Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 7/2010

 

Album Mới Nhất

10 Bài Mới Nhất

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Giáo Hội Việt Nam: tái thiết tâm hồn Kitô Giáo

§ Vũ Văn An

La Croix (Thánh Giá) là một nhật báo Công Giáo Pháp, xuất bản tại Paris và được phân phối khắp nước Pháp, với số độc giả xấp xỉ 100,000. Về các vấn đề chính trị lớn, tờ báo tỏ ra không phóng khoáng cũng không bảo thủ, nhưng thường theo quan điểm của Giáo Hội mặc dầu thiên qua cấp tiến. Tuy nhiên, không thể coi tờ báo này là một tờ báo tôn giáo, vì các chủ đề của nó có tính tổng quát: tin tức thế giới, kinh tế, tôn giáo và tâm linh, làm cha mẹ, văn hóa và khoa học. Tờ báo đã được thành lập từ năm 1880 và hiện do công ty Bayard Presse sở hữu.

Trong mấy ngày gần đây, tờ báo này viết nhiều về Giáo Hội Việt Nam, nhất là trong dịp Hội Đồng Giám Mục Việt Nam tới Rôma thăm viếng Tòa Thánh theo Giáo Luật (Ad Limina). Ký giả Yves Kerihuel của tờ này đã lặn lội về tận Việt Nam để phỏng vấn một linh mục trọng tuổi là Cha Laurenxô Nguyễn Hân Quynh, hiện là chánh xứ Xuân Hòa, Tiên Lãng, thuộc Giáo Phận Hải Phòng. Cha Quynh thụ phong linh mục năm 1952 tại Paris, bạn cùng trường với Đức Hồng Y Jean-Marie Lustiger, cựu Tổng Giám Mục Paris, bị Cộng Sản Việt Nam quản chế 28 năm, đến tận năm 1988 mới được “thong dong” thi hành mục vụ.

Chúng tôi phóng dịch cuộc phỏng vấn của ký giả Kerihuel từ nguyên bản tiếng Pháp đã được đăng tải trên Vietcatholic.

Cha đã sống ra sao những năm khủng khiếp bắt đầu từ 1954?

Cha Quynh: Tôi đã có thể cầm cự đến năm 1960, vì tôi biết Hồ Chí Minh. Sau đó, Đảng đã đặt các đảng viên của họ vào các giáo xứ, và (thế là) người công giáo chống đối đều bị bắt. Chỉ riêng giáo phận Hải Phòng mà thôi, 2,000 linh mục và giáo dân đã bị cầm tù, đến nỗi chỉ còn lại 3 linh mục. Phải nói rằng, hơn một triệu người đã tản cư về Hải Phòng để đáp tầu suôi Nam, một khu vực đã trở thành khu kháng chiến cuối cùng.

Ở đây, người ta đã kinh qua những cuộc bách hại thảm khốc. Năm 1960, tôi bị quản chế tại một thôn làng: việc ấy còn tệ hơn nhà tù nữa vì ở nhà tù các linh mục còn cầm cự được. Tôi hoàn toàn bị cô lập trong 28 năm. Việc ấy giúp tôi cơ hội đọc trọn bộ Lénine và trọn bộ Marx ! (Cười). Tuy nhiên người ta cho phép tôi giữ sách nguyện và Thánh Kinh. Đêm nào, tôi cũng làm lễ dưới ánh sáng một ngọn nến, và luôn có hai hay ba giáo dân lén lút tới tham dự.

Năm 1988, nhờ sự kiện có những thay đổi trong xu hướng chính trị, việc quản chế tôi được chấm dứt. Thực vậy, các cán bộ từng được Đảng chỉ định quản lý các giáo xứ đã thôi không làm thế nữa vì họ hiểu rõ việc ấy chỉ thất bại mà thôi. Trong suốt 28 năm giam giữ ấy, tôi không bao giờ cảm thấy hận thù gì người cộng sản.

Cha làm sao làm thế được?

Tôi cố gắng làm một linh mục chân chính của Chúa Kitô trước mặt các kẻ thù của Người. Những người canh giữ tôi đã trở thành bạn hữu của tôi. Ngoài ra, một số còn tiếp tục tới đây thăm tôi nữa… Trong khu vực, có cả hàng trăm Kitô hữu trở thành đảng viên; ngày nay, họ đã trở lại với đức tin và Chúa Nhật nào cũng tham dự thánh lễ. Vào lễ Phục Sinh, lễ Giáng Sinh hay ngày Tết, hàng chục những người khác tới tặng tôi quà cáp. Tôi tin rằng các nhà chức trách địa phương đã hiểu ra rằng hợp tác với Giáo Hội, thì họ có lợi nhiều hơn là khủng bố Giáo Hội. Thực tế, tại khắp nơi, các mối liên hệ giữa Đảng và Giáo Hội đã trở nên thân thiện hơn, ngoại trừ giáo xứ Thái Hà, ở Hà Nội, nơi các căng thẳng vẫn còn sống động.

Cha từng là bạn của Đức Hồng Y Jean-Marie Lustiger. Làm sao cha biết ngài?

Chúng tôi cùng ở với nhau tại chủng viện Carmes ở Paris, nơi tôi được thụ phong năm 1952. Tôi được gặp lại ngài năm 1989, rồi năm 2006, một năm trước khi ngài qua đời. Tôi hỏi ngài, trong 25 năm qua, đã làm gì để “nâng cao” giáo phận Paris. Ngài trả lời tôi rằng giáo phận này đã ngưng không rơi nữa, nhưng “lên cao thì chưa”. Ngài lưu ý tôi tới sự kiện này là mặc dù bề ngoài có vẻ phồn thịnh, nhưng Giáo Hội Việt Nam cũng đang trên đà suy yếu. Ngài nói với tôi: “Từ đây tới 30 năm sau, Sài Gòn, Hà Nội và Hải Phòng sẽ như Paris”.

Theo ngài, không phải chủ nghĩa cộng sản sẽ làm đức tin Kitô Giáo mất đi, nhưng là chủ nghĩa tiêu thụ. Khi một dân tộc nghèo tự mở cửa cho nền văn minh hưởng nhàn và tiêu thụ, thì tinh thần tôn giáo sẽ mất đi. Đức hồng y Lustiger khuyến khích tôi hành động để tránh cho Giáo Hội Việt Nam khỏi suy yếu.

Không phải ấn tượng nó đưa ra, vào lúc này …

Chắc chắn, các giáo xứ của chúng tôi đầy người, nhưng phần lớn tín hữu đã ngoài 50 tuổi. Chắc chắn, chúng tôi đang có nhiều chủng sinh, nhưng từ mấy năm nay, mỗi ngày họ một ít đi. Chắc chắn, các cử hành của chúng tôi tại thôn quê vào dịp Giáng Sinh hay Phục Sinh với những cuộc rước kiệu và đình đám vốn lôi cuốn từ 3 tới 4 nghìn người, nhưng những hình thức Kitô Giáo thôn làng này không còn lôi cuốn giới trẻ được nữa. Phải duy trì các thế hệ trẻ và muốn được như thế, chúng tôi không cần tiền bạc lẫn đất đai, mà là giáo dục và đào tạo tôn giáo. Từ ngoại quốc, người ta đang giúp chúng tôi tái thiết các nhà thờ, nhưng họ cần giúp chúng tôi tái thiết chính tâm hồn Kitô Giáo.

Làm thế nào ngăn chặn việc mất đức tin nơi người Việt Nam?

Trước nhất phải cầu nguyện và dạy dỗ. Việc phúc âm hóa phải qua đào tạo. Trong hơn 30 năm nay, do việc đóng cửa các chủng viện, trình độ trí thức của hàng giáo sĩ và giáo dân đã xuống thấp. Từ hơn chục năm nay, các giám mục của chúng tôi đã được đào tạo tốt hơn, bởi các ngài đã được học tại ngoại quốc, nhưng cần phải đợi cả mười năm nữa để các ngài có cơ hội thi hành công việc giám mục của các ngài. Còn đối với các linh mục của chúng tôi, xét chung, họ vẫn còn thiếu đào tạo, không hẳn vì họ lơ là nền văn chương và văn hóa của xứ sở. Cho nên, thế hệ linh mục mới cần phải thu lượm được một nền tảng vững chắc về thần học và triết học. Phần đông các giám mục của chúng tôi đã hiểu việc ấy và đang cố gắng gửi các chủng sinh qua Paris, Rome và Hoa Kỳ.

Điều ấy có đủ để tránh cho Giáo Hội tại Việt Nam các khó khăn của Tây Phương không?

Từ một thế kỷ nay, tỷ lệ người Công Giáo ở Việt Nam không tăng tiến: nó vẫn là 6.5% vào năm 1886 (650,000 người Công Giáo so với 10 triệu dân cư) và 6.5% vào năm 2000 (5 triệu người Công Giáo so với 77 triệu dân cư). Và điều này là vì người ta vẫn tiếp tục rao giảng một thứ Kitô Giáo của Phương Tây. Tại đây, Giáo Hội đổ lỗi cho Phật Giáo, cho Khổng Giáo, cho việc thờ cúng tổ tiên… Cần phải làm cho đức tin lâu đời của Giáo Hội dính chặt vào tư tưởng Việt Nam và vào truyền thống tổ tiên.

Với tông huấn hậu thượng hội đồng giám mục “Ecclesia in Asia” (Giáo Hội Tại Á Châu) năm 1999, Đức Gioan Phaolô II đã khuyến khích phải làm việc trong chiều hướng trên, một cách kiên nhẫn và khôn ngoan. Và đó là điều tôi từng cố gắng thực hiện ở đây từ 12 năm nay. Mỗi tuần, khoảng 60 người cả nam lẫn nữ, mà chính tôi đã đào tạo, lên đường tới các làng mạc để phúc âm hóa. Kết quả: đã có 8,000 người trở lại và chịu phép rửa tội (ngoài các cặp hôn nhân hỗn hợp). Trong một làng kia cách đây 5 cây số, chúng tôi sắp xây một nhà thờ cho 800 tín hữu, trong khi cách nay 12 năm, ở đó chỉ có 4 người Công Giáo.

Yves Kerihuel ghi tại Hải Phòng

(Nguồn: http://www.la-croix.com/article/index.jsp?docId=2378650&rubId=4078)

Vũ Văn An

Đọc nhiều nhất Bản in 29.06.2009. 18:09