Dân Chúa ? | Liên Lạc | [Valid RSS] RSS Feeds


Tháng 7/2014

Bài Mới

Sách Online

Mục Lục Sách »

pierre-julien_eymard_pk1.jpg
Người say yêu Thánh Thể
imitation3.jpg
Gương Chúa Giêsu
eucharist.jpg
Suy niệm trước Thánh Thể

Gia đình - Ngôi trường giáo dục Đức Tin

§ AP. Mặc Trầm Cung

DÀN BÀI:

I. TRỞ VỀ NGUỒN:

II. LÀM THẾ NÀO ĐỂ CHU TOÀN SỨ MẠNG TRỌNG ĐẠI NÀY?

1. SỐNG TRUNG THÀNH VỚI GIAO ƯỚC TRONG BÍ TÍCH RỬA TỘI.
a. Vai trò tư tế
b. Vai trò ngôn sứ
c. Vai trò vương giả

2. SỐNG TRUNG THÀNH VỚI GIAO ƯỚC CỦA BÍ TÍCH HÔN PHỐI.

A. CÁC ĐẶC TÍNH TRONG HÔN NHÂN
a) Đặc tính duy nhất
b) Đặc tính trọn vẹn
c) Đặc tính ưu tiên
d) Đặc tính tự do
e) Đặc tính mở ngõ với sự sống:
f) Đặc tính Bí Tích và Bí Tích
B. NHẬN DIỆN CHÍNH MÌNH TRONG GIÁO HỘI
C. KINH NGHIỆM GẶP GỠ THIÊN CHÚA.
D. GẶP GỠ ĐỨC KITÔ
E. GIÁO DỤC ĐỨC TIN TRONG GIA ĐÌNH
a) Giáo Dục bằng Gương Sáng
b. Giáo dục bằng đời sống cầu nguyện.
c. Giáo dục bằng sự khiêm hạ và hòa nhập cộng đồng
d. Giáo dục bằng cách đồng hành cùng con cái
e. Giáo dục qua nghịch cảnh và đau khổ

III. KẾT: ĐỒNG HÀNH CÙNG THẦN KHÍ.

GIA ĐÌNH - NGÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC ĐỨC TIN

- Xem hình ảnh

I. TRỞ VỀ NGUỒN:

“Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Ngài dựng nên con người có nam có nữ. Thiên Chúa chúc phúc: Hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất, làm bá chủ và thống trị mọi loài (St 1, 27 - 28). Bởi thế người nam lìa bỏ cha mẹ và kết hợp với vợ mình, nên một xương một thịt”. ( St 2, 24)

Thiên Chúa tạo dựng con người có giới tính, người nam và người nữ, có xương có thịt nhưng cũng có tình yêu hướng tới cái đẹp, cái đẹp tinh tuyền hiến thân cụ thể qua thân xác có cảm xúc. Và gia đình phát xuất từ hai con người một nam một nữ đó dựa trên cơ sở tương giao nam nữ trong tình ái. Thiên Chúa chúc phúc cho tình yêu hai người được phong phú, triển nở phong nhiêu là có khả năng tạo ra sự sống của một con người mới, rồi đưa chúng vào cuộc sống một cách quảng đại. Sự truyền sinh nơi hôn nhân là tạo ra sự sống của một con người mới không chỉ chú trọng đến chiều kích sinh học mà còn chú trọng đến chiếu kích tinh thần, một sự kết hợp hài hòa thống nhất không thể tách lìa. Một con người có một giá trị cuộc sống đích thực cả về khía cạnh sinh học lẫn tâm linh.

Gia đình còn là một Bí Tích phản chiếu mầu nhiệm Tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa. Bí Tích là dấu chỉ, tình yêu đôi bạn là Bí Tích Tình Yêu của Thiên Chúa dành cho dân của Ngài. Tình yêu đó phải là dấu chỉ hữu hiệu. Vì thế, không chỉ là cái bóng mà còn là chính cái thực tại vô biên mà con người hằng mơ chạm tới đã trở nên hữu hạn, trở nên gần gũi trong tầm với của con người. Bí tích là một quà tặng đôi bạn nhận từ Thiên Chúa chứ không phải là một nỗ lực thuần túy của con người, đây chính là một mầu nhiệm cao cả mà Thiên Chúa ban tặng cho con người.

Khi nói gia đình là hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi, ta ngầm hiểu Thiên Chúa là đấng vô hình, trong khi đó gia đình là cái ta thấy được, phản chiếu cái thực tại mà ta không thấy, thấy cái bóng còn không thấy người thực. Người thực ở đâu ta chưa chạm tới. Khi đôi bạn Kitô hữu cưới nhau thì trở thành bí tích vì đó là ân huệ Thiên Chúa quyết định ban cho con người nhưng không, đây là một hồng ân và cũng là sứ mạng của hôn nhân. Cái mà tục phàm nhất Thiên Chúa lại chọn làm Bí Tích của Ngài, tục phàm không có nghĩa là tội lỗi, tục phàm là cái thuộc về thế tục này, mà thế giới này do Thiên Chúa sáng tạo nên. Cho nên gia đình còn lại một thực tại tôn giáo, và ta tiếp nhận được nguồn trợ lực từ Thiên Chúa.

Với sứ mạng cao cả trở thành họa ảnh tình yêu hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa, gia đình trở thành cái nôi của tình yêu, của sự hiệp nhất trong một cộng đoàn yêu thương, trở thành môi trường đạo tạo đức tin cho con cái được phát triển trên mọi phương diện cả thể chất lẫn tâm linh. Có thể hai người lấy nhau kết hợp một xương một thịt theo nghĩa sinh lý học, có thể thụ thai, có thể sinh ra một con người, nhưng không sinh ra một con người đúng nghĩa, vì họ không sống hoàn tất trách nhiệm làm cha làm mẹ khi họ vẫn nuôi con theo nghĩa bên ngoài, nhưng không nuôi sinh linh làm con người thích hợp. Trách nhiệm sinh con là làm cho con trở thành người trọn vẹn qua việc giáo dục, sự giáo dục ấy phải qua công trình từng ngày, cùng nhau vun đắp tình yêu thương, cùng nhau sống và giáo dục con cái theo luật Chúa Kitô và Hội Thánh dạy, cùng nhau gìn giữ ngọn lửa đức tin và tình yêu được sáng mãi trong gia đình. Nhưng sự sống của gia đình không hệ tại nơi một đứa con sinh ra đời mà còn hệ tại nơi Thánh Thần Thiên Chúa là Tình Yêu tác sinh sự sống, nếu không có Thánh Thần, thì gia đình không thể phản ánh được Tình Yêu của Cộng Đoàn Ba Ngôi Thiên Chúa hiệp nhất và yêu thương.

Như Tuyên ngôn về Giáo Dục Kitô Giáo của Công Đồng Vaticanô II viết: “Vì là người truyền sự sống cho con cái, nên cha mẹ có bổn phận hết sức quan trọng là giáo dục chúng và vì thế họ được coi là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của chúng. Vai trò giáo dục này quan trọng đến nỗi nếu thiếu sót thì khó lòng bổ khuyết được” (Gravissimum Educationis (GE), số 3). “Đầu tiên và chính yếu”, Công Đồng nhấn mạnh vợ chồng phải là “những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu” thi hành sứ mạng mà Thiên Chúa giao cho, như là một bổn phận với Thiên Chúa, ta nuôi con giáo dục con theo tình cảm tự nhiên mà đó còn là sứ mạng mà ta còn làm trong giao ước với Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa luôn hiện diện để giúp sức cho ta, Ngài giúp ta qua người bạn đời, qua thầy cô giáo của con, qua các giáo lý viên, qua ông bà, qua những người thân, phụ giúp ta trong sứ mệnh giáo dục này qua tất cả những ai giúp con ta lớn lên thành người.

Nên ta phải biết ơn đời, đời là tât cả những con người vô danh đóng góp cho cuộc sống của ta, của gia đình ta, con cái ta, đời là cha là mẹ, là cô, dì, chú, bác, anh chị em, đời là những người đi qua cuộc đời ta, ta phải tình thức là ta đã đang nhận rất nhiều trước khi ta có. Có những lúc ta thấy bất lực nhưng ơn Chúa sẽ giúp ta, đừng thất vọng, hãy học biết tâm lý từng giai đoạn của con để có kiến thức, để giáo dục nhưng xuất phát từ tình yêu thương con cái và yêu Chúa trong mọi sự.

Nuôi dưỡng và giáo dục đức tin cho con cái là ta đang cộng tác vào Công Trình Sáng Tạo của Thiên Chúa: “Đối với cha mẹ Công Giáo, sứ vụ giáo dục được bắt nguồn từ Bí Tích Hôn Phối, là Bí Tích thánh hiến họ để giáo dục con cái: Bí Tích này mời gọi họ chia sẻ chính quyền bính và tình yêu của Thiên Chúa Cha, và của Đức Kitô vị Mục Tử, và trong tình mẫu tử của Hội Thánh, và phong phú hóa họ bằng ơn khôn ngoan, biết lo liệu, cương nghị, và tất cả những ơn khác của Chúa Thánh Thần để họ giúp con cái trong việc tăng trường như những con người và Kitô hữu” (Familiaris Consortio, số 38).

Như thế, ai là Kitô hữu đã chịu bí tích Rửa Tội, đã sống bí tích Hôn Phối, thì chính nơi người đó, chính gia đình của họ, là nơi để Ba Ngôi Thiên Chúa hiện diện và ở đó ta nghe được lời của Ngài, chạm được Ngài và khi người khác nhìn vào nhận ra được sự hiện diện Thiên Chúa nơi trần gian này.

II. LÀM THẾ NÀO ĐỂ CHU TOÀN SỨ MẠNG TRỌNG ĐẠI NÀY?

1. SỐNG TRUNG THÀNH VỚI GIAO ƯỚC TRONG BÍ TÍCH RỬA TỘI.

Qua Bí Tích Rửa Tội, ta ký kết giao ước với Chúa, Ngài giao ước với từng cá nhân, “Thiên Chúa chấp nhận tôi, nhờ cái chết của Con Thiên Chúa đã hiến mình để cứu chuộc tôi và tôi chấp nhận chết đi con người cũ, để tôi hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa”. Ngày xưa Thiên Chúa ký kết giao ước với cả một dân tộc là Dân Israel, nhưng giao ước mới trong Tân Ước mà Thiên Chúa đã ký kết với tôi trong Phép Rửa là giao ước riêng tư của tôi với Ngài. Từ nay, tôi tin nhận Ngài là Thiên Chúa duy nhất của tôi. Vì trong giao ước đó tôi đã thề hứa với Ngài:
- tôi từ bỏ ma quỷ.
- tôi quyết tâm xa lánh tội lỗi.
- tôi tin kính một Thiên Chúa Ba Ngôi và giữ lề luật của Ngài.

Qua Phép Rửa tôi được đắm chìm vào dòng nước thanh tẩy, để tôi biết rằng từ nay tôi thuộc về Thiên Chúa, được dìm vào trong cái chết của Đức Giêsu Kitô, để được cùng chết và sống lại với Ngài trong một đời sống mới. Đời sống tự do và cao quý của người được gọi là con Thiên Chúa, đó là khát vọng lớn nhất của đời tôi được gọi Thiên Chúa là Cha.

Bí tích Rửa Tội là dấu chỉ tôi được tái sinh làm con Thiên Chúa và Hội Thánh. được trở nên trong sạch trước khi được tháp nhập vào Thiên Chúa là Đấng Thánh, trở thành chi thể trong thân thể nhiệm mầu của Chúa Kitô. Và mọi Kitô hữu khác trở nên anh chị em với tôi vì cùng là con của một Cha trên trời. Ơn thiêng liêng này không thể tẩy xóa, một khi dấu ấn đã tái sinh tôi làm con Thiên Chúa thì mãi mãi tôi là con Thiên Chúa, cho dù tôi có phản bội Ngài, thì Ngài cũng không chối bỏ tôi vì Ngài là Đấng trung tín.

Bí tích Thánh Tẩy là bí tích đức tin cần thiết để tôi được cứu độ, và là cửa ngõ dẫn vào đời sống đức tin Kitô giáo, từ đó tôi mới được lãnh nhận các bí tích khác, giúp cho đời sống của tôi sống sao cho phù hợp với Tin Mừng mà Đức Giêsu Kitô đã rao giảng và cùng với Hội Thánh ca tụng, ngợi khen Thiên Chúa là gia nghiệp đời đời của tôi.

Qua Bí tích Thanh Tẩy, tôi được chia sẻ ba chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô. Tuy nhiên, là người giáo dân sống giữa lòng trần thế, do đó tính cách trần thế là nét đặc thù của tôi.

a. Vai trò tư tế

Mọi sinh hoạt, công việc làm ăn, nuôi dưỡng giáo dục con cái, kinh nguyện và hoạt động tông đồ, đến việc nghỉ ngơi thể xác và tinh thần, trong đời sống hôn nhân và gia đình của tôi và cả đến những thử thách của cuộc sống, tôi được chia sẻ chức tư tế Chúa ban cho Giáo Hội, đó là chức tư tế cộng đồng. Nhờ chức tư tế này, tôi có thể thực sự thánh hoá đời sống mình, thánh hoá mọi sinh hoạt trần thế, và ngay cả khi đối diện với những thách đố trong cuộc sống. Nhờ Chúa Thánh Thần tất cả đều trở nên của lễ dâng lên Chúa Cha trong sự kết hợp với hiến lễ duy nhất của Đức Giêsu Kitô, như một lời chúc tụng ngợi khen để đem lại ơn chức chuộc cho tôi, cho gia đình tôi và cho tha nhân là anh chị em của tôi.

b. Vai trò ngôn sứ

Tôi tham dự vào chức vụ ngôn sứ của Đức Giêsu bằng cách bày tỏ niềm tin và tình yêu, và sống đức ái với mọi người, trong đời sống gia đình, trong mọi lĩnh vực mà tôi có liên quan.

Nhờ được thánh hoá bởi Bí tích Hôn Nhân, tôi cùng người bạn đời làm chứng cho nhau và cho con cái về niềm tin và tình yêu của Thiên Chúa, để cho gia đình tôi vừa là nơi truyền giáo và đào tạo sứ mạng tông đồ, vừa bày tỏ sức mạnh và ánh sáng của Tin Mừng với những người xung quanh.

Là ngôn sứ của thời đại hôm nay, một thời đại đầy biến động, nhất là sống trong một xã hội, một môi trường mà giá trị của Tin Mừng bị chối từ hay bị xem nhẹ, tôi còn phải tỉnh thức để nhận ra ý định của Thiên Chúa qua dấu chỉ và các biến cố của thời đại, tôi phải biết lắng nghe điều mà Thiên Chúa muốn ngỏ lời với tôi qua các dấu chỉ và biến cố đó, để rồi tôi có bổn phận loan báo những gì mà tôi đã nghe đã biết cho gia đình, cho con cái, cho anh chị em tôi. Và Đức Giêsu Kitô vẫn phải là trọng tâm của những điều tôi loan báo, nhất là loan báo về biến cố quang lâm của Ngài.

c. Vai trò vương giả

Tham dự vào chức vụ vương giả của Đức Kitô, tôi được tự do đích thực, không còn làm nô lệ cho tội lỗi, cho ác thần, là con cái Thiên Chúa tôi được ban sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng các cám dỗ của thế gian và ở nơi mình. Đồng thời cũng thúc đẩy tôi có trách nhiệm phải hăng say hoạt động đóng góp phần mình trong công trình cứu chuộc của Thiên Chúa mà Ngài muốn ở nơi tôi, để đưa gia đình, con cái và tất cả mọi anh em của tôi về với Thiên Chúa.

Bí tích Thánh Tẩy là một ơn đức tin, không phải cứ biết là tin, vì tự sức con người khó có thể tin mà phải có Thiên Chúa ban ơn soi sáng, giúp ta nhận biết hồng ân cao vời ấy Thiên Chúa đã ban cho tôi một cách nhưng không. Tôi cần phải biết lắng nghe và tìm hiểu Lời Chúa trong kinh thánh và lắng nghe cùng tuân giữ giáo huấn của Giáo Hội để nhận ra tình yêu Thiên Chúa dành cho tôi trải dài trong suốt hành trình của cuộc đời, và tôi cũng luôn biết cách đáp trả tình yêu của Ngài.

Như lời Đức Giêsu nói với Nicôđêmô rằng: “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí” (Ga 3, 5).
Là một Kitô hữu, là con cái Thiên Chúa, tôi phải biết tạ ơn Thiên Chúa về những ơn lành Ngài đã ban cho tôi. Xin Chúa giúp tôi luôn trung thành với lời hứa khi chịu phép Rửa tội, thánh hóa đời sống, can đảm xa lánh tội lỗi, dâng trót đời sống thường nhật để mỗi ngày tôi được trở nên giống Chúa và trở thành dấu chỉ về sự hiện diện của Ngài nơi trần gian này.

2. SỐNG TRUNG THÀNH VỚI GIAO ƯỚC CỦA BÍ TÍCH HÔN PHỐI.

Qua Bí Tích Hôn Phối tình yêu của đôi bạn trao cho nhau phản chiếu Tình Yêu Thiên Chúa dựa trên cơ sở công trình tạo dựng ban đầu của con người có giới tính, chính sự khác biệt giới tính này con người được mời gọi hướng lên một sự khát vọng trở nên một, ta gọi đó là Tình Hiệp Thông. Đó chính là nhờ ân sủng của Thiên Chúa nâng đỡ và mời gọi con người hướng về tình yêu thượng nguồn, hướng tới kết hợp vĩnh cửu thượng nguồn Tình Yêu Thiên Chúa vì con người tự mình đã không đủ sức để vươn lên, chính sự hữu hạn và bất toàn của con người đã làm cho tình yêu rạn nứt và dễ đổ vỡ.

Giao ước thượng nguồn tình yêu là một giao ước giữa Thiên Chúa và Dân Ngài, có sự chênh lệch một bên là Thiên Chúa luôn trung thành, một bên là con người hay bất trung, cả hai bên đều được mời gọi trở nên trung thành mãi mãi và đưa đến một sự kết hợp vĩnh viễn. Tình yêu đó ngày nay được thể hiện trong các đôi hôn nhân trong đời sống vợ chồng, họ được mời gọi để bước tới một lý tưởng là trung thành mãi mãi trong tình yêu, trung thành trong sáng tạo, thúc đẩy con tim bừng cháy yêu thương. Thiên Chúa thì trung thành vĩnh viễn, con người thì mong manh, mỏng dòn, thường xuyên bất trung, dân Do Thái bất trung triền miên, Thiên Chúa thì luôn trung thành, luôn luôn tha thứ và luôn luôn yêu thương.

Tình yêu của Thiên Chúa đối với con người được mạc khải trong cựu ước và tân ước là điểm đến của lịch sử cứu độ. Dẫu biết rằng khoảng cách tình yêu vợ chồng và Tình yêu Thiên Chúa là một khoảng cách xa diệu vợi, là một hố sâu. Nhưng Thiên Chúa đã quyết định và đã chọn tình yêu nam nữ trong hôn nhân phản chiếu Tình yêu Thiên Chúa. Như thế, bởi giao ước hôn nhân, người nam và người nữ "không còn là hai, nhưng là một xương thịt" (Mt 19, 6). Sự trung thành dứt khoát và tuyệt đối mà đôi hôn nhân được mời gọi hướng tới, đối với con người là không thể thực hiện được nếu không có sự can dự trực tiếp của Thiên Chúa.

Trong Bí Tích Hôn Phối, đôi tân hôn chính là thừa tác viên cử hành bí tích, linh mục chỉ đóng vai trò chứng giám, đôi tân hôn không còn chịu hay lãnh bí tích nữa mà chính họ là người cử hành bí tích, đây chính là điều mới mẻ và giá trị đích thực của đời sống hôn nhân Kitô giáo trở thành dấu chỉ và nguồn suối ân sủng của Tình Yêu Thiên Chúa, để người giáo dân không rơi vào thái độ thụ động mà họ trở thành tác nhân tích cực đối với các cuộc cử hành trong Phụng Vụ. Họ không những đón nhận một sứ mạng mà còn trở thành những chứng nhân tích cực tham dự vào mầu nhiệm hiệp thông của Tình Yêu Ba Ngôi Thiên Chúa và trong công cuộc xây dựng nhiệm thể của Đức Kitô là Giáo Hội trong tinh thần đồng trách nhiệm.
Công đồng Vatican II cũng xác quyết: "Tình yêu chân chính của hai người được thông phần vào tình yêu của Thiên Chúa" (Gaudium et Spes, số 48, 2).

A. CÁC ĐẶC TÍNH TRONG HÔN NHÂN

a) Đặc tính duy nhất

Thiên Chúa là Đấng hay ghen, Ngài đã ghen khi thấy dân của Ngài chạy theo thần linh hay ngẫu tượng khác, qua miệng các tiên tri Thiên Chúa đã cảnh cáo họ, qua đó Thiên Chúa muốn diễn tả tình yêu trong giao ước của Ngài phải là tình yêu duy nhất. Đặc tính duy nhất đó là “Ta chỉ có một Chúa là Giavê” ta thuộc về Chúa và Chúa thuộc về ta. Ta thuộc về Chúa là trung thành với các điều khoản trong giao ước. Chúa thuộc về ta là bảo đảm cho ta không bị sự chết tấn công.

Đặc tính duy nhất này được thể hiện trong đời sống đôi bạn thể hiện tình yêu thượng nguồn trong thời gian, trong lịch sử, biết tha thứ và đấu tranh xu hướng của xác thịt, nỗ lực nho nhỏ trong đời sống vợ chồng là thờ phượng Thiên Chúa duy nhất. Hai vợ chồng đang thực hiện tình yêu Thiên Chúa trong hiện thực, trong lịch sử khi đó ta nhận ra mầu nhiệm trong đời thường, nhận ra Thiên Chúa đang hiện diện. Tình yêu nhân phàm đã được tình yêu thần linh nhập thể. Ngày xưa Chúa Giêsu nhập thể, ngày nay được hiện tại hóa trong tình yêu vợ chồng, không ai trong chúng ta xứng đáng cho người kia trung thành, chính Thiên Chúa mới là “đối tác” làm cho tình yêu vợ chồng được trung thành. Điều này cũng đòi hỏi phải trả giá trong đau đớn, trong tê tái do người bạn đời hay do chính mình gây ra.

Trong tình yêu vợ chồng tính duy nhất và quí trọng nhau cũng như ưu tiên tuyệt đối cho người bạn đời là rất có ý nghĩa. Người bạn đời là người không thể thay thế, không thể lãng quên, yêu quí nhất và là nguồn vui lớn. Chính những hành động nhỏ nhặt hằng ngày vợ chồng dành cho nhau trong yêu thương, trung thành và tha thứ. Chính những hành vi thờ phượng Thiên Chúa sẽ giúp cho tình yêu vợ chồng thêm mới mẻ và thêm sáng kiến mỗi ngày.

b) Đặc tính trọn vẹn

Khi yêu nhau tình yêu vợ chồng lôi cuốn cả con người, cả thân xác và tâm hồn trọn vẹn thuộc về nhau, lôi cuốn toàn thể hữu thể của ta và toàn thể hữu thể của người bạn đời, cả tâm hồn, thể xác, trí khôn, ham muốn, nhu cầu, quá khứ và tương lai, dự phóng và hành động, bóng tối và ánh sáng, ưu điểm và khuyết điểm, khắc sâu vào nơi sâu kín để cuộc sống được biến đổi, người yêu được biến đổi và chính ta cũng được biến đổi. Dầu đang ở đâu cũng thuộc trọn về nhau.

Trong giao ước với Thiên Chúa mỗi ngày con người phải tiến gần Thiên Chúa hơn, ta đang hướng tới Thiên Chúa cụ thể hóa qua những nỗ lực mà ta đang sống, ta phải sẵn sàng mở lòng ra để cái ham muốn vô biên được lấp đầy, dẫu khó ta vẫn nỗ lực trong hành động nhỏ nhoi, dẫu khó ta vẫn bước tới trong ý hướng, nhờ đối tác bên A của ta là Đấng giàu “Lòng Thương Xót” con người có khả năng đón nhận cái vô biên, nhờ đó ta có khả năng bắt đầu làm lại, có khả năng đứng dậy và làm lại.

Con người luôn luôn yếu đuối, đời sống vợ chồng cũng nên biết thông cảm những khuyết điểm, những lỗi lầm của nhau. Trọng tâm niềm tin công giáo là niềm hy vọng, ta hy vọng làm mới lại vì tin vào Lòng Thương Xót của Thiên Chúa và Ngài cũng mời gọi tình yêu vợ chồng sống đặc tính này.

c) Đặc tính ưu tiên

Đối tượng ưu tiên của Thiên Chúa là con người, Người đã chấp nhận hy sinh chính mình, Người đã chịu chết để cứu chuộc con người, Người đã chịu mất chính mình để tìm lại con người chính là hình ảnh của Thiên Chúa. Con người chỉ thực sự tìm lại được chính mình là khi thành tâm tự hiến chính mình ưu tiên nhất cho người bạn đời. Tương quan vợ chồng ở nền tảng trở thành tương quan ưu việt trong trách nhiệm so với các tương quan khác như: công việc, con cái, bạn hữu, hoạt động xã hội, giáo hội và chính trị. Vì vậy hôn phối là một dây đặc biệt mà phải chọn ưu tiên, dẫu biết rằng trong thực tế áp dụng thật không đơn giản.

d) Đặc tính tự do

Thiên Chúa có hướng đi cho con người nhưng để cho con người thực hiện, cho con người có tự do lựa chọn. Thiên Chúa ban cho con người có khả năng hội nhập đời sống đức tin vào môi trường xã hội, hướng mọi sự tới mục đích phục vụ Thiên Chúa và con người. Nếu sự trung thành thực sự là yếu tính của tình yêu vợ chồng, không tôn trọng tự do là xem thường tình yêu vợ chồng, muốn tôn trọng nhau phải biết vun trồng tự do. Ai cũng cần phải có một không gian độc lập mà người khác phải tôn trọng, nhìn nhận người bạn đời còn là một nhân vị ta phải biết vun xới tự do. Tự do làm phát triển nhân vị, trong chân lý nó phát xuất từ thượng nguồn là chính Thiên Chúa mới là tự do đích thực.

Tự do mà đòi hỏi độc lập tuyệt đối thì không phải là tự do đích thực, Tự do mà làm nghẹt thở thì tình yêu sẽ trở nên vô vị, nhạt nhẽo và bóp chết tình yêu. Tự do là sự thong dong giữa các ràng buộc, chấp nhận những ràng buộc trong yêu thương, đó là phương thế đạt tới khát vọng yêu thương. Khác nhau ở chỗ là con tim biết yêu thương, khi đó mọi ràng buộc sẽ trở thành những sợi dây thân ái. Tự do sẵn sàng đón nhận thánh giá vì yêu thương đó là tự do trong Chân Lý, trong Sự Thật. Chưa chấp nhận ràng buộc trong yêu thương, còn bực mình, khó chịu là còn giam hãm gia đình trong tù túng. Vì tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa không phải là cảm xúc, ngay khi mất cảm xúc ta vẫn còn yêu thương. Tình yêu như dòng chảy ngầm khi có cơ hội sẵn sàng tuôn trào sự sống.

e) Đặc tính mở ngõ với sự sống:

Đoạn kinh thánh St 1, 28 – 31 cho thấy những nền tảng của chiều kích xã hội của đôi bạn: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất” (St 1, 28). Đây là ơn gọi lớn của đôi bạn, được hiểu về mặt xã hội như là sức sống duy nhất cho sự sống còn và phát triển của toàn thể cộng đồng xã hội, của toàn thể nhân loại. Muốn tình yêu được thăng hoa hai người phải biết mở ngõ ra với tha nhân, nhất là ý thức nhu cầu thâm sâu về sinh sản và vun trồng sự sống của tình yêu mở ra với xã hội sao cho thật sai quả. Như thế sự hợp thành đôi bạn không chỉ liên lụy đến hai người mà còn có chiều kích xã hội tương quan cá nhân với cộng đồng, làng xóm, xã hội.

Tình yêu vợ chồng được thăng hoa trong chiều kích xã hội là biết tôn trọng sự tự do đứng đắn, biết mình còn phụ thuộc vào người khác, phụ thuộc vào xã hội, có tương tác hai chiều. Nếu không ý thức, tương quan chiều kích xã hội có nguy cơ lệch lạc, tương quan vợ chồng với xã hội là biết đóng góp phần mình cho xã hội. Tình yêu vợ chồng được triển nở chiều kích xã hội khi thành tâm, yêu mến muốn phục vụ xã hội, chính lúc quên mình phục vụ, con tim hướng tới người khác, quan tâm đến những nhu cầu của người khác nhiều hơn lúc đó hai người làm cho tình yêu vợ chồng được phong phú hơn.

f) Đặc tính Bí Tích và Bí Tích

Hôn nhân là một cuộc hành trình dài đối với từng đôi vợ chồng để thể hiện tính bí tích của họ. Hôn nhân Kitô giáo là một bí tích vì tuy lưu ý tới thế tục nhưng trong đó có sự ẩn hiện của thần linh, là dấu chỉ của ơn cứu độ, là phản ánh chính tình yêu và bản thân của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Đức Giêsu Kitô là bí tích đầu tiên, Ngài là bí tích của Thiên Chúa Cha, như Đức Kitô đã từng nói: “Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14, 9), vì thế chạm tới được Đức Kitô là chạm tới Chúa Cha, chạm tới ơn cứu độ của Thiên Chúa. Tin vào Đức Kitô là tin Ngài là trung gian giữa thế giới vô hình và hữu hình, và niềm hạnh phúc của ta những kẻ tin Ngài là có Đấng Emmanuel đang ở giữa chúng ta, ở ngay trong chúng ta. Giáo Hội cũng có thể nói ai thấy Giáo Hội là thấy Đức Kitô. Vì nơi Giáo Hội là một cộng đoàn yêu thương. Chính yêu thương mới là dấu chỉ biểu lộ sự hiện diện của Thiên Chúa. Bởi vì ở đâu có tình yêu, ở đó có Thiên Chúa. Như thế, khi nhìn vào đôi vợ chồng công giáo yêu thương nhau thì người ta cũng sẽ nhận ra chính Thiên Chúa trong tình yêu của họ.

Bí tích nối kết giữa thiêng và tục, giữa phàm nhân và Thiên Chúa, là dấu chỉ hữu hình mầu nhiệm về ơn cứu độ của Thiên Chúa. Niềm vui của chúng ta là Chúa Kitô phục sinh luôn hiện diện và cùng đồng hành với chúng ta. Như thế, mỗi đôi vợ chồng, xét như đích thực là lứa đôi, là dấu chỉ, là bí tích của tình yêu Thiên Chúa. Mỗi đôi bạn có khả năng luôn tiến bước trên con đường hướng tới tình yêu hoàn hảo, là hình ảnh năng động và sống động của Thiên Chúa Ba Ngôi hiệp thông trong tình yêu.

Công đồng Vatican II (Hiến chế Gaudium et Spes, s. 48) có nói: “Tình yêu vợ chồng đích thực được kết hợp trong tình yêu Thiên Chúa, được nâng đỡ và thêm phong phú nhờ quyền năng cứu chuộc của Chúa Kitô và hoạt động cứu độ của giáo hội”. Và trong tông huấn Familiaris Consortio, 18, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng đề cập đến: “Sự hiệp thông vợ chồng là hoa trái và là dấu chỉ của một đòi hỏi có tính nhân bản sâu sa. Nhưng trong Chúa Kitô, Thiên Chúa đòi hỏi lấy nhân bản này. Ngài củng cố, thanh luyện và nâng cao đòi hỏi đó bằng cách đưa nó đến kiện toàn với bí tích hôn phối”.

Như thế, hôn nhân Kitô giáo là hôn nhân của những người tin làm nên bí tích. Trong chiều kích mầu nhiệm Bí Tích Hôn Phối là sự hiện diện của Đức Giêsu Kitô, Người bước vào lịch sử của đôi bạn để biến đổi tình yêu của họ nên giống tình yêu của Người. Qua Đức Kitô và nhờ Đức Kitô tình yêu vợ chồng phản ánh Tình yêu Thiên Chúa.

B. NHẬN DIỆN CHÍNH MÌNH TRONG GIÁO HỘI

Trước hết ta phải nhớ rằng: “Tôi là ai?”. Tôi là một thành phần của cộng đoàn Dân Thiên Chúa, là hình ảnh của mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa nơi trần gian, từ đó tôi thấy rằng tôi có một giá trị rất là lớn mà tôi không sống, không hề ý thức, để sống mỗi ngày. Sống mà không có tham dự vào sự sống với Đức Kitô là không có sự sống thực tế và sự sống đời đời, ta cần sống đức tin một cách toàn diện để bước vào ơn cứu độ. Dưới ánh sáng Công đồng Vatican II, một Công đồng đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội, lưu tâm và đề cao vai trò của người giáo dân giữa lòng trần thế, ôn lại Công đồng và sống tinh thần của Công đồng là ta trở về nguồn. “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại?… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không thể nào che dấu được” (Mt 5,13-14)

Ngày xưa người giáo dân như một người “ở trọ” ngay trong chính ngôi nhà của mình, giáo dân chỉ là đối tượng của mục vụ, trong một Giáo Hội thượng tôn hàng giáo sĩ, thì vai trò người giáo dân thật là mờ nhạt. Trong đời sống đức tin, giáo dân đóng vai trò thụ động, mang tâm trạng được ban phát. Ngày nay người giáo dân là một thành phần Dân Thiên Chúa đồng trách nhiệm, với linh mục, giám mục, giáo hoàng, giáo dân không chỉ là đối tượng của mục vụ mà còn là chủ thể của mục vụ, giáo dân không phải là mục tử theo nghĩa đen nhưng giáo dân chủ động cảm thấy có trách nhiệm trong lòng khi mà đức tin của Giáo Hội đi xuống, khi mà đức tin của anh em mình phai nhạt, mà mình lại không cảm thấy đau buồn ưu sầu khi thấy anh em mình rời bỏ đức tin hay lơ là với đức tin thì ta không thể nói là có trách nhiệm với Hội Thánh và với Ơn Cứu Chuộc. Nhưng Giáo Hội là một cộng đoàn Tình Yêu Hiệp Thông của Dân Thiên Chúa trong đó tình yêu là thực tại thường xuyên được nối kết, là chất xúc tác thúc đẩy mọi thành phần yêu mến và ra đi loan báo Tin Mừng, tính đồng trách nhiệm xuất phát từ đó, giáo dân ý thức tự nguyện cảm thấy mình được Thánh Thần thôi thúc đóng góp phần mình trên góc độ gia đình, giáo xứ, giáo hạt, giáo phận, giáo hội quốc gia và toàn cầu.

Bản chất của giáo hội là hiệp thông vì phát xuất từ Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là hiệp thông, chữ “hiệp thông” này là “tình yêu”, mà tình yêu của Thiên Chúa thì phong nhiêu luôn luôn phát sinh ra sự sống, sự sống hiểu theo nghĩa toàn diện chứ không phải là sinh sản, sự sống còn là tâm linh. Bất cứ ai cộng tác vào công trình tạo ra một sự sống mới cả về mặt sinh học lẫn về mặt tâm lý, tâm linh người đó đang cộng tác với Đấng Tạo Hóa, khi giáo hội sống tính phong nhiêu này một cách nào đó Giáo Hội thể hiện Thiên Chúa là Đấng phong nhiêu và hằng sống. Chỉ xuất phát từ một tình yêu thì mới mong đạt tới tầm mức đó là tạo ra hoa trái sự sống, tình yêu đạt tới mức tuyệt hảo thì phát sinh ra hữu thể, ra sự sống.

Người giáo dân đang nỗ lực xây dựng Nước trời ngang qua những nẻo đường trần thế, quan tâm đến các thực tại trần thế, biết tới những thực tại của nhân loại những gì đang xảy ra cho anh em mình, không thờ ơ với các thực tại trần thế mà họ đang sống. Người giáo dân được mời gọi sống mầu nhiệm nhập thể giữa trần gian, và là biểu tượng của Tình Yêu Ba Ngôi Thiên Chúa giữa trần gian.Vì thế, tôi cần nhận ra vị trí đúng đắn của mình, có một nền linh đạo, một đường hướng nên thánh đặc thù, chứ không phải là một thứ bản sao của hàng giáo sĩ. Tôi phải nhận ra phẩm giá và vai trò đặc biệt của tôi là một Kitô hữu sống ơn gọi giáo dân, là một chi thể kết hợp trong một nhiệm thể là Đức Giêsu Kitô, có sứ mạng đặc thù, cũng như những Kitô hữu khác sống ơn gọi tu sĩ hay linh mục. Và gia đình là mảnh ‘Đất Hứa’ cho tôi sống mầu nhiệm nhập thể này, là môi trường cho cho tôi gieo vãi và vun trồng hạt giống đức tin.

Trong đời sống gia đình sự khác biệt về giới tính nam nữ, về văn hóa, hoàn cảnh, tính tình, sở thích ta phải sống làm sao để mà sống được mầu nhiệm khác biệt và hiệp nhất, trước những thách đố trong cuộc sống của gia đình và xã hội để trở thành biểu tượng của Tình Yêu Ba Ngôi Thiên Chúa giữa trần gian.

C. KINH NGHIỆM GẶP GỠ THIÊN CHÚA.

Ta không thể cảm nghiệm được Tình yêu Thiên Chúa nếu Thiên Chúa không bày tỏ tình yêu của Ngài ra cho ta. Nếu Thiên Chúa không nhập thể, không từ bỏ địa vị để xuống thế làm người thì ta đâu có thể chạm được đến Người. Thiên Chúa làm người, đây là một sáng kiến tuyệt diệu của Thiên Chúa, Người còn cho ta thấy được những thực tại mà ta cảm nghiệm được qua các bí tích. Bí tích phải hiểu theo nghĩa mầu nhiệm chứ không hiểu theo nghĩa pháp lý. Thiên Chúa tiếp tục hiện diện nơi đời sống của đôi bạn, ta cảm nghiệm được Tình Yêu Thiên Chúa qua tình yêu nhân loại, nơi tình cha, tình mẹ, tình yêu vợ chồng. Qua tình yêu cha mẹ, đứa trẻ nhận ra tình yêu Thiên Chúa, con người trở thành tạo hóa qua việc cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản và giáo dục. Sự sống được triển nở mãi mãi trong thời gian, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Cho nên ta không có quyền tước bỏ quyền được sống, quyền được yêu thương của đứa trẻ.

Đức tin vượt trên lý trí của con người, đức tin rất cần thiết cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Ai sống theo Thánh ý Chúa, người đó có sự phong nhiêu của đức tin, người đó mới quan trọng trước mặt Thiên Chúa. Thử thách niềm tin là thể hiện sự phong nhiêu qua đức tin, chính dây nối kết của đức tin mới đáng giá, mới cần thiết cho Thiên Chúa.

Như Abraham đã tin vào Thiên Chúa ngay cả trong hoàn cảnh tuyệt vọng. Ông đã tin, dẫu không thấy có một dấu chỉ bên ngoài nào, rằng Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện một đứa con của lời hứa mà Thiên Chúa sẽ làm nơi người vợ hiếm muộn của ông, khi mà thân xác của ông và Sarah đã già cỗi về mặt sinh học. Isaac chính là đứa con của lòng tin, hoa trái vượt quá sự kết hợp của hai thân xác. Nhưng sau đó Abraham đã phải đối mặt với một thử thách lớn, một sự khủng hoảng về tâm lý, khi phải dâng chính đứa con thừa tự mà mình yêu quí cho Thiên Chúa theo lời đề nghị của Ngài, Abraham đã tin và đã thực hiện theo ý muốn của Thiên Chúa

Sự phong nhiêu thiêng liêng là sự phong nhiêu sinh ra vừa từ tình yêu và từ đức tin. Hai vợ chồng sống đời hôn nhân của mình trong tình yêu và trong đức tin, sẽ tìm thấy cội rễ hôn nhân của mình trong Thiên Chúa, trong Lời Sáng Tạo, và trong tình yêu vô hạn của Ngài. Sự phong nhiêu nơi họ đạt tới sự viên mãn hơn, hoa trái thơm đẹp và chín mùi hơn khi họ hiến dâng chính mình để lo cho sự sống mới, họ hy sinh đời sống mình để lo cho con cái, tuy không được bảo đảm đầy đủ về vật chất tiện nghi, nhưng họ giáo dục đức tin cho con cái và lo cho con cái sự sống đời đời. Vì những đứa con đôi bạn giữ lòng trung thành với nhau và trung thành với Thiên Chúa.

Cha mẹ phải biết hướng dẫn con cái tự do trong Sự thật, có khả năng biết chọn lựa Sự thật. Cha mẹ cần phải biết tôn trọng sự tự do của con cái, tự do chọn lựa, tự nguyện làm bất cứ điều gì, dẫu biết rằng điều này có nguy cơ con cái làm điều sai trái. Vì một khi đã chọn lựa sai lầm, con cái vẫn có khả năng làm lại cuộc đời. Cha mẹ nên giống Thiên Chúa là phải biết nhẫn nại như Thiên Chúa trước sự bất trung của con cái.

Đời sống của một người biết tháp nhập vào Thiên Chúa, đâm rễ sâu vào trong Thiên Chúa, tương quan đậm sâu với Người, gắn bó với Người bằng cầu nguyện, bằng chiêm niệm, bóng của Thiên Chúa sẽ tỏa ra chung quanh người đó và những người khác cũng được hưởng nhờ. Từ nơi họ phát ra tình yêu tự hiến chính mình, tình yêu đó không xa bóng hình của thập giá. Trong hôn nhân, để tình yêu vợ chồng được phong nhiêu theo ý muốn của Thiên Chúa, đôi bạn cần phải có đời sống khiêm tốn cầu nguyện, gắn bó với Thiên Chúa, để hai người có khả năng yêu thương, chấp nhận hy sinh và mở rộng con tim yêu thương, để trong mọi hành vi trong đời sống gia đình đều diễn tả sự hiện diện của Thiên Chúa, gắn bó với nguồn sự sống, xin ơn soi sáng, nỗ lực, quyết tâm đi tìm chân lý, chắc chắn ta sẽ gặp được nguồn sự sống đích thực, cuộc đời ta mới có sự phong nhiêu và trao ban sự phong nhiêu đó đến với mọi người. Đó là, một tình yêu phong nhiêu và dâng hiến.

D. GẶP GỠ ĐỨC KITÔ

Bí tích Thánh Tẩy là nền tảng chung cho mọi Kitô hữu, dù là giáo dân hay giáo sĩ, đều phải sống và thi hành những sứ mạng của mình trong niềm tin vào Đức Kitô. Đức tin là một cuộc gặp gỡ trước khi là một hành động, đức tin là một hành động phải được diễn tả ra, phải dấn thân, trước khi hành động và dấn thân phải là cuộc gặp gỡ, nếu không gặp gỡ thì hành động đức tin bảo ta làm chỉ là một ý chí, nó thuần theo chủ nghĩa luân lý, như cha mẹ bảo con làm cái này cái kia, mà trong trong lòng người con đầy oan ghét thì không thể làm được những gì cha mẹ muốn, người con phải có tình yêu đối với cha mẹ thì người con mới làm được, ở đây xuất phát từ cuộc gặp gỡ với Đức Kitô thì bấy giờ tất cả mọi hành động của ta mới diễn tả được tình yêu, diễn tả được cái trải nghiệm của cuộc gặp gỡ này.

Trước hết ta cần được Phúc Âm hóa, tức là phải có cuộc gặp gỡ Đức Kitô, nếu ta chưa có cuộc gặp gỡ Đức Kitô thì ta không thể sống mầu nhiệm nhập thể, gieo vãi vun trồng hạt giống đức tin, ra đi loan báo tin mừng, đi truyền giáo, làm công việc bác ái được. Những việc ta làm nó xuất phát từ động lực gì? có thể nó xuất phát từ động lực khác chứ không phải vì tình yêu mà ta có từ cuộc gặp gỡ với Đức Kitô, có thể ta tìm danh, hay buộc phải làm để tồn tại trong vị trí hiện tại của ta, nếu ta không làm thì ta không còn đất sống, và còn có rất nhiều động lực khác nữa …. Theo gương Chúa Giêsu, trái tim của ta cần phải được Phúc Âm hóa, nghĩa là phải gặp được Chúa trước đã, rồi từ đó mọi sự khác ta làm nó sẽ mang ý nghĩa.

Tất cả phải được phát xuất từ tình yêu và được yêu, ngay cả những đau khổ cả những thử thách, thì nó mới có ý nghĩa và giá trị. Chúa làm việc rất kỳ diệu mà chẳng lệ thuộc theo một chương trình một ý định nào của con người cả. Có điều là ta có dám dấn thân, dám quảng đại hy sinh, sống tử tế với nhau, và để qua cách sống đó, một cách nào đó Chúa đem tâm hồn này tâm hồn kia đến gặp gỡ Chúa như thế là cơ hội cho hạt mầm triển nở trổ sinh, phần ta là tạo ra những mảnh đất sẵn có để những trái tim được mời gọi đó có mảnh đất để hạt mầm đó được trổ sinh. Đó là cung cách ta làm cách Phúc Âm hóa, chứ ta không phải chủ ý đi thuyết phục từng người, dạy đạo, làm phép rửa cho họ, Thánh Thần làm chứ không phải ta làm, ta chỉ việc tử tế, hy sinh mà không tính toán, tạo những mảnh đất cho hạt giống Tin Mừng Lời Chúa trổ sinh trong tâm hồn người nghe, thế là đủ, ta cứ đi trong niềm tin tưởng. Người giáo dân là những con người sống giữa lòng trần thế, là men, là muối cho đời, làm cho thúng bột cuộc đời được dậy men Tin Mừng, hình ảnh men, muối rất phù hợp với người giáo dân hơn cả, đặc biệt với những người sống bậc hôn nhân.

E. GIÁO DỤC ĐỨC TIN TRONG GIA ĐÌNH

Gia đình là chiếc nôi hạnh phúc, trong gia đình các thành viên được liên kết trên một nền tảng vững chắc là tình yêu mà họ dành cho nhau. Vợ chồng, cha mẹ, con cái hy sinh cho nhau, chia sẻ, nâng đỡ và yêu thương nhau, từ đó tạo nên “Hạnh Phúc” của gia đình. Trong gia đình “bản thân” của mỗi thành viên được đón nhận con người thật của mình, họ chấp nhận nhau và thuộc về nhau từ trong dòng máu của cha mẹ. Nhưng hạnh phúc không phải là điều dễ kiếm tìm, nếu không biết trân trọng cuộc sống, biết trân trọng hạnh phúc gia đình, biết gìn giữ và nuôi dưỡng nó.

“Nhờ ơn bí tích Hôn Phối, cha mẹ nhận trách nhiệm và đặc quyền giáo dục đức tin cho con cái. Cha mẹ là những sứ giả đầu tiên của đức tin, khai tâm cho con về các mầu nhiệm đức tin từ lúc chúng còn nhỏ. Họ phải đưa con cái, hòa nhập vào đời sống của Hội Thánh ngay từ lúc còn thơ bé. Nếp sống gia đình có thể tạo nên những tâm tình tốt đẹp, chuẩn bị và nâng đỡ đức tin sống động cho con trong suốt cuộc đời” (GLCG 2225).

“Cha mẹ phải giáo dục đức tin cho con cái ngay từ tuổi ấu thơ. Việc giáo dục này khởi đầu ngay khi các phần tử trong gia đình giúp nhau lớn lên trong đức tin, nhờ làm nhân chứng bằng một đời sống đạo phù hợp với Tin Mừng.” (GLCG 2226).

“Sứ mệnh giáo dục đòi hỏi các cha mẹ Kitô giáo phải trình bày cho con cái tất cả các đề tài cần thiết để các em từ từ trưởng thành về nhân cách theo quan điểm giáo dục của Hội Thánh” (Familiaris Consortio, số 39)

Trong Năm Đức Tin với trọng tâm là giáo dục đức tin, Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI kêu gọi mọi người tín hữu quan tâm Phúc Âm hóa đời sống mình, hướng đến Phúc Âm hóa đời sống nhân loại hôm nay. Thông điệp đích thực mà Giáo Hội muốn gởi đến các gia đình là các đôi bạn Kitô hữu hãy đem lại cho thế giới chính là niềm hy vọng ơn cứu độ. Các đôi bạn Kitô hữu hãy luôn ý thức rằng: “Hôn nhân là Hội Thánh Tại Gia”, một môi trường tự nhiên đào tạo một nền giáo dục kitô giáo căn bản. Các thành viên trong gia đình dùng Lời Chúa để mở ra con đường Phúc Âm hóa trong đời sống vì Lời Chúa là Lời ban ánh sáng chân lý và tình yêu, ban sức sống mới cùng sự bình an. đó chính là nền tảng để phát triển và nâng đỡ đức tin Kitô giáo cho con cháu.

a) Giáo Dục bằng Gương Sáng

“Lời nói bay nhanh, gương lành lôi cuốn”. Đời sống mẫu mực của cha mẹ từ việc nhỏ đến việc lớn, từ trong gia đình đến ngoài xã hội, từ công việc làm ăn đến cách cư xử trong các mối tương quan và những gương sáng đạo đức rất dễ đánh động tầm hồn con cái, cách sống tế nhị quảng đại, vị tha được tỏa ra từ một đời sống kỷ luật, âm thầm hy sinh, biết chân thành chia sẻ những gánh nặng lo âu, vất vả, cùng kề vai gánh đỡ trách nhiệm với người các thành viên trong gia đình và người khác, biết coi trọng các chiều kích tâm linh hơn là những gì thuộc thể lý và bản năng, sẽ nuôi sống lòng đạo đức sâu sa nơi con cái trong việc giáo dục đức tin và lòng mến yêu tôn thờ Thiên Chúa.

b. Giáo dục bằng đời sống cầu nguyện.

"Sau khi giải tán đám đông, Người đi lên núi mà cầu nguyện, chiều đến Ngài vẫn ở đó một mình" (Mt 14,23). Noi gương Chúa Giêsu các môn đệ của Ngài cảm thấy sự cần thiết của cầu nguyện, và các môn đệ đã xin Ngài dạy họ cách cầu nguyện. Cầu nguyện là sự đối thoại với Thiên Chúa là Cha của mình, chia sẻ các tư tưởng và tình hiệp thông mật thiết giữa Ngài. Chúa Giêsu là mẫu gương tuyệt hảo của việc cầu nguyện, đời sống của Chúa Giêsu là lời cầu nguyện liên lỉ. Khi ta cầu nguyện không cần thiết phải dài lời, hãy nâng cao tâm hồn, cho lòng trí thoát ra khỏi những lao xao của thế sự với những lo lắng và căng thẳng, để tâm an định đi vào cầu nguyện giải bày tâm sự với Chúa, và thiện chí lắng nghe tiếng Chúa và đem thực hành Lời Chúa trong đời sống, cầu nguyện như thế là cầu nguyện trong tinh thần và sự thật.

Cuộc đời là một sa mạc còn nhiều bóng tối, những cám dỗ của sự hưởng thụ vinh hoa thế trần, danh vọng, địa vị, quyền lực, bóng tối của ích kỷ cạnh tranh, những đau khổ của bệnh tật, nghèo nàn của bản thân, gia đình và xã hội, những bóng tối của sự dữ len lỏi vào trong mọi ngõ ngách của cuộc đời. Cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ, cầu nguyện để đức tin thêm vững mạnh, lòng mến được sắt son, cầu nguyện mới nhận ra Chúa vẫn luôn đồng hành nâng đỡ trong mọi biến cố của cuộc đời.

Bằng cách cầu nguyện trong gia đình, cha mẹ không những làm gương cho con cái mà còn đem con cái đến gần Thiên Chúa. Cầu nguyện mỗi ngày và thường xuyên, nhất là cầu nguyện chung với nhau trong giờ kinh gia đình, sau một ngày vất vả lao nhọc hay học hành, cả nhà tạm gác bỏ một bên hết mọi chuyện cùng xum họp nhau trước bàn thờ Chúa trong giờ kinh tối, để múc kín sức mạnh của lòng tin, củng cố tình thân, hoà giải những bất bình. Đây là lúc con cái nhận ra Tình Hiệp Thông giữa các thành viên trong gia đình là một cộng đoàn hiệp nhất và yêu thương. Cha mẹ phải học cách cầu nguyện và hướng dẫn con cái cầu nguyện, để con cái không nhàm chán giờ cầu nguyện mà còn cảm thấy đó là điều cần thiết trong đời sống. Hướng dẫn con cái cầu nguyện cha mẹ cần nhẫn nại và kiên trì, khôn ngoan và cương nghị, cha mẹ đừng mong nơi con cái phải ngoan ngoãn, như thế mới là gia đình hạnh phúc, mà hãy mong rằng cha mẹ cần có một tình yêu quảng đại, một tình yêu nhẫn nại như Thiên Chúa trong việc xây dựng và vun xới hạnh phúc gia đình, đừng buông xuôi khi gặp trở ngại, cha mẹ hãy cứ luôn làm gương sáng trong việc cầu nguyện và phó thác cho Chúa, Ngài sẽ thánh hóa và biến đổi tâm hồn chai đá, hoa trái sẽ trổ sinh qua việc kiên trì cầu nguyện của cha mẹ.

c. Giáo dục bằng sự khiêm hạ và hòa nhập cộng đồng

Trong thân phận làm người, Chúa Giêsu, Ngài đã hiện diện trong mọi thực tại của cuộc sống, những biến cố vui buồn, lo âu và hy vọng của con người, như dự tiệc cưới ở Cana, đám tang ở Naim, thăm thân mẫu lâm bệnh của Phêrô ở Capharnaum, chữa lành bệnh cho đầy tớ của viên đội trưởng, cứu sống con gái của ông trưởng hội đường, làm cho Lazarô sống lại.., Ngài hiện diện với lòng từ bi nhân hậu, với tình yêu thương đồng cảm và phục vụ cho đời sống con người.

Phân cực cộng đồng luôn có đặc tính là mang một bầu khí yêu thương, tương quan của tôi với gia đình, đồng bào, đồng loại của tôi. Tôi luôn hiện diện cùng lúc với cộng đoàn giao hữu đó. Cho nên gia đình còn lại một thực tại tôn giáo, và được nguồn trợ lực từ Thiên Chúa. Đừng bao giờ kiêu hãnh những gì ta đang có. Trước khi ta có ngày nay là ta đã nhận rất nhiều qua bao nhiêu con người từ cha mẹ dạy bảo truyền thống tốt đẹp từ gia đình, kế đến từ linh mục, hàng xóm, đồng nghiệp và những gương mẫu của bao người thân, nếu gia đình ta có hạnh phúc đó là ta đã nhận của bao nhiêu người mà ta không ý thức, đó là chưa nói đến vật chất như cơm ăn, áo mặc, nhà cửa, chiếc xe, tiền bạc v…v… Ta nhận nhưng không của bao nhiêu người đã đổ mồ hôi cho ta từ hạt lúa cho cơm ăn, miếng vải cho áo mặc, viên gạch cho xây nhà của biết bao nhiêu công nhân hy sinh thầm lặng phục vụ cho từng khía cạnh của cuộc đời ta một cách vô cầu. Ta cần thinh lặng để nhận ra chân giá trị này, đó là tỉnh thức, đó là cầu nguyện vì đó là chân lý, là sự thật, nếu ta không sống trong ý thức này thì ta sẽ mãi mãi sống trong u minh lầm lạc.

Là Kitô hữu, ta có niềm tin vào Thiên Chúa, ta chỉ tìm thấy bình an khi ta biết đón nhận sự khác biệt của những ngôi vị chung quanh ta, tất cả đều nằm trong kế hoạch của Đấng Tạo Hóa. Còn khi ta không biết tiếp nhận mọi sự theo ý muốn của Ngài, sống tách ra khỏi ý muốn của Ngài là ta sẽ cảm thấy bất an và làm nô lệ cho tội lỗi, cho chính thân xác yếu hèn của chúng ta. Nhưng con người luôn bị cám dỗ quay về với chính mình, cám dỗ khép kín chỉ biết đến cái “tôi”, dường như nó là hệ lụy của tội nguyên tổ, xu hướng đó khi lớn lên có khả năng sinh ra tội lỗi, khi con người chỉ biết lấy cái “tôi” của mình làm trung tâm của vũ trụ. Như thế, con người vẫn còn sống trong sự nô lệ, xiềng xích. Để không sống trong xiềng xích, nô lệ, con người cần phải biết hướng về người khác, biết chia sẻ nỗi đau hoặc niềm vui của người khác. Cái “tôi” cần được khắng định nhưng cũng cần biết nhìn nó trong các mối tương quan với người khác. Ta cần ý thức những cám dỗ khép kín, biết cảm nhận, ý thức và biết ơn cộng đồng và xã hội mà ta đang sống.

Như thế, tình yêu đôi bạn kitô hữu, họ không chỉ sống cho nhau, họ vui vẻ dấn thân phục vụ cho cộng đồng mà họ đang được sống trong bầu khí yêu thương. Ngay cả những đôi bạn hiếm muộn, tình yêu của họ cũng trở nên phong nhiêu khi họ biết quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ, yêu thương, lo lắng cho người khác. Nếu đôi bạn Kitô giáo biết hướng ra bên ngoài, cởi mở tâm hồn, hòa nhập vào cộng đồng xã hội mà mình đang sống và coi đó chính là môi sinh của gia đình thì đó chính là mầu nhiệm của sự sống. Đôi bạn cũng phải biết phát triển làm cho tình yêu của mình được nảy nở xum xuê, lớn lên trong đức tin, nối kết trong cộng đoàn Hội thánh theo nghĩa hữu hình là những người đón nhận năng quyền từ các tông đồ để tình yêu của mình được phát triển, được lớn lên trong Đức Kitô.

Ai cũng phải tham gia vào mầu nhiệm hiệp thông trong Hội thánh, phải đấu tranh để vượt qua sự khép kín, để sống mầu nhiệm hiệp thông này. Chúa Giêsu mời gọi đôi bạn trở nên phục vụ, đôi bạn tham gia vào Hội thánh, vào cộng đoàn địa phương trong tư cách cá nhân họ phục vụ lẫn nhau và phục vụ cho người khác. Họ sống mầu nhiệm tha tính, mầu nhiệm vượt trên sự khác biệt, tôn trọng sự khác biệt của nhau, yêu nhau trong hiệp thông, chừng nào ta chưa chấp nhận đau khổ thì ta chưa sống trong mầu nhiệm hiệp thông này. Để sống được mầu nhiệm hiệp thông phong nhiêu với tư cách cộng đoàn. Đôi bạn phải sống lời trăn trối của Đức Giêsu là phục vụ - yêu thương và rửa chân cho nhau. “Nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13, 14 – 15)

Vì thế, trách nhiệm của các bậc làm cha mẹ là giáo dục con cái biết nghĩ đến người khác. Hạnh phúc của con người ở hệ tại mối tương quan giữa cái “tôi và chúng ta”. Nhưng ngược lại, nếu chỉ biết nhìn đến cái “chúng ta” mà không biết đến những cái “tôi”, những cá nhân trong cộng đồng thì tương giao đó cũng trở nên cực đoan. Một bầu khí yêu thương và hạnh phúc là biết hài hòa giữa cái “tôi” và cái “chúng ta”. Vì tình yêu đích thực luôn luôn mang trong mình chiều kích xã hội và chiều kích mầu nhiệm, nội tại ở bên trong sự hiện diện của Thiên Chúa được cụ thể hóa qua các hành động yêu thương và phục vụ.

d. Giáo dục bằng cách đồng hành cùng con cái

Trong cuộc đời rao giảng, Chúa Giêsu luôn đồng hành cùng các môn đệ hướng dẫn, dạy dỗ, soi lòng mở trí cho các ông hiểu biết về mầu nhiệm Nước Trời. Sau cái chết đau thương khổ nhục của Chúa Giêsu, các ông hoang mang lo sợ, chán nản và tuyệt vọng. Ngài lại hiện ra đồng hành với các môn đệ thân yêu của mình để củng cố niềm tin, soi sáng tâm hồn các môn đệ hiểu biết về mầu nhiệm thập giá. Ngài hiện đồng hành với Maria Madalena như một người làm vườn, với hai môn đệ đi về làng Emmaus, Ngài xuất hiện đồng hành như khách bộ hành, để khích lệ các ông đang âu sầu, nản chí. Với các môn đệ chài lưới, Ngài xuất hiện đồng hành như một tay lưới chuyên nghiệp đầy kinh nghiệm biết được đường đi nước bước của đàn cá, giúp các ông đánh được mẻ cá lớn.

Trong sứ mạng hôn nhân, con cái là hồng ân và là lời chúc lành của Thiên Chúa nguồn mạch mọi sự phong nhiêu.“Này con cái là hồng ân của Chúa, con mình sinh ra là phần thưởng Chúa ban.” (Tv 127,3). Như thế, qua sự chúc lành của Thiên Chúa. Con người trong tư cách lứa đôi, được tín thác một trách nhiệm làm đại diện Đấng Tạo Hóa, hợp tác với Ngài bằng cách tiếp tục công trình sáng tạo của Ngài, sinh sản, nâng đỡ và phát triển sự sống. Cha mẹ phải là người thay mặt Thiên Chúa nơi trần gian này nuôi dưỡng và giáo dục con cái theo Luật Chúa Kitô và Hội Thánh.

Trong hoàn cảnh chung của các gia đình Kitô giáo ngày nay đang đối diện quá nhiều thách đố trong đời sống, thực sự đang gặp khủng hoảng lớn về đức tin. Một phần do chủ nghĩa tục hoá, đánh giá mọi vấn đề trong đời theo nấc thang vật chất, nhu cầu hưởng thụ vật chất và sống buông thả đang chi phối đời sống, một phần do nhiều bậc cha mẹ cũng lơ là trong việc giáo dục đức tin cho con cái, đã làm nhiều lớp người trẻ ngày nay không còn quan tâm đến việc sống đức tin và thực hành tôn giáo. Con người nói chung và các bạn trẻ nói riêng ngày nay đang bước đi trong tình trạng tranh tối tranh sáng, không biết đâu là thần khí, đâu là sự dữ. Là người Kitô hữu sống có niềm tin, ta cần phải có khả năng phân định đâu là dối trá, đâu là sự thật.

Vì thế, cha mẹ cần mở rộng tâm hồn cùng đồng hành với con cái trong cuộc sống nâng đỡ, hỗ trợ, khuyến khích cùng sánh bước trên hành trình đức tin, đặc biệt trong những nấc thang quan trọng trong cuộc đời của con cái, như giai đoạn ở lứa tuổi phát triển tâm sinh lý, chọn trường học và ngành nghề, định hướng tương lai, nhất là giai đoạn chuẩn bị hôn nhân, là một trong những hình thức hỗ trợ đắc lực nhất giúp con cái có thể kiện toàn bản thân, tìm lại sự thăng bằng, lấy lại niềm tin, thay đổi lối sống, tìm lại được sự hứng khởi trong đời sống nhân bản và tâm linh.

Ngoài ra, cha mẹ cũng cần nhận biết những mối nguy hiểm có nguy cơ đang lôi kéo con cái khó tránh được sự cám dỗ. Như sự lôi kéo của internet mà ta thấy nhan nhản các dịch vụ này đã đi vào trong mọi xóm ngõ, ta nhìn nhận tính ưu việt của internet trong việc giúp con người mở mang kiến thức, cũng như nối kết tri thức và quan hệ của con người trên thế giới xích lại gần nhau hơn. Tuy nhiên, ảnh hưởng tiêu cực của internet cũng không nhỏ trên lớp người trẻ, như nghiện game online, những game bạo lực, giết chóc, làm biến đổi bản chất thành một con người chai sạn tình cảm. Những trang web đen, những hình ảnh dung tục làm hoen ố tâm hồn, từ đó giới trẻ lệch lạc trong cách nhìn về giới tính và tình yêu. Hậu quả của nó thì thật khôn lường mà trên các phương tiện truyền thông báo chí đã đưa tin và cảnh tỉnh, là nỗi đau của xã hội và các gia đình, mà người gánh chịu trước tiên là chính các em và cha mẹ các em.

Thế giới ngày nay đang sống trong nền văn hóa của sự chết, đối nghịch hoàn toàn với ánh sáng Tin Mừng Lối sống thực dụng trong xã hội hưởng thụ đậm chất dung tục trong lối sống. Rượu chè, cờ bạc, cá độ, tổ chức vũ hội cuồng loạn, mại dâm, lăng xê, tôn vinh những “thần tượng” ca nhạc, điện ảnh đề cao danh vọng và lối sống thực dụng, còn giá trị đạo đức thì xem nhẹ, không thực sự hướng đến chuẩn mực chân thiện mỹ. “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, gương xấu ở đây, là những lời nói và hành động có tác dụng khuyến khích hay xúi giục giới trẻ làm những việc đánh mất nhân phẩm và có hại cho đời sống tâm linh.

Cha mẹ có những hiểu biết qua trải nghiệm thăng trầm của cuộc sống, qua kinh nghiệm sống đức tin cần đồng hành với con cái trong mọi vấn đề liên quan đến con cái, ngôi trường con đang theo học, bạn bè của con, những giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của con, cha mẹ cần phải quan tâm để kịp thời chấn chỉnh, không để con mình rơi vài tình trạng nghiện ma túy, sa đọa trác táng trong lối sống. Giả sử như con cái có bị rơi vào tình trạng nghiện ngập sa đọa, khủng hoảng tinh thần và mất niềm tin trong cuộc sống, cha mẹ đừng vì sĩ diện mà hất hủi, bỏ rơi con cái. Trong thực tế, có những bậc cha mẹ đã bỏ rơi, hất hủi những đứa con ngỗ nghịch, hư đốn vì đứa con ấy đã làm ô danh truyền thống đạo đức của gia đình. Truyền thống đạo đức gia đình là đáng quý, nhưng để cứu vớt một linh hồn thì điều nào đáng quý hơn? Mà linh hồn ấy lại là chính đứa con mà Thiên Chúa ban tặng cho ta, đòi buộc ta phải có bổn phận và trách nhiệm về phần rỗi của nó. Vậy, vì truyền thống đạo đức gia đình mà chối từ một người con ngỗ nghịch là tội hay phúc? Trái lại, với những đứa con ngỗ nghịch ta càng phải cần đồng hành với con sâu sát hơn nữa, cần tế nhị và nâng đỡ tinh thần và trợ giúp tâm lý cho con cái sớm lấy lại quân bình nội tâm. Đây chính là thánh giá cuộc đời do hoàn cảnh gây nên, cha mẹ lúc này chính là những Simon thời đại, sẵn sàng quảng đại chia sẻ gánh nặng với con cái, để con cái không cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, sinh ra chán nản, tuyệt vọng, buông trôi cuộc đời.

Để đồng hành trợ giúp cho con cái, cha mẹ cần tích lũy cho mình một số kiến thức nhất định, kiến thức về đức tin, về giáo hội, về Thiên Chúa, về xã hội và về tâm lý con người, cha mẹ cần dành thời gian tìm hiểu, đào sâu những kiến thức này, theo tài liệu sách vở đạo và đời, bên cạnh những kinh nghiệm sống đức tin. Đào sâu những hiểu biết đó theo nhãn quan đức tin, cũng như nhãn quan khoa học, để có được cái nhìn thấu đáo và giá trị chân chính, giúp con cái đi đúng hướng, làm cho đời sống gia đình và con cái trở nên tốt đẹp hơn.

Lòng quảng đại của cha mẹ đối với con cái kéo theo sự hy sinh vô bờ bến, con cái là dấu chỉ cụ thể nhất của sự phong nhiêu của tình yêu vợ chồng, nhưng cha mẹ không chiếm hữu con cái cho riêng mình, mà luôn ý thức rằng trước khi đứa con này là con của mình, thì nó đã là con của Chúa. Thiên Chúa mới là người cha tuyệt đối của đứa con này. Điều đó gần như là một sự thánh hiến hiệp thông của vợ chồng trong Bí Tích Hôn Nhân, dâng hiến vô điều kiện trong một tình yêu đích thực.

e. Giáo dục qua nghịch cảnh và đau khổ

Trong vườn cây dầu trước gánh nặng tội lỗi của toàn thể nhân loại, Chúa Giêsu cảm thấy xao xuyến đau buồn trong cảnh cô đơn cùng cực, Ngài đã phục xuống đất và tha thiết cầu xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này” (Mt.26:39). Trong thân phận con người, Chúa Giêsu đã đi trọn kiếp nhân sinh mang nặng những nỗi bận tâm và lo âu, đau buồn và hy vọng, yêu thương và phục vụ, đồng thời khi đối diện với những thử thách, với đau khổ ở mức độ tột cùng của mọi nỗi cô đơn, cô đơn bị các môn đệ bỏ rơi, mà dường như cũng bị Cha bỏ rơi chính Con mình, một sự trống rỗng mênh mông hoàn toàn vắng bóng Thiên Chúa. Chịu cực hình tàn bạo, chịu sỉ nhục, chịu lột trần trụi trên thập giá, tiếng than thở của Ngài đã vang lên từ sâu thẳm: “Lạy Cha, lạy Cha, sao Cha bỏ con? (Mc 15, 34). Trong giây phút đau khổ tột cùng ấy, Ngài đã sống một cách trọn vẹn trong tình yêu, qui hướng mọi sự về Cha, tín thác tất cả nơi Cha, hiến dâng mạng sống mình trong tay Cha, để thánh ý Cha được nên trọn: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23, 46). Và Ngài đã hoàn tất chương trình cứu chuộc nhân loại để đem lại sự sống cho nhân loại và mỗi người chúng ta.

Thông thường, khi con người phải đối diện với những nghịch cảnh, thì đau khổ và lo sợ, người thì phản ứng chống trả như Phêrô ngăn cản Chúa tiến về Giêrusalem, chối Chúa 3 lần trong cuộc tử nạn, kẻ thì thỏa hiệp trục lợi và tuyệt vọng như Giuđa, kẻ khác buồn rầu, nản chí bỏ cuộc như 2 môn đệ về quê làng Emmau, tất cả chỉ vì không tin tưởng và làm theo lời Chúa Giêsu đã giảng dạy và tiên báo.

Chúa Giêsu đã nói: “Ngày nào có cái khổ của ngày đó” (Mt 6, 34). nghĩa là ở đâu, ngày nào cũng có những khổ lụy của nó. Đau khổ tự nó chẳng có giá trị gì, nhưng chính là thái độ của người chịu đau khổ đã làm cho đau khổ có giá trị và có công phúc. Ta phải chấp nhận những thăng trầm, sự may rủi trong cuộc đời vì đó là thân phận của chúng ta, chính cái đó ta cảm nhận được, hòa nhập được sự thánh thiêng của Thiên Chúa, lúc đó ta mới thành “thánh”, không phải bản thân ta là thánh nhưng vì ta chạm được sự thánh thiện của Thiên Chúa vô hình.

Muốn chạm đến sự thánh thiện của Thiên Chúa vô hình, ta đừng chạy trốn, vui buồn của cuộc đời, đừng chạy trốn mọi thăng trầm cuộc sống. Khi ta phải chứng kiến chịu đựng sự buồn thảm, sự đau khổ, sự thất vọng, đó là sóng đời, là dấu chỉ mầu nhiệm thập giá. Thân xác ta bây giờ còn khỏe mai này đột quỵ, rồi đi vào cõi vĩnh hằng, ta không biết được ngày mai, nhưng ta biết được đó là chuyện bình thường của thân phận đời sống con người, ta không chạm được những điều này thì ta không chạm được Thiên Chúa. Vì thế, những khi gặp đau khổ, ta đừng bao giờ phàn nàn, kêu trách Chúa, cũng đừng bao giờ nguyền rủa mình, than thân trách phận, chán nản, buông xuôi, nhưng hãy đón nhận và nâng đỡ nhau, nhất là hãy tin tưởng, cậy trông và gia tăng cầu nguyện xin Chúa trợ giúp, vì Chúa đã nói: "Hãy đến với Ta tất cả, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi.”. (Mt 6,11, 28)

Những người luôn tìm kiếm sự thỏa mãn về giác quan, về ý riêng, người đó đang sống trong ảo tưởng. Phải chạm được những thăng trầm của hoàn cảnh trong cuộc sống hằng ngày, ta không chạy trốn cuộc đời được, ta muốn chạm đến Thiên Chúa, muốn chạm đến sự thánh thiện của Ngài thì phải xuyên qua những con sóng thăng trầm của cuộc sống này.

Nhờ đức tin mà Thiên Chúa ban cho ta nhận ra chân giá trị của mọi đau khổ, mọi thử thách trong cuộc đời, giúp ta sẵn sàng đón nhận và vượt thắng để vươn tới một mục đích và ý nghĩa cao cả hơn. Trong niềm tin tưởng và phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa ta có thể cảm nghiệm thấy sự hiện diện đầy tình yêu thương của Thiên Chúa và mở ra cho ta một lối thoát, một hướng đi mới cho cuộc đời. Đôi khi đau khổ lại tiếng nói của Thiên Chúa mời gọi ta bước ra khỏi một hoàn cảnh, một lối sống có nguy hại đến sự sống đời đời. Ta cần tỉnh táo, sáng suốt nhận ra và giải quyết mọi thử thách trong niềm tin tưởng và cầu nguyện để sẵn sàng đón nhận những hồng ân mới trong một hoàn cảnh sống mới, cần khiêm tốn cầu nguyện để xin ơn đức tin và lòng kiên nhẫn.

Đừng nghi ngờ sự hiện diện của Thiên Chúa, Ngài vẫn có đó như mặt trời vẫn soi sáng mỗi ngày, nắng mưa vẫn ban xuống cho kẻ lành người dữ, nhưng bóng đêm tội lỗi của ta và của nhân loại đã che khuất ánh sáng tình yêu và sự hiện diện của Thiên Chúa là Tình Yêu, Đấng giàu Lòng Thương Xót. Qua đau khổ ta đến gần Thiên Chúa hơn và đón nhận được sức mạnh từ nơi Ngài để làm cho cuộc sống của ta thêm phong phú và cũng là một cách mà Thiên Chúa mời gọi ta tham dự vào chương tình cứu độ của Ngài. Như lời Chúa Giêsu đã nói: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo (Lc 9, 23).

Cha mẹ giáo dục đức tin cho con cái qua việc từ bỏ chính mình để chu toàn bổn phận, vác thập giá mình trong nghịch cảnh và đau khổ là cách giáo dục đức tin tuyệt vời và thật ý nghĩa. Vì khi con cái nhìn thấy sự cam đảm, sự hy sinh, sự nhẫn nhục chịu đựng của cha mẹ trong nghịch cảnh và đau khổ cao hơn mức bình thường, chúng sẽ cảm nhận ra được “điều gì đó” đã làm cho cha mẹ chấp nhận được như vậy?. Chúng sẽ thắc mắc, tìm hiểu và nhận ra. Chính tình yêu dâng hiến, từ bỏ chính mình, vác thập giá mình của người cha/người mẹ mà con cái nhận ra tình yêu Thiên Chúa đang hiện diện trong cuộc sống này. Ngay cả khi cuộc hôn nhân đó bị méo mó, xộc xệch, nơi người cha/người mẹ đó vẫn sống đức tin và nuôi dưỡng đời sống đạo hạnh qua các việc tham dự Phụng Vụ, kinh nguyện, chu toàn bổn phận với lòng quảng đại và khoan dung thì ngọn lửa đức tin vẫn còn âm ỉ cháy chứ không tắt ngúm, khi có cơ hội thuận tiện thì ánh lửa đức tin ấy sẽ lại bùng sáng lên. Thái độ trực diện với đau khổ, với nghịch cảnh và sẵn sàng ẵm lấy nó, đón nhận nó bằng con tim yêu thương, có khi phải hy sinh chính bản thân mình lúc đó là ta được giải thoát cùng tham dự vào tự do của Thiên Chúa, lúc đó ta nếm cảm được sự ngọt ngào khi đã can đảm uống cạn chén đắng của cuộc đời. Ta không đi tìm đau khổ nhưng ta cũng không tránh né đau khổ mà sẽ dùng tự do của mình mà đón nhận nó bằng con tim yêu thương. Đau khổ trong yêu thương là đau khổ được cứu chuộc.

- Người viết có biết một gia đình nọ có 9 người con, cuộc sống gia đình có nhiều khó khăn và sóng gió, cuộc hôn nhân của 2 người cũng đã nhiều lần rạn nứt, người vợ cứ bỏ đi một thời gian, vài tháng có khi là vài năm rồi lại quay về (ít nhất là 3 lần), người chồng vẫn nhẫn nại yêu thương đón nhận và tha thứ. Cuối cùng người vợ đã trở về thật sự và thật lòng với gia đình. Sau này người vợ lại thêm một lần ra đi, lần này là ra đi mãi mãi về bên kia thế giới trong vòng tay yêu thương của chồng và các con. Lòng quảng đại hy sinh, nhân hậu khoan dung của người cha, lúc dầu các con chưa hiểu, nhưng dần dần các con đã hiểu. Qua hình ảnh của người cha trần gian đã nêu gương, đã sống một tình yêu cao hơn mức bình thường mà các con đã nhận ra được sự hiện diện của Người Cha trên trời ngay chính trong gia đình, đó là tình yêu mang chiều kích cứu độ. Nhờ đó mà 3 trong 9 người con cũng muốn sống với tình yêu cao đẹp đó, và đã dâng hiến đời mình trong ơn gọi tu trì, không phải vì ngán ngẩm hay sợ hãi đời sống hôn nhân mà qua cách sống của người cha, các con nhận ra còn có một tình yêu cao hơn, tình yêu dâng hiến trong mầu nhiệm thập giá hằng ngày để cùng tham gia vào chương trình cứu độ tha nhân.

Ta không đề cao đau khổ, không đi tìm đau khổ, nhưng chính trong đau khổ ta có cơ hội gặp gỡ Thiên Chúa, chạm được Thiên Chúa. Khi bị Dân riêng cũng như con người ngày nay phản bội lòng Giavê đớn đau, quặn thắt. Ngày nay tham gia vào Lòng Thương Xót Chúa là ta tham gia vào sự quặn thắt, đớn đau và biết tha thứ như Thiên Chúa khi bị phản bội. Ta có chấp nhận chạm sâu vào nỗi đau, ta mới nhận ra Thiên Chúa cũng đang đau khổ trong các cuộc hôn nhân xộc xệch, méo mó và dị dạng. Trong đời sống của kiếp người ai cũng có kinh nghiệm về thập giá. Thập giá còn là phương thế cho sự trưởng thành, là một cuộc vượt qua bắt buộc đối với mọi đôi bạn nếu muốn sống sự hiệp thông vợ chồng cách nghiêm túc.

Để khám phá ra ý nghĩa của đau khổ, ta cần phải có những giờ khắc chiêm niệm, cầu nguyện với Thiên Chúa. Cầu nguyện và chiêm niệm để nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời, đang đồng hành với ta trong hành trình của hai vợ chồng qua những công việc nhỏ nhặt hằng ngày. Dù đời sống hôn nhân còn nhiều sóng gió, những mối bất ổn vẫn còn tồn tại, làm sao mỗi cá nhân cần phải trở thành một “đan sĩ” ngay trong đời sống vợ chồng, ngay trên giường hợp cẩn. Như Bà Madeleine Delbrêl, một nữ giáo dân Pháp đã nói: "Chúng tôi cũng là những người chiêm niệm, những người chiêm niệm bên vệ đường" (au bord de la route). Làm sao ta có thể nhận ra được Thiên Chúa, làm sao ta có thể chạm được Ngài nếu ta không đi vào đời sống chiêm niệm giữa đời thường. Thiên Chúa đã đi vào lịch sử, đã đi vào đời sống con người, Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô đã chết và phục sinh luôn ở cùng chúng ta, không những trong sự cứu độ, trong sự phục sinh, trong niềm vui, trong ánh sáng mà còn trong nỗi nhọc nhằn hằng ngày, cả ở trong hoàn cảnh tối tăm ảm đạm và đau khổ.

Để kín múc được sức mạnh, nuôi dưỡng đức tin trong những nghịch cảnh và đau khổ, ta cần năng đến với Chúa Giêsu hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể, và nơi Nhà Chầu Thánh Thể để chiêm ngắm và cảm nghiệm Tình Yêu Thập giá Chúa Giêsu đã hiến thân, yêu thương đến cùng của Ngài dành cho nhân loại và mỗi người chúng ta, học hỏi nơi Ngài Bài Học Yêu Thương và Tha Thứ. Qua đó, để ta cũng hiểu được sâu xa hơn mầu nhiệm thập giá của đời mình và của mọi người, đồng thời khám phá ra ý hướng và cách thức mà Chúa cho phép đau khổ xảy đến với ta, để nhờ đó, ta biết đón nhận mà tận dụng mọi đau khổ hầu được thông phần đau khổ với Chúa mà thánh hóa đời mình và lấy sức bước theo Ngài trong cuộc hành trình đức tin.

Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống, ta càng chạm sâu vào cái vô thường là ta được chạm đến Đấng Thường Hằng, đến cái vô biên nơi Thiên Chúa, ta đừng tránh né những thực tại thường ngày, những đau khổ xảy đến trong đời, ta càng phải chạm thật sâu vào chính cái đau khổ đó để nhận ra Tình yêu và Thánh ý của Thiên Chúa. Trong hôn nhân các đôi vợ chồng đều không ngừng trải nghiệm sự chết đi và sống lại. Chính khi vợ chồng sống mầu nhiệm thập giá bằng tất cả niềm tin và tình yêu, hiệp thông với Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Giêsu Kitô thì sẽ bước vào mầu nhiệm của ánh sáng Phục Sinh và cùng bước theo Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh, nơi cuộc sống của họ sẽ tỏa lan một tia nắng ấm áp và tốt lành của Thiên Chúa truyền đến mọi người xung quanh.

III. KẾT: ĐỒNG HÀNH CÙNG THẦN KHÍ

Hiến chế Ánh sáng Muôn dân, số 2, quảng diễn: “tất cả các phần tử của dân Chúa đều tham dự, mỗi người tùy theo mức độ riêng, vào ba chức phận tư tế, tiên tri, và vương giả của Ðức Kitô, gắn liền với đạo lý ấy là giáo lý về các nghĩa vụ và quyền lợi của tín hữu, đặc biệt là của giáo dân, sau cùng sự dấn thân vào phong trào hợp nhất Kitô giáo”. Như vậy, chân dung của người giáo dân đã được phác họa rõ nét qua vị trí của họ trong giáo hội, giáo dân thuộc thành phần của Dân Thiên Chúa là Thân thể Mầu Nhiệm Chúa Kitô. Nói cách khác là qua giao ước của Bí Tích Rửa Tội và giao ước của Bí Tích Hôn Phối được đặc thù hóa bằng một tư cách mới không còn là một cá nhân mà là một đôi để xây dựng một đơn vị cho thân mình của Giáo Hội đó là Gia Đình. Và giáo dân được bình đẳng với mọi thành phần khác về vị trí và giá trị như bất cứ thành phần nào trong Thân Thể Mầu Nhiệm Chúa Kitô. Họ luôn luôn gắn kết với Thiên Chúa và bản chất của Giáo Hội khi sống với 3 chiều kích MẦU NHIỆM – HIỆP THÔNG – SỨ VỤ.

- Chiều kích mầu nhiệm: Qua bí tích Hôn Phối, đôi vợ chồng Kitô hữu trở thành bí tích của tình yêu Thiên Chúa. Cả cuộc sống của họ là cử hành bí tích, đôi vợ chồng Kitô hữu không chỉ làm phép cưới một lần trong nhà thờ mà còn tiếp tục là một bí tích bằng cả cuộc sống của họ. Được liên kết với Đức Kitô hưởng trọn vẹn phẩm giá của Kitô hữu, được thông dự vào ba chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô, họ cũng bắt chước Ngài để trở thành hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình. Họ được mời gọi để không ngừng cởi bỏ con người cũ của tội lỗi để mặc lấy con người mới trong Đức Giêsu Kitô, để ngày qua ngày họ đạt được tầm vóc viên mãn của Ngài, lúc đó đời sống vợ chồng mới phản ánh Tình Yêu Thiên Chúa, đó chính là yếu tố Mầu Nhiệm Hôn Nhân

- Chiều kích hiệp thông: Trong giao ước hôn nhân, người nam và người nữ "không còn là hai, nhưng là một xương thịt" (Mt 19, 6), đôi bạn chấp nhận sự khác biệt trong mối tương quan vì nó sẽ dẫn hai người đến một tình yêu đích thực là trở nên một, chấp nhận người kia như chính họ và ở lại với họ, khi chấp nhận người kia là chấp nhận hy sinh cho nhau, chấp nhận thánh giá, đó chính là tình yêu. Tình yêu hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa, giữa gia đình và cộng đồng xã hội, giữa loài người và các loài thụ tạo, trách nhiệm chăm sóc bảo vệ môi trường của con người. Biết chia sẻ cho nhau trong tương giao vợ chồng, cha mẹ, con cái trong chiều kích hiệp thông con cùng Cha trên trời, đó là chiều kích sâu nhất trong mọi tương giao trong cuộc đời, làm cho Tình Yêu Ba Ngôi Thiên Chúa khác biệt, yêu thương, hiệp thông hiện diện giữa thế trần này. Ba ngôi Thiên Chúa không ở trên cao để rồi không biết nỗi khổ của nhân loại. Trái lại, Ngài vẫn đồng hành, vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của nhân loại cũng là của Ngài được cưu mang nơi chính Dân của Ngài, đó là Giáo Hội, đó là chúng ta, những gia đình Kitô giáo, những người tin Chúa.

- Chiều kích sứ vụ: Người giáo dân sống bậc hôn nhân sống chiều kích sứ vụ, khi ta biết mở lòng ra, nhìn tới các gia đình bên cạnh, nhìn đến những con người vô gia đình, họ không được may mắn như ta, có được hạnh phúc như ta để có được một bầu khí gia đình, họ không có cơ hội sống hình ảnh của Ba Ngôi Thiên Chúa một cách cụ thể, ta mở lòng để đón nhận họ vào trong vòng tay, đó là ý nghĩa của Giáo Hội, luôn luôn họ phải nghĩ đến những người thiếu may mắn đó là sứ mạng của gia đình là giáo hội tại gia. Nếu có một ai đó trong gia đình mình chưa biết Chúa, có thể người đó là con dâu, con rể, người giúp việc, hay một người bạn nào đó hoặc ngay cả người bạn đời mình chưa nhận biết Chúa. Ta sống sứ vụ Phúc Âm hóa bản thân ta và thi hành hằng ngày trong gia đình tức là ta truyền đạt giá trị cụ thể bằng hành động sống cho con cái, cho người thân qua hành động yêu thương hy sinh cho nhau là hành động rao giảng Tin Mừng thuyết phục nhất. Ngoài ra, người giáo dân cũng tham gia vào sứ mạng của Giáo Hội trong thế giới, những nơi mà Tin Mừng chưa thấm nhập, những môi trường ngoài Kitô giáo, những môi trường phản kháng, chống đối Kitô giáo, đặc biệt những nơi mà hàng giáo sĩ, linh mục khó hoặc không thể đến được.

Thiên Chúa rất cao nhưng Thiên Chúa cũng rất gần trong gia đình, đừng bao giờ đánh mất khoảng cách giữa ta và Thiên Chúa Ba Ngôi, ai không thâu ngắn khoảng cách này sẽ trở nên lạc đạo. Ta dễ bị rơi vào tình trạng phiếm thần khi nhìn thấy cái gì cũng là thần, thấy cây đa, cục đá cũng cho là thần. Ngày nay tình trạng cám dỗ nguy hiểm nhất đó là “thần thánh hóa” các linh mục, đồng hóa các linh mục với thần thánh. Chúng ta đi tới trong một niềm hy vọng, hy vọng có cơ sở của niềm tin, ta hy vọng về Nước Trời không xa lạ, nó bắt đầu từ trong gia đình, nó không bắt đầu từ những quyết định to lớn trừu tượng, nhưng nó bắt đầu từ một quyết định cụ thể nho nhỏ. Như thế, toàn thể đời sống vợ chồng có thể trở thành một “cảnh vực thần học”, nghĩa là một nơi đặc biệt cho sự biểu lộ và gặp gỡ Thiên Chúa, nơi Thiên Chúa đồng hành với chúng ta, cả khi ta kinh nghiệm những tiêu cực trong cuộc sống như khi gặp đau khổ, bất lực, giới hạn và tội lỗi. Kinh nghiệm tâm linh phải được đón nhận bằng đức tin. Chừng nào ta chưa đón nhận trong đức tin thì ta là vẫn là kẻ ngoại đạo, một kẻ ngoại đạo được rửa tội.

Trong bí tích Hôn Phối tất cả mọi sinh hoạt trong đời sống vợ chồng và gia đình đều được nâng lên như dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa và công cuộc cứu rỗi của Ngài. Dù không rao giảng, hai vợ chồng cũng là những tông đồ sống động của tình yêu Thiên Chúa, là men, là muối cho đời, thánh hoá trần thế qua tình yêu và qua cuộc sống của họ. Qua tình yêu ấy, họ trở thành dấu chỉ hữu hình của Thiên Chúa vô hình. Họ trở thành cung thánh của Thiên Chúa Tình Yêu. Họ là dấu chứng và là lời ngỏ cho mỗi người rằng: Thiên Chúa Tình Yêu hiện hữu.

Đấng nối kết ta với Chúa Cha, Chúa Con chính là Thần Khí, Thần Khí là Thánh Thần Tình Yêu là Đấng tác sinh sự sống, chính là năng lực khi ta ngồi cầu nguyện lâu giờ Chúa rót vào trái tim ta, để ta trở nên dấu chỉ, bí tích của Chúa. Ta có làm được một chút gì cũng là nhờ Thần Khí, nghĩa là nội lực và tha lực quyện vào nhau trong những hành động của người Kitô hữu để thể hiện MẦU NHIỆM – HIỆP THÔNG và SỨ VỤ trong cuộc đời.

Thiên Chúa ở đâu? Để trả lời câu hỏi ấy, có lẽ người tín hữu nên chỉ vào một đôi vợ chồng công giáo. Nơi nào có hai vợ chồng công giáo yêu thương nhau, nơi đó có Thiên Chúa. Chính vì thế, đôi bạn kitô hữu sống giao ước Bí Tích Rửa Tội và Bí Tích Hôn Nhân phải luôn ý thức rằng: Gia đình là Hội Thánh tại gia, là ngôi trường giáo dục đức tin cho con cái.

AP. Mặc Trầm Cung

Đọc nhiều nhất Bản in 02.01.2013. 17:12