "Các cảnh già lam và chùa chiền, từ nay về sau, không được tự ý sáng tạo, tô tượng, đúc chuông. Phàm các tăng, ni, hễ ai xuất gia từ bé, tự nguyện tu hành thì mới được ở lại trụ trì. [Sư nam] nếu đã đến tuổi thành đinh thì từ 50 tuổi trở lên mới được làm tăng. Nếu ở những nơi danh lam cổ tích thì phải đợi lệnh chỉ chuẩn y, cấp cho độ điệp [mới được]; còn các chùa khác chỉ cho mỗi chùa một, hai người sư ở lại trụ trì, ngoài ra đều thải về cả. Từ đây trở về trước nếu ai đã cắt tóc đi tu, ăn chay quanh năm thì hãy để yên, không xét hỏi đến nữa. Còn từ nay về sau, phải tuân theo như trong lệnh cấm. Kẻ nào vi phạm, hễ quan địa phương xét ra biết rõ thì sẽ bắt hoàn tục, phải chịu đóng góp tạp dịch với dân để giảm bớt số người lười biếng, chơi không". (Ngô Cao Lãng, Lịch triều tạp kỷ, T.I, Hoa Bằng dịch. Nxb KHXH, HN 1975, tr. 323).
Nhà Chùa và Làng Xã
Thời Chúa Trịnh, ruộng, vườn, ao của chùa vẫn phải đóng thuế. Triều Nguyễn được miễn. Triều đình không đụng chạm đến điền thổ của chùa dù là công điền, công thổ. Các quan huyện và tỉnh (trước năm 1832 gọi là trấn) không được quyền xâm phạm. Chùa, đền, đình, quán, phủ (Đạo giáo) thuộc thẩm quyền của làng xã. Làng là một đơn vị tự quản trong phạm vi quốc gia, tự do xử trí công việc trong làng, Nhà nước không can thiệp (xem: Đào Duy Anh, Việt Nam Văn hoá Sử cương. Nxb BP, Sàigòn 1961). Theo một tác giả: "Đất công, về nguyên tắc, thuộc quyền sở hữu nhà nước, nhưng vẫn có tính chất là đất công của từng làng, phân chia theo chu kỳ cho từng người trong làng cầy cấy, nộp tô cho Nhà nước. Tính chất "tự trị" của mỗi làng đòi hỏi ruộng đất công trong làng phải dành cho dân làng mình; chỉ khi thừa ruộng và do Nhà nước can thiệp, mới chia cho làng bên cạnh thiếu ruộng"(Xem: Ngô Huy Kính, Làng Việt Nam. Tạp chí Dân Tộc Học, số 3-1994, tt. 1-5).
Ruộng tư của chùa ở trên đất làng phải nộp thuế. Châu bản cho biết, phủ Thừa Thiên tâu việc nộp thuế ruộng tư chùa Từ Hiếu, lên đến 75 mẫu (3 sở). Tiền thuế "đã xỏ xâu bằng dây mây xong đệ nạp, Thị Vệ xứ nhận kiểm tiến dâng. Vậy kính tâu rõ". (Châu bản triều Thành Thái, năm thứ 9, tháng 11 ngày 12 – CHƯ NHA, Q. 34-HTCB, số 2909, 2 tờ). Nếu ruộng tư cúng cho chùa thì thành Tam bảo điền, miễn thuế. Trường hợp Tổng đốc Giai qua đời, đất chùa Báo Ân Hà Nội đương nhiên thành công điền của làng Cựu Lâu, huyện Thọ Xương (Kinh lược sứ Nguyễn Đăng Giai qua đời tháng 7 năm Giáp dần 1854), không ai có quyền thừa kế, kể cả con trai trưởng của Kinh lược sứ Giai là Tri phủ Nguyễn Đăng Hành, một Liệt sĩ chống Pháp "chết vì nước" (xem: Đại Nam Thực lục, T. XXVIII, tr. 316; T. XXIX, tr. 289). Thường những người dựng chùa tư được làng xã tôn làm Hậu Phật, rước vào chùa thờ "phối tự Phật". Bất hạnh chùa Báo Thiên chỉ có Sư trụ trì, hương khói tụng niệm khoảng 5 năm thì bỏ hoang (lập lại), do Tổng đốc Bật bị tội chết vì vụ "phản nghịch Hường Bảo" (hay Hồng Bảo). Sử nhà Nguyễn chép:"Hường Bảo mưu nghịch, tự tử (vì không được lập cho nên mưu nghịch). Khi có tội triều đình đổi ra họ Định, con trai con gái và người dự mưu là Tôn Thất Bật đều bị xoá tên trong sổ Tôn thất" (Cao Xuân Dục, Thượng thư Tổng tài Quốc Sử quán, Quốc triều sử toát yếu, Tuyển tập, T. III, Nxb VH, HN 2002, tr. 369). Theo Hình luật, tài sản của kẻ phản nghịch bị tịch thu. Chùa Báo Thiên lại là chùa tư do đó bỏ hoang. Chợ Tiên tiếp tục họp bên ngôi chùa hoang.
Trở Lại Chuyện Cũ: Chùa Báo Thiên
Kết thúc loạt bài khảo cứu này, cho đến khi tìm được tài liệu khác hơn, nguyên kiện, nghĩa là tài liệu gốc, văn bản gốc KHÁC HƠN, thì những điều chúng tôi đã trình bầy có thể đi đến kết luận sau đây: Một là, từ năm 1791, chùa Báo Thiên do nhà Tây Sơn phá huỷ (ĐNNTC, Q. XIII, tỉnh Hà Nội) đến năm Tổng đốc Tôn Thất Bật dựng lại chùa mới trên nền chùa cũ, dòng dã 57 năm, ĐÃ KHÔNG CÒN chùa Báo Thiên. Giả dụ trước năm 1791, đất chùa Báo Thiên là Tam bảo điền thì cũng không còn giá trị sở hữu, đã thành đất công. Tam bảo điền nếu quá 20 năm do dân khai thác, nhà chùa hết quyền sở hữu, nếu kiện đòi lại không những thua kiện mà còn bị phạt tội "40 trượng". Thời nào phải luận chứng theo luật lệ thời đó không thể lấy luật thời nay hồi tố. Châu bản triều Thiệu Trị năm thứ 6 (1846), tháng 6, ngày 24: "Bộ Hộ phúc việc Sư Nguyễn Nhứt Phẩm trụ trì chùa Thiên Hoà tố đơn đòi ruộng chùa đã 40 năm bị bác "chiếu khinh luật xử phạt 40 roi" (Bộ Hộ, Q. 35, t. 96a-98a – Tiến sĩ Lý Kim Hoa, phiên âm và dịch). Huống chi 57 năm đã không có chùa thì đất chùa không còn là của chùa đã từ lâu rồi. Vậy căn cứ ở đâu HT Thích Trung Hậu và PGVN của Nhà nước có thể tự nhận là quyền sở hữu liên tục của PGVN được? Nếu thời xưa Hoà Thượng nhận sai như thế mà lại đi thưa kiện tất sẽ bị phạt khinh tội như Sư Phẩm.
Thứ hai, không còn chùa, dân làng mở chợ, "trên nền chùa-tháp họp chợ Báo Thiên" (Bùi Thiết, Tự điển Hà Nội địa danh. Nxb VHTT, HN 1993, tr. 26). Gọi là chợ Tiên (Tiên Thị), chợ làng, không phải là Tam bảo thị (chợ chùa).
Theo Tác gia Bùi Thiết thì lính kiêu binh Tam phủ đốt chùa Báo Thiên (sđd. tr. 28). Theo tôi, chắc không phải vì quân Tây Sơn chiếm kinh đô, Nguyễn Huệ đóng ở Phủ Chúa, phía Nam chùa Báo Thiên. đình, chùa, phủ chúa còn nguyên vẹn. Bọn kiêu binh tức quân Tam Phủ Thanh-Nghệ chạy tán loạn "không được (dân) dong thứ một chút nào cả" (Ngô Cao Lãng, Lịch triều tạp kỷ, T. III, tr. 327). Sau đó, Vua Lê Chiêu Thống trả thù Nhà Trịnh cho đốt Phủ Chúa "đám cháy đã lan ra khắp kinh thành". Theo nhân chứng Blandin (lập lại), từng sống ở Thăng Long vào thời gian này, trong lá thư gửi về Pháp đề ngày 3-91786 "đám cháy đã thiêu huỷ hết 2 phần 3 thành phố" (Xem: Nguyễn Thừa Hỷ, Phố phường Thăng Long – Hà Nội. Nghiên Cứu Lịch Sử, số 3 (210) – 1983, tt. 52-59; Xem: Nguyễn Thanh Nhã, "Tableau économique du Vietnam aux XVIIè et XVIIIè siècles – Paris 1970, p. 129). Bà Hoả đã chấm dứt sự hiện hữu của chùa Báo Thiên trải qua 729 năm lịch sử (1058-1786).
Thứ ba, chùa Báo Thiên trước năm 1786 là chùa cấp quốc gia (lập lại: Chúa Trịnh Sâm đến chùa cầu đảo năm 1776, Xem: Cương Mục, ChB, Q. XLIV, t.30). Sau 57 năm không còn chùa, đầu triều Tự Đức, Tổng đốc Tôn Thất Bật dựng lại chùa mới trên đất làng Tiên Thị là chùa TƯ. Bên chùa vẫn còn chợ. Chùa thờ Phật thì chùa nào không là chùa thuộc PGVN, chẳng lẽ thuộc Kitô giáo hay sao? Chùa tư khác chùa Quan và chùa Công, không bị ràng buộc vào chính quyền tỉnh, huyện và triều đình. Do vậy, nhiều chùa quan khi đã có thể tự túc lại làm đơn thỉnh nguyện xin đổi thành chùa tư. Hoặc Sư trụ trì chùa quan xin về tu ở chùa tư (xem: Châu bản triều Thành Thái, "Bộ Lễ tâu việc Tự trưởng chùa Ngọc Sơn xin về chùa tư" (Thành Thái năm thứ 6, tháng 11 ngày 12-Bộ Lễ, Q. 21 – HTCB, số 2812, 2 tờ - Phiên âm và dịch của Ts Lý Kim Hoa).
Cấm Các Quan Không Được Xây Chùa
Các quan tại chức không được xây chùa, nếu tự ý như Thượng Giai và Thượng Bật đều bị khiển trách và giáng chức rồi thuyên chuyển. Bố Chính sứ tỉnh Tuyên Quang xây chùa: Năm 1842 vua Thiệu Trị ra lệnh Đô sát viện Tả Đô Ngự sử Tôn Thất Bạch điều tra. Đây là Đại thần đứng đầu Ngự sử. Bản tấu lên vua kết án Vương Hữu Quang rất nghiêm khắc: "Ở nơi xa xôi muôn dặm dám tự tiện lấy của cải sức lực của dân, của lính làm những việc vô ích như vậy là phụ ơn đất nước rất lớn. Truyền giải Quang về lập tức để chờ xét" (Châu bản triều Thiệu Trị, năm thứ 2, tháng 11 – Cơ mật chư tỉnh, Q. XVII, t. 15a-16a). Chùa Vương Hữu Quang là chùa tư, ông phải bồi hoàn công quỹ. Chùa tư khi người dựng chùa qua đời, con cháu không có quyền thừa kế, mặc nhiên thành chùa làng. Và chỉ có làng mới có tư cách pháp nhân. Không một Sư trụ trì nào dù là bậc Tự trưởng cao tăng có quyền sở hữu, kể cả Tam bảo điền và Tam bảo thị. Hơn một lần lập lại, triều đình không can dự vào Nhà chùa, ngoại trừ sự giữ gìn tăng cương và lễ nghi. Quyền của làng đối với Nhà chùa rất rộng. Nếu chùa định lập đại trai đàn thì chính Hương hào, Hương lý phải đệ đơn xin Bộ Lễ cho phép. (Xem: Châu bản triều Tự Đức, năm thứ 32, tháng 3 ngày 4 – Lễ Bộ, Q. 340, HTCB, số 2234, 2 tờ: "Ngày 17 tháng này thần Bộ dâng phiến trình một tập của Lý dịch, Hương hào, kỳ lão 2 phường ấp Tráng Tiệp và Thuận Trạch tình nguyện thiết trai đàn tụng kinh chúc thọ".
Nhà Chùa và Phép Vua Lệ Làng
Ruộng thờ tự, ruộng chùa được miễn thuế (theo Hội điển Sự lệ. Bản dịch của Tiến sĩ Hán học Nguyễn Sỹ Giác. Nxb Tph HCM tái bản, 1993, tr. 172, mục "miếu, tự, đình, chùa..."). Ruộng đất cùng loại hoặc do vua cấp cho chùa, hoặc do thiện nam tín nữ công đức.: Đây là TAM BẢO ĐIỀN, tuyệt đối cấm bán hay sang nhượng, cốt là để bảo vệ tài sản của chùa, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Loại thứ ba là ruộng Hậu. Vợ chồng không con trai thừa tự hoặc nhà giầu, hoặc các ông Thái giám hoặc các bà cô quả, gửi vào chùa một số ruộng gọi là Vào Hậu để nhà chùa cầy cấy lấy hoa lợi hàng năm cúng giỗ. Ruộng Hậu thuộc ruộng hương hoả, tuyệt đối cấm bán hay cầm cố. Bộ Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ của Nội Các triều Nguyễn, Q. 37, Bộ Hộ, qui định chặt chẽ về "ruộng thờ cúng", "người coi việc tế tự". Lấy chùa Che làm tiêu biểu, "một di sản sáng giá xuyên suốt các thời Trần, Mạc, Lê, Nguyễn". Chợ chùa Che là một khu đất rộng mở chợ, họp mỗi tháng 6 phiên (vào các ngày 2, 8, 12, 18, 22, 28), dựng bia Tam Bảo thị (Xem: Chu Quang Trứ và Cung Khắc Lược, Chùa Che (Diên Phúc). Tạp chí Khảo Cổ Học, số 1-1996, tt. 42-58). Ruộng và chợ chùa Che tuy Nhà chùa và Sư trụ trì không có quyền pháp nhân sở hữu mà vẫn làm chủ đời đời cho đến trước năm 1945.
Siêu Sở Hữu Của Nhà Chùa
Các chùa vùng hay tổng, quyền sở hữu pháp nhân vẫn do các làng cùng thụ uỷ theo lệ chung quy định.
Chùa Đại Bi của các xã Vân Chàng, Kinh Lũng, Giáp Ba, Giáp Tư, tổng Thi Liệu cũ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, ruộng vườn và chợ chùa Đại Bi do sự đóng góp chung, phần làng nào làng ấy sở hữu. Tổng gồm nhiều xã, không có quyền pháp nhân sở hữu. Tổng chỉ là đơn vị hành chính trung gian giữa làng xã và huyện, trách nhiệm về an ninh, trật tự, đốc thúc thuế. Tổng có lẽ xuất hiện từ đầu triều Lê (Xem: Đinh Khắc Thuận, Đơn vị hành chính "tổng" xuất hiện khi nào? Tạp chí Hán-Nôm, số 2 (29), 1996, tt. 21-23). Bia chùa cổ Hồng Phúc, xã Xuân Ổ, huyện Quế Võ, Bắc Ninh có khắc tên "Trùm tổng". Qua các văn bia dựng vào triều Nhà Mạc (1527-2598) ta thấy nhiều chùa tổng. Thí dụ văn bia chùa Hồng Khánh, huyện Tiên Lãng, Hải Dương (nay thuộc Hải Phòng) khắc: "Tân Minh huyện các tổng xã Tín vãi". Tín vãi các xã và các tổng của huyện Tân Minh cúng ruộng vào chùa năm 1588 (Vũ Duy Mền, Một số vấn đề làng xã thời Mạc. Nghiên cứu Lịch sử, số 6-1991, tr. 25 – Đinh Khắc Thuận, Văn bia thời Mạc. Nxb KHXH, HN 1996). Đây là Tam bảo điền, ai là pháp nhân sở hữu? Nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê nhưng vẫn theo Luật Hồng Đức và Lệ của nhà Lê. Ruộng đã thuộc nhà chùa, không ai được bán do vậy vấn đề sở hữu pháp nhân không đặt ra. Sư trưởng hay Ni trưởng làm chủ ruộng chùa nhưng không có tư cách pháp nhân sở hữu. Đó là cách hữu hiệu mà Luật pháp xưa bảo vệ Tam bảo điền, Tam bảo thị, tồn tại một cách vĩnh viễn, đời Sư nọ qua đời Sư kia. Hào lý, kỳ mục không thể sang đoạt được.
Khi Lương Giáo Là Một
Lấy Hương ước xã Lưu Phương (Phát Diệm), tỉnh Ninh Bình làm tiêu biểu, một xã có 2 làng Lương và Giáo. Công điền, công thổ của xã quân cấp rất công bằng, hợp tình hợp lý. Đạo điền dành cho nhà thờ bên Giáo; Thần điền dành cho miếu thờ Thành hoàng bên Lương, (xem: Nguyễn Hồng Dương, Làng Công giáo Lưu Phương (Ninh Bình) – Từ năm 1829 đến năm 1945. Nxb KHXH, HN 1997, tt 51-54).
Đây là tác phẩm nghiên cứu công phu, tường tận, có giá trị rất cao về khảo cứu, cho ta thấy khá đầy đủ về cuộc sống chung Lương-Giáo và giá trị của Hương ước. Lm Chánh xứ Lưu Phương không được can dự vào sinh hoạt thế tục, kể cả Hội đồng Giáo xứ cũng không được phép bán hay sang nhượng Đạo điền, ngoại trừ số ruộng do giáo dân dâng tặng hay giáo xứ mua mới thuộc quyền giáo xứ. Thần điền-Phật điền làng Lương cũng y như thế. Đâu đâu cũng đều đại cương như vậy. Làng có Hương ước lại còn LỆ LÀNG, hoặc Lệ làng cũng được văn bản hoá thành Hương ước, có nơi gọi là khoán ước, khoán lệ, tuỳ điều kiện của từng làng "Hương ước có nội dung dài ngắn, và những điều khoản liên quan đến các mặt của đời sống làng xã chiếm tỷ lệ và vị trí khác nhau". Lệ làng và Hương ước, nền tảng của xã thôn mà điền thổ chiếm phần quan trọng. Quyền lực (thế quyền) của xã Lưu Phương và làng Giáo Lưu Phương (Phát Diệm) ở Đình Lưu Phương và Hương ước, chứ không phải ở nơi Linh mục chánh xứ hay nhà thờ Lưu Phương (Xem: Nguyễn Hồng Dương (GS) "Một số làng Công giáo ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Nghiên cứu Lịch sử, số 3 (274), tháng 5&6-1994, tt. 44-51).
Từ Điện Kính Thiên Đến "Có Có Không Không" Của Đức Phật
Điện Kính Thiên, nơi chí tôn, chí nghiêm của Quốc gia, Thực dân Pháp còn san bằng để xây cơ sở của Thực Dân Pháp huống chi chùa Quan Thượng Huế tức chùa Báo Thiên đã hoang phề gần 30 năm kể từ ngày Tổng đốc Tôn Thất Bật bị tội xử trảm do bị ghép tội phản nghịch (Đại Nam Thực lục, Đệ tứ kỷ, T. XXVII (đã dẫn), T.XXVIII, t.9). Do Hình luật khắt khe của triều Nguyễn, chùa tư của kẻ "phản nghịch" dựng, bị phá huỷ (điều này tôi chưa được rõ chùa bỏ hoang phế hay bị phá huỷ như thế nào).
Năm Mậu thân (1428), Lam Sơn khởi nghĩa đại thắng, đuổi bọn Đô hộ Minh về nước. Tháng Tư, Bình Định Vương Lê Lợi cùng nghĩa sĩ Lam Sơn từ dinh Bồ Đề tiến vào thành Đông Quan, tức Thăng Long. Vua lên ngôi tức Lê Thái Tổ (1428-1433) ở điện Kính Thiên, xưng là "Thuận Thiên thừa vận duệ văn anh dũng đại vương" đặt niên hiệu Thuận Thiên, quốc hiệu Đại Việt (Cương Mục, Chính biên, Q. XV, t. 8). Đây là nơi vua họp đại triều, tiếp các Sứ thần ngoại quốc và cũng là nơi cử hành lễ đăng quang của tân Hoàng đế.
Tiết chế Tây Sơn Nguyễn Huệ đem quân Bắc tiến lấy danh nghĩa "phù Lê diệt Trịnh", tháng 3 năm Canh ngọ (1786) chiếm Thăng Long.
Ngày mồng 7 tháng 7 cùng năm, sử ghi: "Tiết chế Tây Sơn Nguyễn Huệ dẫn đầu các tướng sĩ, do cửa Đoan môn đi vào triều kiến vua Lê ở điện Kính Thiên, làm lễ ngũ bái tam khấu".(Xem: Ngô Cao Lãng, Lịch triều tạp kỷ. Tập II. Bản dịch của Hoa Bằng. Nxb KHXH, HN 1975, tr. 331).
Năm 1802 và 1804, Vua Gia Long ra Hà Nội. Năm 1821 Vua Minh Mệnh rồi năm 1841, vua Thiệu Trị tuần du Bắc Hà, đều ngự ở điện Kính Thiên, ngồi trên ngai vàng của vua Lê. Ba vua đầu Nhà Nguyễn tiếp Sứ thần Nhà Thanh Trung Hoa và nhận sắc phong vương ở điện Kính Thiên. "Điện được đặt trên bệ cao, bệ có lan can bao quanh và những bậc thềm lớn để lên. Điện có hai lớp mái chồng, hệ mái được đặt trên những cột gỗ lim cực lớn. Dấu vết đời Lê còn lưu lại ở đây (hiện nay toàn điện không còn) là những thành bậc lên bằng đá khắc rồng uốn khúc rất tinh vi tương ứng với bậc thềm lên rộng 4,45 mét và cao 4,1 mét". (Xem: Đặng Thái Hoàng, Kiến trúc Hà Nội thế kỷ XIX – thế kỷ XX, tr. 10).
Điện Kính Thiên ở chính giữa khu trung tâm thành Hà Nội, hơi lệch về hướng tây (xem: Nguyễn Văn Uẩn, Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX, tr. 18). Đây cũng là trung tâm của đất nước, trái tim dân tộc, Thực dân Pháp phá gọn, bao gồm cả tổng Yên Thành từ Hậu Túc đến Tiền Túc, Hồ Gươm, Tả Túc và Hữu Túc... bao gồm phần lớn "36 phố phường" cũ từ thời Lý Trần, trong đó có chùa Báo Thiên cũ đã hoang phế ... rồi phố Hàng Đào, Hàng Trống, Hàng Ngang ... (quận Hoàn Kiếm ngày nay).
Cùng một vùng với chợ Tiên trên nền chùa Báo Thiên đã bỏ hoang là chùa Báo Ân nguy nga, hoành tráng, lộng lẫy: "Từ Hồ Gươm đi vào, chùa có ba lớp cửa, lớp cửa cuối cùng lớn nhất và khá đẹp: cao hai tầng, tầng dưới có ba cửa tò vò, hai bên có thêm hai nhịp nữa trổ các hốc cửa sổ vuông, tầng trên chỉ có ba bước, ở giữa đột xuất cao lớn hơn trổ hốc cửa vuông, hai bên có hai ô vuông giả cửa sổ, cả hai tầng đều dùng mái lưu ly, đầu mái hơi uốn cong lên cùng với cầu cong qua hào nước lát gạch lá nem và sân lát gạch lá nem, cùng với mấy toà tháp và các cây đại, một số loại cây bụi ... Khung cảnh kiến trúc ở đây đã được xử lý khá công phu.
Phần phía trước chùa này cùng với chùa chính được đặt trên một khu đất hình bát giác. Ngoài toà chính diện có nhiều bậc cao, phía sau còn có nhà hình bát giác và các nhà phụ vây quanh cũng tạo thành một hình bát giác khép kín. Ngoài một số cây cổ thụ, cây đại, trong chùa còn trồng tre, chuối, cau và có các sân cỏ ...
Chùa thu hút nhiều du khách. Và được ca tụng "Gần xa nô nức, tưng bừng! Vào chùa Quan Thượng xem bằng Động Tiên!" (Đặng Thái Hoàng, sđd, tr. 12-13). Thực dân Pháp vẫn phá, san bằng để xây phủ Thống Sứ Bắc Kỳ. Sau Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945, Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời, đổi là Bắc Bộ phủ. Việt Minh cướp chính quyền cũng ở đây, ngày 19-8, cờ đỏ sao vàng kéo lên ở Bắc Bộ phủ. Vật đổi sao dời. GHPGVN của Nhà nước CHXHVN do ĐCSVN lãnh đạo và điều hướng lại tự nhận có quyền sở hữu liên tục 825 năm chùa Báo Thiên, một ngôi chùa đã không còn hiện hữu nữa sau năm 1791.
GHPGVN của Đảng và Nhà Nước theo luận điểm của HT Thích Trung Hậu có thể đòi lại quyền sở hữu liên tục 44 năm (1842-1886) của PGVN đối với chùa Báo Ân không tức từ Bắc Bộ phủ đến dinh Thống Sứ nay là Nhà Khách chính phủ và Phủ Thống Sứ nay là Bộ Thương Binh Lao Động Xã Hội? Đòi hỏi "nhảm nhí" như thế, như vụ chùa Báo Thiên móc ngoặc với Toà Khâm sứ cũ kể cũng khích động vui vui, vẽ vời theo kiểu "thừa giấy vẽ voi". Chẳng qua cái tham, sân, si của mấy thầy quốc doanh đã làm mờ mắt, quên cả Lẽ Phải
Chuyện Bên Lề: Có-Có, Không-Không
Để hoá giải cái nhảm nhí chất chứa trong lá thư của HT Thích Trung Hậu, Giáo hội của Đảng và Nhà nước gửi cho Nhà nước CHXHCNVN, tôi hân hạnh kết thúc loạt bài khảo cứu quá dài này qua vài sự cố văn chương văn hiến để Chư vị Sư Nhà nước và Đảng ở chùa Quán Sứ có thể mua vui "cũng được một và trống canh". Thiết nghĩ Chư vị cần biết rõ cái CÓ CÓ, KHÔNG KHÔNG mà danh sĩ Thăng Long Ôn Như Hầu đã "rất triết lý" theo Nhà Phật dậy rằng:
Có thì có tự mảy may,
Không thì cả thế gian này cũng không.
Kìa trông bóng nguyệt giòng sông,
Có-không, không-có, có-không là gì!
Thấm nhuần Đạo không-không, có-có, VÔ - HỮU, HỮU - VÔ, Nhà thơ lớn Vũ Hoàng Chương trong xuất thần hạ bút:
Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, này sông cát bồi!
Để rồi:
Một khi đã nín cung đàn,
Tiếc chi còn mất hơi tàn thanh âm.
( Nguyện cầu)
Đấy là tinh hoa của Đạo Phật. Vậy thì, HT Thích Trung Hậu và Giáo Hội của Nhà nước đòi quyền sở hữu để làm gì nhỉ? Mà có đâu mà đòi! Thật là, Sư của Đảng và của Nhà nước CÓ khác! Khác cái CÓ của cái KHÔNG. Ấy là chuyện Đạo. Còn thêm chuyện đời liên quan đến điện Kính Thiên của nước ta xưa.
Nhằm ngày Thất thất, đầy ý nghĩa thiêng liêng phụng tự của Phật giáo VN, Tiết chế Nguyễn Huệ trong võ phục oai nghiêm, bên hông đeo bảo kiếm, thanh kiếm báu của người anh hùng "bách chiến bách thắng", Tiết chế bước lên thềm điện Kinh Thiên. Chợt thấy một quan chức Lễ tân từ điện bước xuống thềm đối diện với mình, giơ rộng hai bàn tay, kính cẩn nói với Tiết chế: "Phép nước không cho đeo kiếm vào điện triều kiến vua, xin Tướng quân cho tôi giữ lại bảo kiếm của ngài". Nguyễn Huệ ngạc nhiên, trừng mắt rồi rút phăng kiếm ra khỏi bao, tưởng như muốn chém đầu viên Lễ tân. Tiết chế ngần ngại rồi trao kiếm của mình cho Lễ tân, lặng lẽ tiến thẳng vào nội điện, phủ phục lậy vua Lê Hiến tôn năm lạy rồi vái ba vái. Vua ngồi trên ngai vàng, sắc phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương. Vua Hiến tôn xuống chiếu THỐNG NHẤT TỔ QUỐC. Vua truyền đem Chiếu thư Thống Nhất treo trên bảng vàng trước cửa Đoan môn. Súng thần công bắn 9 phát vang dội kinh thành chào mừng Chiếu thư Thống nhất.
Hơn lúc nào hết, vào thời buổi thế sự nhiễu nhương ở nước ta ngày nay, ta cần học bài học văn hiến cao quí và lòng yêu nước bao la của tổ tiên ta xưa, lấy sự nhất thống Tổ quốc làm đầu, nhất thống dân tộc, nhất thống lòng người, nhất thống hoà hài Tôn giáo. Bài học Đô hộ Minh Trung Hoa phá tháp chùa Báo Thiên xưa (1427) và Thực dân Pháp phá chùa Báo Ân, chùa Khán Sơn, điện Kính Thiên, ta cần phải học lại rồi nhìn về Hoàng Sa – Trường Sa nơi ngọn cờ 5 sao của giặc Cờ Đỏ Bắc phương đang tung bay. Đầy thách đố dân tộc Việt Nam! Vậy mà ai đó còn nỡ lòng phân hoá dân tộc nữa sao!
CAO THẾ DUNG, Ph.D.
Trên đồi TIÊN FAIRLAND
Silver Spring, Maryland
– Ngoại ô Hoa Thịnh Đốn
Vào Xuân 2008
• Những Sự Thực Lịch Sử Về Chùa Báo Thiên, Nhà Thờ Lớn Hà Nội và Phật Giáo Việt Nam, phần (1), (2) & (3)
Đọc nhiều nhất
Bản in 18.06.2008. 00:53



