Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 9/08

 

Album Được Xem Nhiều Nhất

10 Bài Mới Nhất

Sách Online

Những Sự Thực Lịch Sử Về Chùa Báo Thiên, Nhà Thờ Lớn Hà Nội Và Phật Giáo Việt Nam, phần 2

§ Cao Thế Dung

Bài II

Toà Khâm Sứ Cũ Diễn Tiến Từ Huế Đến Hà Nội

Mãi tới năm 1925, Toà thánh Vatican mới thiết lập quan hệ bang giao với Pháp, đặt Khâm sứ ở Đông Dương, đồng thời cũng đặt quan hệ bang giao với nước Đại Nam dù đang do Pháp bảo hộ. Công giáo La Mã là một tôn giáo duy nhất vừa có toà Giáo tông toàn cầu lại vừa có nhà nước Vatican (State-État), gọi là "Curia", một chính phủ với các Bộ và các Hội đồng Giáo Hoàng (như Hội đồng Công lý và Hoà bình).

Hiện nay, Vatican có quan hệ ngoại giao hàng Đại Sứ với 172 nước. Tầu và Ta đầu thế kỷ XX gọi là Khâm Sứ hay Khâm mạng tức NUNCIO, không kể các đại diện hàng Sứ thần cạnh Liên hiệp quốc, Liên hiệp Âu châu, Tổ chức quốc tế như Lương Nông FAO, Giáo dục, Khoa học, Văn hoá LHQ UNESCO. Nhà nước Vatican có nhật báo L'Observatore Romano (Người Quan sát Rôma), xuất bản từ ngày 1-7-1861. Năm 1949, có thêm ấn bản phát hành hàng tuần bằng tiếng Pháp, Ý, Anh, Bồ Đào Nha, Đức và Tây Ban Nha. Đài phát thanh Vatican do nhà bác học Ý Marconi, người phát minh ra làn sóng điện, vẽ kiểu dựng đài và điều hành cho đến khi Marconi qua đời., với chương trình toàn cầu, 37 ngôn ngữ trong đó có Việt ngữ.

Nước Vatican chỉ có diện tích 0,44 km2, gồm điện Vatican có tường thành bao quanh và hơn 10 toà nhà ở ngoài thành, bao gồm đại thánh đường, các Bộ và Hội đồng của Giáo triều Rôma và biệt thự Castel Gandolfo nơi Giáo Hoàng nghỉ Hè. Nhà nước Vatican có vào khoảng 1000 viên chức, phần lớn là linh mục, tu sĩ và vài trăm dân sống trong thành, với hơn 3000 linh mục, tu sĩ và giáo dân được tuyển để phục vụ trong các cơ quan hành chính của Giáo Hội. (Xem: Niên giám Toà thánh, 2003, tt. 1133-1184).

Bộ Ngoại giao Vatican có trường Ngoại giao đào tạo các Linh mục thành các nhà ngoại giao chuyên nghiệp mang quốc tịch Vatican. Năm 1925, ĐGH Piô XI với ý chỉ riêng, lập quan hệ bang giao trực tiếp với 3 nước Việt, Miên và Lào, đặt Khâm mạng tại Huế cạnh Hoàng đế Đại Nam, dù là hư vị nhưng vẫn là biểu tượng của nườc Đại Nam. Khâm mạng tiên khởi là TGM Ajuti, người Ý, nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Bấy giờ gọi là Khâm Mạng để khác với Khâm sứ Pháp, viên quan cai trị đứng đầu Trung Kỳ. Toà Khâm Mạng xây cạnh nhà thờ Chính tòa Giáo phận Huế, ở Phú Cam. Khâm mạng chưa về ở toà nhà mới thì qua đời, trước ngày khánh thành 1-5-1928. (Sau này Toà Khâm mạng Huế trở thành nhà Dòng Mến Thánh Giá Huế, gọi là CĐ-MTG Khâm mạng) (Về quan hệ bang giao giữa Vatican và triều đình Huế năm 1925-1945, xem: Cao Thế Dung, Việt Nam huyết lệ sử. Đồng hướng xb, 1996, tt. 613-614).

Toà Khâm Sứ Hà Nội 1951

Pháp chính thức trả độc lập và thống nhất cho Việt Nam qua Văn kiện ngày 8 tháng 3- 1949 tại điện Elysée, Ba Lê, trao đổi giữa Tổng thống Cộng hoà Pháp Vincent Auriol và Hoàng đế Bảo Đại. Và qua quốc thư, Tổng thống Pháp, Chủ tịch Liên Hiệp Pháp gửi Hoàng đế Bảo Đại giải thích rõ về 2 vấn đề thống nhất VN và vấn đề ngoại giao, trong đó nêu rõ: "Chính phủ Cộng hoà Pháp đồng ý để Việt Nam có các phái bộ Ngoại giao ngay tại các xứ sau: "Toà thánh, Trung Hoa, Xiêm". Toà thánh được nêu lên đầu tiên .Cuối văn thư, Tổng thống Pháp viết theo nghi lễ: "Thưa Hoàng đế, xin ngài nhận nơi đây lòng tôn kính rất cao của tôi". (Xem: Nguyễn Khắc Ngữ, Bảo Đại – Các đảng phái quốc gia và sự thành lập chính quyền Quốc gia. NCSĐ, Montreal 1991, tt. 81).

Ký kết xong, Bảo Đại hồi loan, từ Tân Gia Ba, Hoàng đế bay thẳng về Đàlạt, không hạ cánh ở Tân Sơn Nhất Sàigòn vì chưa coi Sàigòn là thủ đô của Quốc gia Việt Nam (Bảo Đại, Con Rồng Việt Nam – Hồi ký chính trị 1913-1987. NPTxb 1990, tr. 351).

Ngày 12-3-1950, Toà thánh Vatican công nhận Quốc gia Việt Nam, thiết lập quan hệ bang giao và tái lập tòa Khâm mạng.

Pháp đã trả phủ Toàn Quyền cũ ở Hà Nội cho chính phủ QGVN, thành "Biệt điện Quốc trưởng", ngày 16-6-1949. Tuy Bảo Đại ở Đàlạt nhưng Hà Nội mặc nhiên là Thủ đô của VN. Thủ tướng chính phủ QGVN ở dinh Thống đốc cũ tức dinh Gia Long, còn Cao Uỷ Pháp vẫn ở dinh Norodom. Do vậy, tân Khâm sứ Toà Thánh TGM John Dooley từ Huế dời ra Hà Nội vào năm 1951. Tân Khâm sứ phải nhờ GM Giuse Maria Trịnh Như Khuê giúp đỡ về cơ sở, nơi ăn chốn ở. ĐC Khuê là Giám Mục VN đầu tiên của Gph Hà Nội, thụ phong ngày 15-8-1950,. (Ngày 24-11-1960 thành lập hàng Giáo phẩm VN với 3 giáo tỉnh Hà Nội, Huế, Sàigòn. ĐC Khuê được phong Tổng Giám mục Hà Nội. TGM Khuê được tấn phong Hồng Y Giáo chủ (Prelate) tiên khởi của GHCGVN ngày 24-5-1976 và tạ thế ngày 27-11-1978). GM Trịnh Như Khuê nhường toà Quản lý của Giáo phận cho Khâm sứ, kế bên nhà thờ chính toà và toà Giám mục Hà Nội, số 40 đường Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm. Đây cũng là tư dinh của Khâm Sứ John Dooley. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, chia đôi VN, Khâm sứ Dooley vẫn ở lại Hà Nội. Năm 1959, Khâm Sứ lâm bệnh nặng phải rời Hà Nội, trao sứ vụ cho Linh mục Đệ nhất Tham vụ. Một thời gian sau, Lm Tham vụ Xử lý và mấy Giáo sĩ tham vụ bị Chính quyền trục xuất về Rôma. Toà Giám mục lấy lại cơ sở làm nhà Quản lý giáo phận như trước do Lm Giuse Nguyễn Tùng Cương làm Quản lý (sau Lm Cương được phong Giám mục giáo phận Hải phòng) cho đến ngày khu đất nhà Quản lý bị Đảng và Chính phủ chiếm đoạt. Toà nhà và khu đất toà Khâm cũ trước sau thuộc quyền sở hữu của Giáo phận Hà Nội là đương nhiên.

Có lập luận phù trợ chính quyền, mở một lối thoát cho Đảng và Nhà nước tìm cách "hoãn binh chi kế" rồi trì hoãn chiến cho đến khi cuộc cầu nguyện ngưng, họ đề nghị rằng: khi nào CHXHCNVN và Vatican thiết lâp bang giao, bấy giờ chính phủ sẽ trả lại toà Khâm sứ cũ cho toà Khâm mới. Sao lại có thể lập luận và nói năng ngang ngược như thế? Giả dụ, xin giả dụ thôi, nếu Vatican và nhà nước CSVN thiết lập bang giao thì tân Khâm sứ phải tìm cơ sớ mới, hoặc là xây toà Khâm mới hay đi thuê. Đơn giản, toà Khâm sứ cũ không thuộc tài sản, đất đai của Bộ Ngoại giao Toà Thánh. Toà Khâm sứ cũ là nhà Quản lý của Giáo phận trước năm 1950 và sau năm 1959 cho đến khi Đảng và Nhà nước chiếm đoạt (lập lại). Theo Giáo luật chỉ có một Tổng giáo phận Hà Nội là pháp nhân duy nhất của cơ sở và đất đai thuộc nhà Quản lý của giáo phận. Bộ Ngoại giao Toà thánh Vatican không có một chút thẩm quyền sở hữu. HĐGMVN cũng không có thẩm quyền về cơ sở đất đai của các giáo phận. Tổng giáo phận Hà Nội do TGM Ngô Quang Kiệt đứng lên đòi lại khu cơ sở đất đai của nhà Quản lý giáo phận là CHÍNH DANH, HỢP TÌNH VÀ HỢP LÝ.

Thực Dân Pháp Phá Chùa và Điện Kính Thiên Xây Doanh Trại

Đất chùa Báo Thiên không phải là TAM BẢO ĐIỀN (đất nhà chùa) mà là đất của làng Tiên Thị (Chợ Tiên), thuộc địa bạ huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội. Vụ chuyển nhượng khu đất chùa Báo Thiên cho GM Puginier Phước, Giám mục giáo phận Tây Đàng Ngoài, thuộc Hội Dòng Thừa Sai Balê (MEP) có liên quan trực tiếp đến các quan chức Việt và Pháp lúc bấy giờ. Về phía Nam triều (gọi tắt Triều đình nước Đại Nam) đứng đầu là quyền Tổng đốc Hà Ninh Nguyễn Hữu Độ (Hà Nội – Bắc Ninh), Tri huyện sở tại Thọ Xương Hoàng Cao Khải, Án sát sứ Hà Nội Nguyễn Xuân Ruẩn (xử lý cả về Hộ luật-luật Điền sản) và Hội đồng Kỳ mục làng Tiên Thị (không có đại diện nhà chùa, vì từ đã lâu không có Sư trụ trì). Về quan chức Pháp sau khi Pháp chiếm thành Hà Nội và Bắc kỳ, BS Harmand làm Tổng trú sứ, thân với Gm Puginier Phước. Dưới Harmand là Trú sứ Hà Nội Bonnal. Sau Hiệp ước Patenôtre - Giáp thân 1884, nước Đại Nam nhận quyền Bảo hộ của Pháp, Bonnal, sử cũ gọi là Bồ-nan trở thành Công sứ Pháp tỉnh Hà Nội. Bonnal can thiệp với Thượng Độ yêu cầu làng Tiên Thị nhượng khu đất chùa cho Gm Puginier Phước. Chùa đã bị Công binh Pháp (Génie) san bằng do Đại tá Guerrier Tham muu trưởng bộ Tổng tư lệnh QĐ xâm lược Pháp đốc suất. Xem bản đồ qui hoạch khu quân sự, khu nhượng địa (sau 1874 – Le Concession Français) và cơ quan hành chính của Bảo hộ Pháp ở Bằc kỳ 1884 cho ta biết rõ, chùa Báo Thiên cũng như chùa Khán Sơn và khu điện Kính Thiên nằm trong khu vực qui hoạch này, đã bị phá huỷ san bằng.

Bấy giờ Hà Nội còn là tỉnh. Đầu năm 1884, Trung tướng Lục quân Millot thay Thiếu tướng Hải quân De Courcy lên Phó Đô đốc làm Tư lệnh Hải quân Pháp ở Nam Hải. Millot là người ra lệnh cho công binh Pháp tiếp tục phá thành Hà Nội cũ. Millot thay De Courcy xin Ba Lê tăng viện để chống lại quân Tầu (Nhà Thanh) đang tràn qua Thượng Du Bắc Kỳ nhưng không được thoả mãn, ngày 29-8-1884, Millot xin từ chức. Ngày 8-9 cùng năm, Tướng Brière de l'Isle thay thế, tiếp tục cho công binh phá thành Hà Nội. Ông tướng này có quan hệ thân với Gm Puginier Phước nhưng không ưa quyền Tồng đốc Nguyễn Hữu Độ với lý do Thượng Độ không sốt sắng thay thế các quan Việt Nam chống Pháp vào lúc nền Bảo hộ Bắc Kỳ vừa được thiết lập. Tháng 5-1885, Phó Đô đôc De Courcy trở lại Hà Nội làm Tổng tư lệnh QĐ Pháp ở Bắc Kỳ, vào lúc Nhà thờ Lớn Hà Nội đang xây cất. Công binh Pháp tiếp tục qui hoạch xây dựng cơ sở mới, phá khu chùa Báo Ân. Đầu năm 1886 thì san bằng ngôi chùa nguy nga tráng lệ này. De Courcy đem 1,000 quân vào Huế ngày 2-7-1885. Ngày 5-7-1885, Phụ chính Tôn Thất Thuyết ra lệnh đánh toà Khâm Sứ và đồn Mang Cá của Pháp. Ta thất bại. De Courcy cho quân chiếm cung điện Huế, cướp phá, đốt nhà, hãm hiếp, giết hàng ngàn dân Việt. De Courcy cũng phạm tội ác văn hoá ở Hà Nội y như Millot và Guerrier là người đã cho san bằng một vùng rộng lớn (quận Hoàn Kiếm bây giờ) để xây cơ sở mới cho QĐ Pháp theo qui hoạch của Tướng Millot (xây trại Khố Xanh và trại Con Gái (tức trại gia binh). Xem: Nguyễn Văn Uẩn, Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX. Nxb Hà Nội, HN 1988, tr. 89, 139 – Trại Con Gái có hai khu ở hai bên đường phố Quần Ngựa (nay là phố Đội Cấn) và ở cửa ô Thôn Ninh (h. Thọ Xương) tức cửa ô Thanh Bảo). Khu chùa Báo Thiên tức chùa Quan Thượng Huế do Tổng đốc Tôn Thất Bật xây lại trên nền chùa Báo Thiên cũ (Xem: Cao Xuân Dục, Tổng tài Quốc sử quán, chủ biên, Đại Nam Nhất thống chí, tỉnh Hà Nội, Q. XIII, tr.218 (lập lại). Không phải chỉ có khu chùa Báo Thiên bị san bằng, khu điện Kính Thiên, kể cả chùa Khán Sơn cũng bị Thực dân Pháp phá huỷ (Về chùa Khán Sơn và khu điện Kính Thiên tôn nghiêm của đất nước, xem: Nguyễn Văn Uẩn, Hà Nội đầu thế kỷ XX, tt. 18, 19, 74). Khán Sơn là một ngôi chùa lịch sử cổ kính dựng trên núi Khán (núi đất ). Chùa thờ Phật, cùng đắp tượng thờ vua Lê Thánh Tông ( Xem : Nguyễn Văn Uẩn, Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX. Nxb Hà Nội, HN 1988, tr.74 - ). Pháp san bằng núi Khán, phá chùa Khán Sơn rồi xây phủ Toàn quyền nay là phủ Chủ Tịch ( quận Ba Đình ). (Chùa Khán cũ bị phá, còn giữ lại được tượng Đức Phật Thích Ca và tượng vua Lê Thánh tông rước vào thờ ở Chùa Dục Khánh năm 1889 ). Giả dụ, nếu GM Phước không xin khu đất Chùa Báo Thiên thì Pháp cũng xây cơ sở khác như chúng đã phá chùa Báo Ân xây nhà Bưu Điện và dinh Thống Sứ Bắc Kỳ.

Từ Chùa Báo Ân Đến Chùa Báo Thiên : Vài Sự Kiện Lịch Sử

Bản đồ phố phường Hà Nội năm 1872 đã thay đổi hẳn vào năm 1884 là năm khởi công xây Nhà thờ lớn Hà Nội, đáng kể là khu "Tầu tượng" ( nuôi voi ) đến Cột cờ. ( Xem : Nguyễn Văn Uẩn, Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX. Nxb Hà Nội, HN 1988, t.29 ), kể cả khu chùa Khán Sơn kỳ vĩ ( núi Khán ), "Năm Dương Đức thứ 13 ( 1673 ) vua Lê Thánh tông ( đúng ra là Gia Hưng, tác giả viết lầm ) cho dựng chùa trên núi, chùa thờ Phật, có cả tượng Lê Thánh tông". Trước đây là miếu sau đổi thành chùa do miếu bị đổ nát ... ( Nguyễn Văn Uẩn, sđd. tr.74 ). Cuối cùng chùa bị tàn phá ( lập lại ). Chùa Bà Đá tức Linh Quang Tự, xây từ triều Lý, ở xâu vào phía trong nên thoát được bàn tay tàn bạo của giặc xâm lược ( Chùa Bà Đá ở số 3 đường Nhà Thờ - khu toà Khâm sứ cũ ở số 40 ). Chùa Báo Ân, một ngôi chùa có hồ sen bao quanh cây cối, 4 tháp nguy nga sân lát gạch qúi. ( Xem Đặng Thái Hoàng, sđd. , tr.12 ).

Đại Nam nhất thống chí có chép về ngôi chùa hoành tráng này, gọi là chùa Liên Trì, do chùa có hồ sen rất đẹp trong cảnh quan bát ngát Thiền vị "ở thôn Cựu Lâu, huyện Thọ Xương là chỗ cũ của lầu Ngũ Long đời Lê. Bản triều đầu đời Thiệu Trị, Hà Ninh Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai dựng chùa rất rộng đẹp, tám mặt đào cừ trồng sen cho nên gọi là chùa Liên Trì" ( sđd, tỉnh Hà Nội, Q.XIII, tr.218 ).

Ghi chú thêm, cũng do lập một số chùa như chùa Báo Ân, Kinh lược sứ Giai bị Vua và Đô sát Viện khiển trách nặng nề, vua Thiệu Trị quở mắng Thượng Giai : "Trẫm kính tuân tâm pháp trị pháp cũng chỉ để đưa dân vào khuôn phép để được hưng thịnh, chung hưởng phúc thái bình. Thế mà Viên ấy đã đắm chìm vào giáo lý hư vô đã lấy mình dối gạt người, dám dùng lời lẽ sách ẩn hành quái như thế đối trước quân phụ. Như vậy là muốn đem cái dị đoan ra cho thiên hạ noi theo sao?" ( Châu bản triều Thiệu Trị, năm thứ 4 ( 1845 ), tháng 6 ngày 2. Nội các, Q.28, 4 tờ ).

Báo Ân tự tức chùa Liên Trì, không phải là chùa quan ( hay sắc tứ, được vua sắc phong ) mà là chùa tư. Y như trường hợp chùa Báo Thiên do Tổng đốc Bật dựng lại cũng là chùa tư, trên đất của làng Tiên Thị (lập lại). Ấy vậy mà vị Hòa Thượng GHPGVN của Nhà Nước đòi quyền thừa kế thì lạ thật, nếu không muốn nói là ảo tưởng ngông cuồng.

Về Một Điệp Khúc "Phá Chùa Xây Nhà Thờ"

Điệp khúc : "Phá Chùa Xây Nhà Thờ" được nhắc đi nhắc lại trên một số báo và đài ở VN, kể cả ở Hải Ngoại hiện nay và trong sử sách nữa.

Một bộ sách sưu khảo với giá trị cao và công phu về đình, chùa và lăng tẩm VN, phần chùa Báo Thiên Hà Nội, tác giả viết: "Chùa này sau bị Thực dân Pháp phá, để xây nhà thờ lớn Hà Nội. Vị trí cũ ở khoảng bên phải đền Lý Quốc Sư" (Nhóm chủ biên Trần Mạnh Thường và Bùi Xuân Mỹ, Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam. Nxb VHTT, HN 1999, tt. 52-53).

"Phá chùa xây nhà thờ" trong trường hợp này là một thảm kịch lịch sử. Nghe nói như thế ai mà không xúc động, nổi giận và nhức nhối! Đấy là tội ác văn hoá không thể nào biện minh hay che lấp được. Đấy là hành động thiếu văn minh và man rợ. Đấy là sự kỳ thị tôn giáo đáng xấu hổ, dù là phá một ngôi chùa hoang nhưng không vô chủ. Chủ nhân vẫn là dân làng Tiên Thị, giữa trái tim cố đô Thăng Long ngàn năm văn vật.

Nhưng sự thực "phá chùa xây nhà thờ" trong trường hợp chùa Báo Thiên và Nhà thờ lớn Hà Nội lại có khá nhiều những sự kiện lịch sử (historical facts) ở trong sự thực ấy, bao quanh sự thực ấy. Đã đến lúc phải bạch hoá: GM Puginier KHÔNG PHÁ CHÙA XÂY NHÀ THỜ. Rất rõ rệt!

Tôi có 5 bản đồ về thành Hà Nội năm 1783, Hà Nội sau năm 1874 với khu nhượng địa Pháp (Le concession français). Đặc biệt là bản đồ Hà Nội với qui hoạch của Quân đội Viễn chinh Pháp năm 1883 cùng bản đồ khu vực "Hà Nội – phố phường", 1885 (theo Babonneaux), và bản đồ qui hoạch thành phố Hà Nội (Plan de la ville de Hanoi) năm 1888 là năm vua Đồng Khánh nhượng cho Pháp làm thành phố nhượng địa, giải thể tỉnh Hà Nội, lập tỉnh mới Hà Đông (Về tỉnh Hà Đông, hậu thân của tỉnh Hà Nội và thành phồ Hà Nội, xem: Cửu Long Giang và Toan Ánh, Miền Bắc khai nguyên. Sàigòn 1968, tt.375-386; 947-456).

Khu đất chùa Báo Thiên nằm trong khu qui hoạch của Quân đội Pháp 1884, thời Trung tướng Millot làm Tổng tư lệnh và Đại tá Guerrier làm Tham mưu trưởng, (đã dẫn ở phần trên và lập lại ở đây). Năm tấm bản đồ quí giá kể trên do một số tác giả và sử gia sưu tầm mà tôi chỉ là người tái sử dụng. Đó là "vật thực" của sử liệu và tài liệu học. Tỉnh thành Hà Nội trước năm 1884 có 2 huyện Vĩnh Thanh và Thọ Xương là huyện ở trung tâm, trị sở huyện Thọ Xương ở gần Văn Miếu thuộc tổng Tả Nghiêm. Năm 1884, Hoàng Cao Khải làm Tri huyện huyện này (Đại Nam Thực lục, Đệ ngũ kỷ, Q. V, tr. 159 – Bản chữ Nho tàng trữ tại Thư viện Yenching, ĐH Harvard, Mass. USA, ký hiệu số FC 2467 (p)).

Thành Hà Nội nằm trong huyện Thọ Xương do phủ Hoài Đức thống hạt, trị sở của phủ toạ lạc gần Hồ Hoàn Kiếm. (Xem: Hoài Đức toàn đồ (1831) do Lê Đức Lộc và Nguyễn Công Tiến vẽ và ghi chữ Nho – đề ngày 24-6-1831). Và cho ta thấy, chùa Báo Thiên toạ lạc ở khu trung tâm trái tim cố đô Thăng Long, dĩ nhiên không phải khu đất hoang mà Gm Puginier có thể "múa gậy vườn hoang" ngang nhiên xây nhà thờ trên vùng đất thiêng này, dù là thời đầy nhiễu nhương như mấy năm 1882 đến 1885. Huyện Thọ Xương có 8 tổng, 115 thôn phường. Phường Báo Thiên thuộc thôn Tiên Thị nằm vào khu trung tâm là khu Công binh Pháp giải toả cùng với khu điện Kính Thiên trong qui hoạch xây doanh trại và cơ sở quân sự cũng như cơ quan hành chính của nền Đô hộ Pháp vừa được thành lập sau Hoà ước Patenôtre 1884. (Về khu điện Kính Thiên, trại Con Gái, trại Khố Đỏ, vùng Cột Cờ, xem: Nguyễn Văn Uẩn, Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX. Nxb Hà Nội, HN 1998, tt. 18, 19, 139).

Trong quyển IV, Việt Nam Công giáo sử - TÂN BIÊN của Cao Thế Dung (do cơ sở Dân Chúa xuất bản) 1865-1975 – Phụ lục 1976-2005) tôi chỉ viết có hơn 3 giòng và một biên chú về Nhà thờ lớn Hà Nội. Có 2 lý do chính thúc đẩy tôi viết loạt bài khảo cứu này, hơn một lần lập lại: Một là do lá thư của HT Thích Trung Hậu gửi Thủ tướng Chính phủ CHXHCNVN (đã dẫn), đã hoàn toàn sai lạc về Nhà thờ lớn Hà Nội và khu toà Khâm sứ cũ. Hai nữa, do bài "Hồi ức" của Gm Nguyễn Văn Sang với trích dẫn từ một cuốn tiểu thuyết về lai lịch "phá chùa xây nhà thờ lớn Hà Nội". Đoạn trích dẫn đã có quá nhiều sai lạc với những sự kiện "ảo", nếu không muốn nói là hoang đường. Qua bài "Hồi ức" của Gm Nguyễn Văn Sang với phần trích dẫn tiểu thuyết hoá chùa Báo Thiên và Nhà thờ lớn Hà Nội lại được đăng trên một số báo Công giáo và bản tin Công giáo, vô hình chung phần trích dẫn ấy cho ta thấy GM Puginier là một lãnh chúa ở Hà Nội, ngang nhiên xây nhà thờ trên vùng đất có chủ chứ không phải vô chủ.

Một vài điều chúng tôi viết trong bài này về vụ "phá chùa xây nhà thờ lớn" vẫn còn TỒN NGHI. Nhưng với tài liệu và bản đồ qui hoạch của QĐ Pháp năm 1883 mà chúng tôi có được nên có thể nói chắc rằng, phá chùa để xây nhà thờ không phải là mục đích của Thực dân trong qui hoạch thiết kế. Hơn một lần lập lại: khu chùa Báo Thiên mà Thực dân cho san bằng, chưa xây cất cơ sở, Gm Puginier ngỏ ý với Công sứ Pháp tỉnh Hà Nội xin khu đất trống này để xây nhà thờ. Công sứ Bonnal chuyển đề nghị qua quyền Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Hữu Độ. Còn nhiều sự kiện sau điệp khúc "phá chùa xây nhà thờ" cần phải làm sáng tỏ. Tôi dự định mùa Hè năm nay sẽ trở lại Thư viện và Văn khố của Hội Thừa Sai BaLê (MEP), hy vọng có thể tìm được các văn kiện gốc (primary sources) liên quan đến Gm Puginier Phước, Tướng Millot, Đại tá Guerrier, Công sứ tỉnh Hà Nội Bonnal (1884) và vài ông tướng khác như Courbet, Bouët, De Courcy.

Những Sai Lầm Hoang Tưởng Từ Một Truyện Tiểu Thuyết Về Chùa Báo Thiên và Nhà Thờ Lớn Hà Nội

Gm Nguyễn Văn Sang, nguyên Giám mục Phụ tá Gph Hà Nội, hiện là Giám Mục Gph Thái Bình qua một bài viết đã dẫn trên báo Dân Chúa như sau: "Tôi nghe có nhiều người nói: nhà thờ đã được xây trên nền của chùa Báo Thiên. Về việc này, tôi đã đọc thấy trong cuốn tiểu thuyết "Mẫu Thượng Ngàn" của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Trong tác phẩm nêu trên, từ trang 315-318, tác giả có đề cập đến việc xây cất ngôi nhà thờ chính toà Hà Nội, nội dung có thể tóm tắt như sau: Đức Giám mục Puginier (Đức Cha Phước) quyết định xây một ngôi nhà thờ lớn ở thủ đô Bắc Kỳ, ngài đã đem ý định này ra nói với ông Bonnal – lúc bấy giờ là Trú sứ Pháp tại Hà Nội. Ngài cũng bày tỏ ý muốn thích miếng đất trên nền Chùa Báo Thiên. Ông Bonnal liền tới gặp Tổng đốc Hà Nội là Nguyễn Hữu Độ, ông này cho người đi tìm nhà sư trụ trì chùa Báo Thiên để bàn bạc, nhưng mọi người đếu nói không biết vị tăng đó hiện đang ở đâu. Sau một thời gian tìm kiếm nhưng cũng không thấy tung tích gì cả. Ông Tổng đốc bèn cho triệu tập các bô lão trong làng họp bàn và cùng ra xem xét ngôi chùa một thời vì chiến tranh loạn lạc đã bị tường xiêu mái thủng. Sau khi xem xét, ông liền bảo các bô lão viết một đơn xin phá chùa vì theo như nhận định của ông, để ngôi chùa trong tình trạng như thế có thể sẽ gây nguy hiểm chết người, Các bô lão nhất loạt ký vào tờ đơn đưa cho Tổng đốc để nộp cho Trú Sứ Bonnal. Thấy hợp với luật pháp, Trú sứ Bonnal liền quyết định cấp cái nền chùa vô chủ đã bị phá ấy cho Đức Giám mục. Ngay sau đó, Nhà thờ được khởi công và xây trong vòng bốn năm, từ năm 1884-1888. đó là lịch sử xây nhà thờ lớn Hà Nội". (Xem: Gm F.X. Nguyễn Văn Sang, "Những hồi ức về đất đai của toà Gm và toà Khâm sứ cũ". Nguyệt san Dân Chúa, số 371, tháng 3-2008, tt. 9-13 – trích nguyên văn). Nếu như vậy thì quả rằng đã có sự kiện PHÁ CHÙA XÂY NHÀ THỜ. Ở đây, tôi không làm một việc "ngớ ngẩn" để biện minh cho ai hay hỗ trợ ai. Người cầm bút và nghiên cứu lịch sử và văn hoá không được phép làm điều đó, vừa "ngớ ngẩn" lại vừa thiếu lương tâm và sự chân chính. Qua đoạn văn của Gm Nguyễn Văn Sang tôi trích dẫn trên đây, có một số điều cần nói rõ: một là trong sử học không thể nói: "tôi nghe thấy" và đó chỉ là hồi ức vể một quá khứ xa xăm mà mình không phải là chứng nhân. Hai nữa, đã gọi là tiểu thuyết thì không thể dẫn chứng như một tài liệu lịch sử. Có thể có sự kiện "các bô lão viết một đơn xin phá chùa" chăng?. Sống với văn hoá, văn minh và truyền thống dân tộc Việt, không bao giờ các bô lão chịu khuất phục trước cường quyền để "muối mặt" làm một việc "động trời" như thế. Có thể chỉ là "nghe nói" rồi tiểu thuyết hoá. Có thể do một ai đó có ý đồ huyền thoại hoá Gm Puginier để hư truyền Giám mục đầy thế lực và quyền uy chính trị và trần thế. Có thể các bô lão Tiên Thị sợ Tây đàn áp, bắt bớ hay sợ Thượng Độ này, nọ. Các bô lão ở giữa trung tâm văn vật của đất nước vào lúc cao trào chống Tả, sát Tả (Công giáo) đang lên cao (1883-1885...) và lan rộng ở Địa phận Tây Đàng Ngoài (tiền thân của Gph Hà Nội) chắc rằng họ không sợ "Cố Tây" Puginier. Vả lại, phá đền, chùa, miếu, đình chỉ có Vua mới có quyền tối thượng, dù là chùa đã bỏ hoang. Ngôi vua nước Đại Nam thời vua Kiến Phúc (1884) vẫn còn uy quyền tối thượng với các Phụ chính Đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Phá chùa hay để cho kẻ khác phá chùa sẽ bị xử theo tội Hình. Chỉ có Thực dân mới làm được việc "động trời" này. Chắc Thượng Độ không dám làm. Không thể gọi "các bô lão" mà đó là Hội đồng Kỳ mục (còn gọi là Kỳ hào) làng Tiên Thị.

Công sứ Bồ-Na (Bonnal) cũng không dám làm. Cấp trên Bồ-na là Tổng Trú sứ Hắc-măng tức Bác sĩ Harmand. Nghĩa là chỉ có nhà Binh Pháp mới xuống tay phá cả điện Kính Thiên huống chi chùa. Những ông tướng giặc từ De Courbet, De Courcy, Millot, de l'Isle, họ ngán ai. Cũng là một thứ tướng giặc Trương Phụ vậy.

Luật Lệ Triều Nguyễn, Bảo Hộ Pháp và Tôn Giáo

Mấy năm đầu vừa thiết lập nền Bảo Hộ theo Hoà ước Patenôtre 1884, người Pháp còn tôn trọng Hoà Ước qua các điều 2, đ, 5, đ. 6 và đ. 7 về sự duy trì quyền nội trị, hành chính của Nam Triều. Quan chức Bảo Hộ Pháp vẫn còn áp dụng và xét xử theo Luật lệ Hoàng Việt. Phá chùa thì dễ, chỉ cần làm đơn xin phá là xong, nhưng đơn phải đệ lên Bộ Lễ và vua phê duyệt. Đất nền chùa KHÔNG BAO GIỜ LÀ ĐẤT VÔ CHỦ CẢ dù là chủ bỏ hoang. Một là đất Tam bảo điền, đất của nhà Chùa. Hai là công điền, công thổ của làng Tiên Thị, h. Thọ Xương, vào lúc ấy Tri huyện sở tại là Hoàng Cao Khải (sau lên đến Kinh lược sứ Bắc Kỳ, rồi vào Huế làm Phụ chính Đại thần, được phong đến tước Quận công). Nếu là Tam bảo điền, không một ai có quyền bán hay sang nhượng, kể cả nhà Sư trụ trì. Nhà Nguyễn tuy luật lệ khắc nghiệt nhưng không phải luật rừng. Dù "quyền khuynh thiên hạ" ở địa phận Tây Đàng Ngoài, Gm Puginier cũng không được phép ngang ngược chiếm đoạt "đất vô chủ" của chùa Báo Thiên, rộng cả ngàn mét vuông.

Dù Phật giáo và Đạo giáo được tự do hành đạo dưới triều Nguyễn nhưng phải trong vòng pháp luật, Tăng cương và Tăng đạo do Bộ Lễ giám sát.. Sư tăng phạm pháp bị xử, một là theo Hình luật, hai là theo Lễ luật. Trong Sử có một trường hợp khoảng năm 1834, thi sĩ Nguyễn Công Trứ cho phá đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm ở làng Cổ Am để làm đường, khai thuỷ lộ nhân danh Tổng đốc Hải An, hàm Binh bộ Thượng thư. Thượng Trứ phải tâu lên vua Minh Mệnh. Sau phải làm lại đền này. Tôi nêu lên đây hai vụ tiêu biểu:

Vụ thứ nhất: Nhà Sư bị trị tội vì phạm Hộ luật (Tam bảo điền): "Ngày 24 tháng 6 năm Thiệu Trị thứ 6 (1847), Bộ Hộ phúc trình về việc Sư Nguyễn Nhất Phẩm trụ trì chùa Thiên Hoà, hạt Hương Trà, h. Dương Xuân Thượng làm đơn tố đòi lại 8 mẫu ruộng Tam bảo do vợ chồng Lê Văn Thiện cúng chùa, nhưng đã 40 năm. Nhà Sư tố, đòi ruộng không đúng luật bị xử khinh luật, xử phạt 40 roi (vì đã quá thời hạn hồi tố 20 năm) (Châu bản triều Thiệu Trị thứ 6, tháng 7 ngày 9 - Bộ Hộ, Q. 35- tờ 96a -98a).

Vụ thứ 2: Linh mục Trần Lục bị xử theo Lễ luật: Sau khi đậu Cử nhân năm Bính tý (1876), Phan Đình Phùng được bổ làm Hậu bổ (Tập sự Tri huyện) rồi được bổ làm Tri huyện Yên Khánh, Ninh Bình. Bấy giờ Linh mục Trần Lục làm Cha sở Phát Diệm, vì phạm Lễ luật, dùng tàn quạt, ngựa, cáng, rước xách "quá chức phận" bị Tri huyện Phan Đình Phùng xử tội theo Lễ luật, cho nọc ra trước công đường, sai lính đánh mấy chục roi. Vụ này gây "chấn động" Địa phận Tây Đàng Ngoài nơi mà Gm Puginier đang là một thế lực. Giám mục phản đối, vua Tự Đức "huyền chức" họ Phan, cho gọi về Huế (năm 1879) nhưng lại được thăng chức, cho làm Đô sát viện Ngự sử (Xem: Trịnh Văn Thanh (GS), Danh nhân tự điển, Sàigòn 1966, tt. 972-977). Về Đình nguyên Phan Đình Phùng, đậu đầu Tiến sĩ khoa Đinh sửu (1877), gọi là Đình nguyên, xem: Cao Xuân Dục, Quốc triều Khoa bảng lục trong Tuyển tập CXD, T. 2. Nxb VH, HN 2001, tr. 197-198).

Bảo Hộ Pháp và Luật Lệ Đại Nam

Trong bài "Hồi ức" của Gm Nguyễn Văn Sang (đã dẫn), có đoạn trích dẫn này là nổi bật những sự kiện Ảo: "Các bô lão nhất loạt ký vào tờ đơn cho Tổng đốc để nạp cho Trú sứ Bonnal. Thấy hợp với luật pháp, Trú sứ Bonnal quyết định cấp cái nền chùa vô chủ đã bị phá ấy cho Đ. Giám mục". Hoàn toàn là hoang tưởng "tào lao thiên địa"! Cũng không lấy làm lạ. Tiểu thuyết mà! Sự kiện ảo, sự kiện sai vẫn là sự kiện cần phải sử dụng để tìm ra ánh sáng của sự kiện thực. Đoạn văn trích trên đây từ truyện "Mẫu Thượng Ngàn" đã chứng tỏ tác giả không biết một chút nào về luật lệ của nước Đại Nam, thẩm quyền của Công sứ và chủ quyền của Đại Nam theo Hoà ước Patenôtre. Nói nôm na bình dân thì đây là chuyện "ba láp!". Như ta đã biết, sử học là khoa học tài liệu. Mà tài liệu đã thành khoa học tài liệu học. Luật pháp triều Nguyễn đâu phải là luật rừng. Đại bộ Đại Nam Hội điển sự lệ của Nội các triều Nguyễn vĩ đại như thế nào, chỉ cần lược qua thôi ta sẽ thấy sự vĩ đại đó. Hãy nói về Binh luật, 17 quyển (từ Q. 161 đến Q. 178). chỉ nói một Q. 161 thôi (từ trang 89 đến tr. 116) qui định việc COI GIỮ miếu, điện đến đàn, miếu, chùa chiền ... gốm 11 khoản (với các án lệ). Luật Hộ rất phong phú, qui định từng chi tiết về thuế, tiền nợ, hàng bán ở chợ, nhặt được của cải, đồ vật đánh rơi ... Luật Lễ còn qui mô hơn nữa, như Q. 187 qui định "Tăng đạo cũng phải lậy cha mẹ", việc tang ma chôn cất, lễ họp uống rượu ở trong làng. Luật lệ về Hình từ Q. 179 đến Q. 192. Lớn lao lắm vậy! Luật Hộ, phần công điền, công thổ, tư điền, tam bảo điền có thể nói qui mô vượt mức, qui định từng chi tiết. Từ năm 1884 đến đầu thế kỷ XX, Chính quyền Bảo Hộ Pháp ở Bắc Kỳ vẫn áp dụng luật lệ An Nam cho đến khi ban hành bộ Dân luật Bắc Kỳ. Nghị định của Toàn quyền Pasquier (ta gọi là Bát Kê) ký ngày 30-3-1931: "Những đạo Dân luật ở Bắc Kỳ trái với luật này, bãi bỏ hết" (Ở Trung Kỳ mãi năm 1939 mới áp dụng Bộ Dân luật mới).

Ngay từ năm 1875, Pháp đã dự liệu khi chiếm Bắc Kỳ phải áp dụng Luật An Nam. Hai nhà luật học An Nam đầu tiên của Pháp là 2 học giả và là quan chức cao cấp Aubaret (Ô-ba-rê) và Philastre (Phi-lát). Hai ông tinh thông chữ Hán-Nôm và Việt học. Chính quyền Pháp cho in bản dịch "Luật lệ Hoàng Việt". Bản tiếng Pháp là Le Code Annamite, 1500 trang, chia làm 2 tập (khổ 17X27cm. Ed. Ernest Le Roux, Paris 1875, in lần thứ 2, Paris 1909, tựa của Philastre. Nhờ vậy, vừa thiết lập nền Bảo Hộ, năm 1884 các quan chức Bảo Hộ Pháp áp dụng ngay Bộ Luật này. Vậy với bộ Luật kể trên, Công sứ Bonnal có dám lộng quyền và hành xử phi pháp như phần trích dẫn của Gm Nguyễn Văn Sang không? Tuyệt đối KHÔNG. Vả lại, sau Hiệp ước 1884, Bắc và Trung Kỳ theo lưỡng chế Pháp-Việt (Chính quyền Pháp ở Hà Nội sau năm 1888 là năm thành lập thành phồ Hà Nội nhượng địa do Halais làm Đốc lý (Thị trưởng) mới hoàn toàn áp dụng luật lệ của Pháp). Phía Bảo Hộ Pháp do Công sứ Pháp đứng đầu như Công sứ Hà Nội Bonnal "Résident Bonnal" (trước năm 1888). Phía Nam triều đứng đầu tỉnh Hà Nội cũng như các tỉnh khác là Tổng đốc (tỉnh cấp trung là Tuần phủ, Trung Kỳ gọi là Tuần Vũ. Tỉnh nhỏ gọi là Đạo (như Đạo Ninh Thuận). Sau Tổng đốc là Bố Chính Sứ (coi về Hộ vụ: thuế khoá, ruộng đất, địa bạ, lương bổng...) rồi đến Án Sát sứ và Hộ lý Tổng đốc (sau gọi là Thương tá). Nam triều được tự trị, nội trị, ruộng đất, địa bạ thuộc quyền Tổng đốc, Bố chính, Án Sát Nam triều (xét xử tranh tụng) không thuộc trách nhiệm của Công sứ Pháp. Xin lập lại: Công sứ Pháp như Bonnal vẫn phải thi hành Luật lệ Hoàng Việt. Do vậy, TUYỆT ĐỐI không có "sự cố" Công sứ Bonnal cho phép phá chùa Báo Thiên và cho GM Puginier xây nhà thờ trên nền đất "vô chủ". Mà, do Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Hữu Độ. Tổng đốc Độ cũng không có quyền mà quyền ấy thuộc Hội đồng Kỳ mục làng Tiên Thị theo Hương ước của làng trên căn bản "Phép vua thua lệ làng" (trình bầy phần sau).

Dù Gm Puginier bấy giờ "quyền khuynh thiên hạ" cũng không được ngang nhiên xây nhà thờ lớn trên nền đất "vô chủ" (!) Đại Nam Hội điển sự lệ, Q. 204, về Luật Công và xây dựng với 10 khoản qui định chi tiết, khoản đầu về "tự tiện xây dựng" (Xem: ĐNHĐSự lệ, đã dẫn, Q. 204, tt. 505-509). Vậy Tổng đốc Độ có dám để cho Gm Puginier tự tiện xây nhà thờ lớn không? Chắc chắn không dám. Công sứ Bonnal chắc chắn không dám đi ra ngoài thẩm quyền của ông. Có thể ông ta gây áp lực phía sau. Xây không đúng qui cách còn bị phạt (Q. 204, tr. 508) huống chi tự tiện xây nhà thờ (Bộ Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ vĩ đại này, 262 quyển – Bản dịch của Viện Sử Học. Nxb Thuận Hoá phát hành 1000 cuốn, Huế 1992, hiện tàng trữ tại Thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ - Kho sách VN – Phân vụ ĐNA – hỏi mượn xem tại chỗ ở "Main Reading Room").

Quyền Lực Của Triều Đình Huế 1884

Những năm đầu Bảo Hộ Pháp, triều đình Huế vẫn còn quyền lực cai trị ở cấp tỉnh, ngoại trừ các thành phố nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Tourane (Đà nẵng) và Qui Nhơn. Do một số vụ sang nhượng đất đai (công thổ) ở Thọ Xương (1883-1884) trong đó có vụ khu đất chùa Báo Thiên, Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ bị quan Khoa đạo (giám sát) Bùi Hữu Tạo tâu về Huế đàn hặc. Phủ Phụ chính đem nội vụ xét xử ngay. Do làm quan lâu năm, ông Độ tiến hành đúng thủ tục hợp pháp nên chỉ còn vụ Sinh Từ, xây đền thờ sống Thượng Độ (sau là phố Sinh Từ). Tội này xử theo Lễ luật, rất nặng "xin xét nghiêm trị để ngăn sự gian tà ở trong quan trường". May có Án Sát sứ Cao Xuân Dục minh oan. Vụ Sinh Từ do một dân thôn Đông Thành huyện Thọ Xương "xướng làm mà thôi". Thực lục chép: "Cao Xuân Dục đều đã minh bạch hồi tấu" (Đại Nam Thực lục, đệ ngũ kỷ, Q. VII, tt. 213-217). Tổng đốc Độ thoát tội. Vụ Sinh Từ do hai Phụ chính Đại thần trực tiếp thụ lý, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đang chủ trương "Bình Tây sát Tả" (Đánh Tây sát Đạo). Vụ sang nhượng đất ở Thọ Xương trong đó có vụ đất nền chùa Báo Thiên thuộc địa bạ làng Tiên Thị chỉ được kết thúc vào thời Biện lý Bộ Hình Cao Xuân Dục ra làm Án Sát sứ tỉnh Hà Nội thay thế Án Sát sứ Nguyễn Xuân Ruẩn bị cách chức vào cuối năm 1884. Một Cao Xuân Dục dám cầm ghế đánh Công sứ Pháp Nam Định hẳn là ông không ngán Gm Puginier. Một tác giả nhận định: "Ở chức vụ mới này, bằng sự táo bạo và chí quyết đoán, Cao Xuân Dục đã đem lại cuộc sống yên ổn cho Hà Nội và một số vùng phụ cận" (Lê thị Hồng Lam, Cao Xuân Dục, một sỹ phu có tinh thấn dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Bộ GD và ĐT – ĐH Vinh, 2005, tr.36). Án Sát CXD trước đó từng làm Tri Phủ Ứng Hoà, Hà Nội và thầy đồ Nguyển Sinh Huy, thân phụ HCM theo họ Cao ra phủ này làm một "chân" Nho.

Gm Puginier là người bảo trợ (protégé) Tổng đốc Độ. Sử quan triều Nguyễn phê bình Nguyễn Hữu Độ "nương tựa vào thế quan Pháp để được ngôi cao". "Trước đây Nguyễn Văn Tường cùng Tôn Thất Thuyết cho rằng Hữu Độ ở Hà Nội phần nhiều hay nịnh hót, quan Pháp rất vui lòng, Cơ Mật viện nhiều lần đem việc tâu lên, chuẩn cho khiển giáng hay triệu về, Hữu Độ đều được quan Pháp che chở, rất là đáng ghét"... "Ngày tháng 7 năm ngoái, khuyên Bùi Hữu Tạo lấy viêc xây Sinh Từ để tâu hặc, nhân đó đẩy Hữu Độ đến tội". (Đại Nam Thục lục, Đệ ngũ kỷ, Q. VIII, tt. 236-237 – Q. I đến Q. VIII, Thư viện Yenching, ĐH Harvard ký hiệu số FC 2467 (p). Sau Tổng đốc Độ bị giáng chức Tổng đốc Hà Nội "đổi bổ nơi khác" (Đại Nam Thực lục, Đệ ngũ kỷ, Q. III, tr. 99). Thượng Độ con nhà thế thần lại nhờ thế Tây trong đó có Gm Puginier vẫn thăng quan tiến chức làm đến Phụ chính Đại thần, lại "nạp" con gái làm phi vua Đồng Khánh.

Những Sự Thực Cần Sáng Tỏ

Tóm lại: chùa Báo Thiên do QĐ Viễn chinh Pháp cho san bằng. GM Puginier cậy nhờ Công sứ Bonnal rồi Bonnal lại nhờ Tổng đốc Độ trong thẩm quyền can thiệp với các Kỳ mục làng Tiên Thị sang nhượng khu đất để Giám mục xây nhà thờ. Sự thực là như thế và chỉ có như thế.

Dù GM Puginier tai tiếng về chính trị nhưng phải công nhận rằng ông có trình độ văn hoá cao, thông thạo chữ Hán-Nôm và Quốc ngữ, thấm nhuần văn hoá văn minh VN lại là người khôn khéo, linh hoạt từng được vua Tự Đức ban cho một Đồng tiền vàng và Huân chương Kim Khánh đệ nhất hạng. Chắc là ông không làm một việc trực tiếp tham dự vào việc "phá chùa xây nhà thờ". Và, ông đã nhờ Thượng Độ làm trung gian. Bô lão làng Tiên Thị ở giữa trái tim cố đô Thăng Long không phải là các ông già làng miền núi mà Gm Puginier và Thượng Độ có thể khuất phục được như cuốn truyện hạng xoàng "Mẫu Thượng Ngàn" đã tiểu thuyết hoá. Đây là quê hương của Nữ sĩ Thanh Quan, nữ sĩ Hồ Xuân Hương và bao sỹ phu khoa bảng khác như "thần Siêu, thánh Quát". Tự Đức ca tụng "Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán". Hẳn là các bô lão Tiên Thị không phải là hạng người GM Puginier và Thượng Độ bảo sao nghe vậy, nhất là vào lúc phong trào "Bình Tây sát Tả" đang lên cao ở Địa phận Tây Đàng Ngoài (tiền thân của Gph Hà Nội). Tinh thần chống Pháp ngay trong các quan VN vẫn còn cao. "Để có người trông nom việc hành chính, Brière de l'Isle áp lực Nguyễn Hữu Độ thay dần các quan chức "bài Pháp hay thiếu hợp tác" (Xem: Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn , 1884-1945. Nxb VH, Houston 2000, tr. 413).

Với không khí chống Công giáo đang căng thẳng ở ngay Hà Nội và Địa phận Tây Đàng Ngoài, chắc GM Puginier không thiếu khôn ngoan trực tiếp can dự vào việc "phá chùa xây nhà thờ", dù là ngôi chùa hoang. Sỹ phu Bắc Hà có thể sợ Tây đàn áp, chém giết tù đầy, nhưng chắc rằng không sợ GM Puginier (lập lại). Một Tiến sĩ Phạm Văn Nghị tức Nghè Tam Đăng, thầy của các bậc thầy Bắc Hà, Tam nguyên Nguyễn Khuyến là học trò. Nghè Tam Đăng đâu có sợ Tây! Hơn nữa, bên cạnh GM Puginier là một số Thừa sai trẻ tiến bộ và khai phóng, hàng đầu là Lm học giả Su-vi-nhê (Souvignet), tên Việt là cố Thi, chánh xứ Giáo xứ Phủ Lý (Hà Nam) từng ở Kẻ Non, Đồng Chuối, Kẻ Sông. Thừa Sai Souvignet là một nhà bác học ngôn ngữ, tinh thông Hán-Nôm, Quốc ngữ, tiếng Mã Lai, Thái, Khơ-me, Hoa ngữ, Bahnar ... Thừa sai so sánh các ngôn ngữ kể trên với tiếng Việt. Ông lại thông quán phương ngữ cả 3 miền Bắc Trung Nam. Thừa sai soạn bộ Ngôn ngữ VN đầu tiên và là nhà Ngữ học VN đầu tiên với tác phẩm viết bằng tiếng Việt "Cỗi rễ tiếng An Nam", (xem: Nam Phong tạp chí, số 107, tháng 7-1926), và tiếng Pháp là "Les Origines de la langue Annamite" (Hà Nội 1922- 3è édition). Nhà ngôn ngữ quốc tế Souvignet ca ngợi tiếng Việt như sau: "tuy gốc Hán nhưng bao nhiêu chữ người Việt dùng đã Việt hoá thành Hán Việt". Học giả Phạm Quỳnh là bạn thân của cố Thi, rất đồng điệu với cố Thi (xem: Phạm Quỳnh, Hán Việt văn tự. Nam Phong số 107, tháng 7-1926, tt. 12-20). Thừa sai Souvignet thấm nhuần văn hoá, văn minh và truyền thống Việt Nam, ông viết bộ "Les Variétés Tonkinois" (Bắc Kỳ tạp lục), không tiếc lời ca tụng văn hoá, văn minh và mỹ tục VN ở Bắc Kỳ.

Lại còn Thừa sai Albert Schlickin tức Cố Chính Linh, thân cận của Gm Puginier, là Cha Chính toà Giám mục Kẻ Sở, ông thông thạo Hán-Nôm, dịch Kinh thánh Cựu Ước ra tiếng Việt "Sấm truyền cũ". Bản thân GM Puginier cũng đã viết nhiều bài về "Tình cảnh nông dân Bắc Kỳ" cuối thế kỷ 19. Với một cộng đoàn Thừa sai như thế hẳn là Gm Puginier không thiếu khôn ngoan làm một việc phi văn hoá và thất nhân tâm "phá chùa xây nhà thờ" dù là chùa hoang. Tôi tin vào những tài liệu và văn bản mà tôi đã sưu khảo về chùa Báo Thiên và nhà thờ lớn Hà nội, khánh thành ngày 24-12-1886. (Xem: Bùi Đức Sinh, OP., MA. Giáo hội Công giáo ở Việt Nam, Calgary-Canada 2002, tr. 537. (Trong bài "Hồi ức" của Gm Nguyễn Văn Sang (đã dẫn) cho biết Nhà thờ lớn xây cất 4 năm 1884-1888. Sai. Niên đại sử gia Bùi Đức Sinh ghi mới đúng).

Điệp khúc "Phá chùa xây nhà thờ" vẫn là điệp khúc còn TỒN NGHI, "nghi tồn nghi", nguyên tắc của sử học. Những điều tôi trình bày trong bài này tuy tài liệu văn bản mà tôi cầm trên tay, đọc, suy nghĩ và đắn đo nhưng vẫn còn những điểm tồn nghi cho đến khi nào được sáng tỏ với các tài liệu hy vọng rằng còn có thể tìm được ở Văn khố Hội Dòng Thừa Sai Balê (MEP), 128 rue du Bac, 75341, Paris.

Kết luận đôi dòng về chùa Báo Thiên là Nhà thờ lớn Hà Nội:

Đấy là một khu đất rộng ở giữa trung tâm "ngàn năm văn vật", chùa đã bị phá, chỉ còn nền chùa, QĐ Pháp chưa xây cơ sở, Gm Puginier ngỏ ý xin Công sứ Bô-nan "Résident Bonnal" dành cho khu đất này xây nhà thờ với mục đích như Nhà thờ Đức Bà Sàigon, tức là tiên khởi dành cho quan chức văn võ Pháp, binh lính và Pháp kiều. (Nhà thờ Đức Bà Sàigòn là nhà thờ Nhà nước Nam Kỳ thuộc địa, xây trên đất công nên có sự cố đời Gm Mossard Mão (1899-1920), chính quyền Nam Kỳ thuộc địa đòi lại Nhà thờ Đức Bà để làm Bảo tàng viện - Pháp kiều do quan Toà Naquard cầm đầu chống lại. Thống đốc Nam Kỳ phải rút lại quyết định.

(còn tiếp)

Cao Thế Dung

Những Sự Thực Lịch Sử Về Chùa Báo Thiên, Nhà Thờ Lớn Hà Nội và Phật Giáo Việt Nam, phần (1), (2) & (3)

Đọc nhiều nhất Bản in 06.05.2008. 12:53